Cầu Sắt Sông Dinh năm 2000 - Nguyễn Văn Thành
Trang Thơ & Truyện: Bích Phượng               |                 www.ninh-hoa.com



 Trần Đức Tuyết Tiên
Bút hiệu:
Bích Phượng, Tiểu Vũ Vi, Thụy vi,
Diễm Vi, Nhă Khanh


 Sinh quán: Sài G̣n

 Trú quán: Bordeaux,
               Pháp

 Liên hệ: Em dâu người
             Ninh Ḥa

 Trung học: Couvent des
       Oiseaux (Sài G̣n)

 Nghề nghiệp: Y tá khoa
               tim tại Pháp.

 Khuynh hướng: Thơ
  Đường, văn biên khảo,
  b́nh luận văn chương

 Sở thích: âm nhạc, thơ
  văn, đọc sách, phim
  t́nh cảm, gia chánh.

 Hiện cộng tác thi văn
 với Văn Đàn Đồng Tâm,
  báo Sân Khấu News,

 các websites: 
  Saigongate, Ninh Ḥa,
  Hoa Sơn Trang và Bến
  Sông Mây




Hiện sinh sống tại:
Bordeaux, Pháp Quốc

 

 

 

 

 

 

Tôi được biết đến nhà văn Doăn Quốc Sỹ lần đầu tiên khi tôi vừa tṛn 17 tuổi. Ngày ấy, tôi học môn Vật Lư với cô Doăn thị Kim Oanh. Cô Oanh là một cô giáo tận tâm yêu nghề, rất gần gũi với học tṛ. Tôi c̣n nhớ, các bạn lớp 11D4 và tôi, năm đó,  đă đến nhà thăm cô vào ngày mùng ba Tết. Trong không khí náo nhiệt đón Xuân đáng lẽ mang nhiều niềm vui rộn ràng, nhưng đôi mắt tṛn xoe của cô tôi lại vương nhiều nỗi muộn phiền lo âu. Hỏi ra, chúng tôi mới biết là thầy Doăn Quốc Sỹ vừa bị công an đến bắt đi tối hôm qua. Nh́n cô buồn và lo lắng, đôi mắt ngấn lệ, cô cố gắng giữ không rơi nước mắt trước đám học tṛ, mà tôi thấy thương cô vô hạn. Có lẽ v́ tôi là đứa học tṛ duy nhất của cô ngày hôm ấy có ba đi học tập cải tạo, cho nên tôi cảm nhận và hiểu được nỗi đau của cô. Tôi cũng thấy đau ḷng cho thầy Sỹ lại một lần nữa mang thân tù tội chỉ v́ thầy đă cống hiến cả đời để góp phần "ǵn vàng giữ ngọc" cho nền văn hóa Việt Nam...

 

Tôi từ nhỏ đă bị lôi cuốn vào trong thế giới văn học nghệ thuật truyền thống. Tôi sinh ra và lớn lên trong một đại gia đ́nh mô phạm; ông Ngoại tôi và các d́ của tôi đều là nhà giáo. Tôi được đọc những sách truyện của nhóm Tự Lực Văn Đoàn rất sớm khi các bạn cùng trang lứa c̣n đọc những truyện thuộc tủ sách "tuổi hoa tím ". Ở nhà, gia đ́nh thường gọi đùa tôi là "con mọt sách ".  Và tác phẩm " Chiếc chiếu hoa cạp điều " của thầy Doăn Quốc Sỹ đă đến với tôi ngay mùa xuân năm đó. Đây tuy chỉ là một câu truyện ngắn với một sắc thái viết văn giản dị, không cầu kỳ, không hoa mỹ nhưng đă làm rung động ḷng tôi. Câu chuyện tường thuật những năm tháng khó khăn đói khổ của thời kỳ sơ tán làm tôi chợt nhớ bài thơ « Bên kia sông Đuống » mà nhà thơ Hoàng Cầm đă viết từ Việt Bắc tháng 4, năm 1948:

 

...Bên kia sông Đuống

Mẹ già nua c̣m cơi gánh hàng rong

Dăm miếng cau khô

Mấy lọ phẩm hồng

Vài thếp giấy dầm hoen sương sớm

Chợt lũ quỷ mắt xanh trừng trợn

Khua giầy đinh đạp gẫy quán gầy teo

X́ xồ cướp bóc

Tan phiên chợ nghèo

Lá đa lác đác trước lều

Vài ba vết máu loang chiều mùa đông

 

Chưa bán được một đồng

Mẹ già lại quảy gánh hàng rong

Bước cao thấp trên bờ tre hun hút

Có con c̣ trắng bay vùn vụt

Lướt ngang ḍng sông Đuống về đâu?

