Kỳ
2:
Tôi
vẫn hằng
nguyện mong được có một lần về thăm quê
nội Bắc Ninh của tôi không phải chỉ để nghe
hát dân ca, mà c̣n có thể học được cách têm trầu cánh phượng, đội khăn
mỏ quạ, nhất là thấm được cái T́nh của người quan họ.
Người về em
vẫn trông theo
Trông nước,
nước chảy, trông bèo, bèo trôi
Người về em
dặn tái hồi
Yêu em xin
chớ đứng ngồi với ai.
Quê
Ngoại tôi th́ ruộng thẳng ph́ nhiêu, bốn bề sông nước bao bọc.
Bến Tre là vựa lúa lớn của đồng bằng sông Cửu Long, nằm
giữa vùng sông nước mênh mông, nơi hội tụ của 3 cù lao lớn. Bến Tre như
một cái quạt x̣e ra với những nan quạt là những con sông lớn, nhỏ. Một
quê hương sông nước hữu t́nh mà hết thế hệ này đến thế hệ khác gắn bó
với những chiếc đ̣ ngang, đ̣ dọc, những chiếc thuyền thúng suốt mùa mưa
úng, những chiếc thuyền buôn trên nhiều ngă sông xuôi ngược…
Ḍng sông cũ
những chuyến đ̣ xuôi ngược
Sông chở chuyên t́nh tự của quê nhà
Có những chiều anh nh́n em đắm đuối
Thuở dại khờ ngày đó đă thật xa
(Chim sáo
không về - Khiếu Long)
Tôi vẫn
thường ước ao được