Mẹ ta ḷng đói dạ sầu

Đường trơn mưa lạnh mái đầu bạc phơ...

 

Tôi yêu thích « chiếc chiếu hoa cạp điều  » v́ qua ng̣i viết chân t́nh, nhà văn đă lột tả hết được cái đói, cái nghèo, cái khổ của người dân Việt Nam trong thời chiến loạn dưới làn bom đạn rơi. Khung cảnh đi sơ tán, tuy đă xảy ra thật lâu lắm rồi nhưng rất quen thuộc với tôi. Cái cảnh đói khổ nghèo túng đó trong những cơn gió bấc rét đến tận xương tủy phải có một lần sống qua mới có thể cảm nhận hết nỗi sự bần cùng của con người... « Mùa đông năm đó rét lạ lùng. Gió hun hút giật từng cơn buốt như dao cắt từng mảnh thịt hở, thế mà hôm nào mẹ và em gái tôi cũng phải dậy từ bốn giờ rưỡi sáng để sửa soạn gồng gánh ra đi... ». Ba tôi đă mất mát rất nhiều trong những lần đi tản cư chạy loạn những năm 1945-1950. Từ là một cậu ấm trong một gia đ́nh danh giá vọng tộc, ba tôi cũng đă nếm đủ mùi của cái đói, cái rét, cái nghèo, cái khổ, khi vành tang trắng vội khoác lên mái đầu xanh; khi trên đôi vai gầy guộc thơ ngây của một cậu bé mười tuổi phải gánh lấy trách nhiệm kiếm ăn nuôi gia đ́nh. Cái cảnh gia đ́nh « giật gấu vá vai t́m cách nhường nhau miếng cơm manh chiếu » cũng không c̣n xa lạ...Bao cảnh cơ hàn gian truân mà nhà văn đă trải qua cho ông thấy cái nét đẹp rạng ngời của t́nh yêu thương đùm bọc trong gia đ́nh…Gia đ́nh muôn đời vẫn là trường học đầu tiên về yêu thương. Bài học vỡ ḷng về yêu thương khởi đầu bằng t́nh yêu thưong mẫu tử thiêng liêng, đuợc duy tŕ trong t́nh yêu thương gia đ́nh và được tái sinh qua từng thế hệ.

 

 

Tôi yêu thích « chiếc chiếu hoa cạp điều » v́ ở đây tác giả đă cho tôi thấy một T́nh Mẹ tuyệt vời luôn ban « cho con cái t́nh thương vô bờ bến trong bất cứ hoàn cảnh nào, dù là "Mẹ" đương đầu với những thử thách khó khăn, những cơn nguy khốn, những nhọc nhằn đầy lo âu và "Mẹ" luôn nhấp nhận những vô lư nhất của cuộc sống. Nhưng trái tim của "Mẹ" vẫn là sự thủy chung với cha và sự lan tỏa hơi ấm cho đàn con thơ dại... » (trích từ « T́nh thương của Mẹ » - Việt Hải). H́nh ảnh người Mẹ bất kể dưới lằn đạn oanh tạc của phi cơ, vẫn lo vớt nhặt rồi giặt một mảnh chiếu con bị vứt bỏ bên lạch để mong cho đứa con ḿnh đêm về có được chút hơi ấm giữa cái rét vô t́nh của mùa đông lạnh giá...Ôi, không ai có thể yêu thương và chăm sóc con tận t́nh bằng Mẹ. Tôi c̣n nhớ thầy Sỹ đă có nhắc đến một câu thơ Pháp trong bài viết « Nghĩa Mẹ T́nh Mẹ qua những tác phẩm văn nghệ Việt Nam » nhân dịp lễ Vu Lan năm 1973 rằng: « l'amour d'une mère, l'amour que nul n'oublie » (t́nh yêu của người mẹ là t́nh yêu mà không ai có thể quên được).

 

Khi đông tới gió mang theo lạnh lẽo

Mẹ âm thầm từng mũi chỉ đường kim

Trắng thâu đêm, mẹ thức trắng thâu đêm

Đan xong áo, ấm ḷng con của Mẹ...

(trích « Những con đường » - Hoàng Thy)

 

Tấm ḷng người Mẹ yêu con quả thật bao la như biển rộng sông dài. V́ con, mẹ hy sinh cam chịu gánh lấy bao nhục nhằn, ray rứt, riêng mang

 

Mẹ gói trọn gian truân vất vả

Mang vào thiên thu hai chữ thành tâm...

(trích « Gian truân tuổi Mẹ » - Mạc Phương Đ́nh)

 

Tôi nhớ có đọc một đoản văn viết về t́nh mẹ của Cha Cao Tường trong «  Vồng Trầu của Mẹ » mang rất nhiều ư nghĩa sâu sắc: « ...người mẹ nào cũng cả đời chịu thua thiệt. Mà cũng chính v́ cứ cam chịu phần thấp nên mới thành « ḷng mẹ bao la như biển Thái B́nh dạt dào ». Chỗ trũng nhất trên mặt đất th́ nhận được tất cả,từ mọi thác suối, sông rạch, mưa trời, rồi chế biến tất cả, dung hóa thành đại dương bát ngát...

...người Việt nên tặng mẹ ḿnh một vồng trầu thay v́ một bó hoa. Lá trầu là chính cơi ḷng người mẹ Việt Nam, càng bị nhai nát thua thiệt càng nẩy sinh t́nh yêu... »

 

 

Tôi yêu thích « Chiếc chiếu hoa cạp điều » v́ câu truyện đă gợi cho tôi bao hoài niệm đau thương của một thời thơ ấu. Quê hương ḿnh suốt hơn ba chục năm dài ch́m trong khói lửa chiến tranh. Tác giả đă chịu bao nỗi cơ hàn thời chinh chiến. C̣n tôi th́ ngược lại, cái cảnh phải lo cho các em tôi có bữa cơm no, có được giấc ngủ ngon trong cái đói nghèo khi ba tôi bị đi tù cải tạo, mẹ tôi v́ không chịu nỗi sự chia ly, tương lai mịt mù đă ngă bệnh, lúc ấy th́ chiến tranh đă tàn, tuổi tôi chưa tṛn mười bốn và em út của tôi cũng chỉ vừa lên ba. Trong câu truyện này có một đoạn thầy Sỹ viết bằng cả tấm ḷng ḿnh mà khi đọc tôi càng thấy thấm thía. Tôi hiểu và cảm nhận nỗi đau của người, v́ chính tôi cũng đă mang cùng một tâm trạng như thế:...« Con người càng từng trải cảnh thiếu thốn vật chất, niềm tin và đạo đức càng được hun đúc và t́nh cảm thêm dạt dào. Sau này khi về vùng quốc gia, rồi di cư vào Nam tôi c̣n trải qua nhiều gian lao nghèo túng và nhiều lần bị khinh rẻ, nhưng dù nghèo túng đến đâu, dù bị khinh rẻ đến đâu, điếu đau nhục nhất với tôi vẫn là chuyện chiếc hoa cạp điều...» Tác giả vi một lần nói dối về một mảnh chiếu con cho em đắp mà đă thấy ray rứt cả cuộc đời. Cái  này tôi không cho là một “sa ngă” nhưng là một chức năng sinh tồn trong thời loạn ly. Có ai trong chúng ta sống trong cảnh nhiễu nhương cơ hàn nhất, dưới gông cùm của bạo quyền áp chế, v́ muốn bảo vệ những người thân yêu của ḿnh, đă không khỏi có những phút giây “sa ngă” đó. Nói dối để cho cha có thêm miếng ăn ngon trong tù, hay cho mẹ có những viên thuốc tốt để trị bệnh, hay cho đàn em thơ không thấy thiếu thốn nhiều t́nh yêu thương phụ mẫu...tôi không cho đó là điều đáng khinh rẻ. Nếu tôi tự đặt ḿnh vào vị trí của tác giả lúc ấy, tôi cũng sẽ làm như thế chỉ v́ vỏn vẹn hai chữ “yêu thương”, tôi không muốn em ḿnh lại phải chịu cảnh co ro những đêm rét trời.

 

Tôi mang cùng quan điểm với thầy Sỹ là một khi đă từng trải những cảnh thiếu thốn đói khổ tột cùng đó, cái nh́n nhân sinh quan của ḿnh về t́nh người mang một sắc thái khác. Là một đứa trẻ đă từng sống khổ cực lăn lóc ngoài chợ đời để có được miếng ăn miếng sống cho gia đ́nh, ba tôi cũng có cái nh́n như thế.  Ba tôi, tôi, cũng như thầy Sỹ đều: « ...Cũng kể từ sau ngày xảy chuyện đó, thái độ tôi đối với người đời khác xưa nhiều. Tôi thận trọng tránh mọi thái độ hẹp ḥi, kiêu ngạo, ích kỷ, sắc cạnh. Ḷng dễ xúc động, tôi thương người như thương chính thân ḿnh vậy; Tôi thương những em nhỏ sớm phải lăn lưng vào cuộc đời để tự nuôi sống, tôi thương những người đói khát ham ăn ham uống, tôi thương những h́nh ảnh lam lũ một sương hai nắng, những h́nh ảnh nghèo túng giật gấu vá vai, Tôi thương những kẻ thù dân tộc hôm qua, này nay thất thế ngơ ngác đi giữa kinh thành...»

 

Tôi yêu thích « Chiếc chiếu hoa cạp điều » v́ tác giả đă viết bằng cả trái tim ḿnh, có lẽ v́ thế mà câu truyện rất đơn sơ mộc mạc nhưng lại có nhịp độ rung cảm cao nhất. Đọc « Chiếc chiếu hoa cạp điều » để thấy hết nét thanh cao sáng trong vằng vặc như ánh trăng của một cơi « Tâm » đạo đức, hiền ḥa, đôn hậu, hướng thiện.

« Ở thế giới thực dân tư bản người ta tung vật chất ra để giam lỏng linh hồn, ở thế giới thực dân cộng sản, người ta phong tỏa vật chất để mua rẻ linh hồn. Cả hai cùng thất bại Linh hồn nhân loại chỉ có thể mua được bằng t́nh yêu thương rộng răi và chân thành...»

 

Những ḍng tâm t́nh hôm nay tôi viết lên đây như một lời tri ân về một nhà văn đă cống hiến cả đời ḿnh để “ǵn vàng giữ ngọc ” tiếng Việt và người Việt mến yêu. Cám ơn Thầy đă qua những tác phẩm ngắn, dài của ḿnh, là ánh trăng tâm linh cho thế hệ trẻ mai sau nhận thức được chữ trung, chữ hiếu, chữ nghĩa, chữ t́nh, t́nh yêu thương nhân bản, t́nh gia đ́nh, t́nh yêu non nước cho dù ở nơi đâu, hay trong hoàn cảnh nào...Tôi xin mượn hai câu thơ của thi sĩ Tản Đà để minh họa h́nh ảnh của Thầy trong tôi

 

Trung hiếu vẹn tṛn hai khối ngọc

Tuyết sương phô trắng một cành mai...

 

Tôi thành tâm nguyện chúc Thầy sống lâu trăm tuổi để tiếp tục góp cho đời những thông điệp và những bài học về t́nh yêu thương nhân ái

 

Phải làm mới t́nh yêu
Coi chúng ta là những người thứ nhứt
Trên trái đất này biết yêu nhau
Để những cặp t́nh nhân khác bắt chước
Để con cái sau này không khổ đau

(Bài ca tháng giêng- Thanh Tâm Tuyền)

 

Tôi kính gửi về thầy vài ḍng thơ đơn sơ nhân kỷ niệm ngày thọ 84 của Thầy, kính chúc Thầy luôn đạt được ư nguyện «  Ǵn vàng giữ ngọc » cho thế hệ mai sau:

 

 

Vần thơ kính thầy

 

Thầy tôi tuổi đă tám mưoi tư

Nợ nước t́nh nhà vai nặng gánh

Dạy dỗ cháu con lẽ thiệt hư

« Ǵn vàng giữ ngọc » tâm lấp lánh

 

Không hổ danh «  Người Việt đáng yêu  »

Biết tổ tông cội nguồn dân tộc

Vun xới tâm hồn đẹp mỹ miều

Ḷng hiếu hạnh gieo « Hương nhân loạỉ »

 

Quê hương ḿnh bao năm gian khổ

« Ḍng sông định mệnh » chia đôi miền

Chiến hận mang thân ĺa đất tổ

« Tiền kiếp » ta đâu? Nỗi truân chuyên!

 

Ngục tù, chiến tranh rồi ly hương

Ngọc vẫn trong « không hề hoen ố »

Tiếng hát từ ḷng đất yêu thương

Gióng chuông « Vào Thiền » mặc băo tố

 

« Hăy quay trở về với chính ḿnh... »

Thông cảm, bao dung...chân thiện mỹ

« Người vái tứ phương » kiếp nhân sinh

Thắp sáng cơi Tâm t́nh chung thủy

 

Dâng lên Thầy đôi ḍng cảm nghĩ

Kính chúc Người vạn thọ vô biên

Măi là gương soi, là hiền sĩ

Văn chương tiếp nối, danh lưu truyền

 

Hậu thế mai sau c̣n ghi nhớ

Công đức trồng hoa « Tâm » của người...

 

 

Kính tặng Thầy Doăn Quốc Sỹ

Tiểu Vũ Vi

 

 

 

Viết tại Paris, 07-2006

Bích Phượng


 


 

Trang Thơ & Truyện: Bích Phượng                |                 www.ninh-hoa.com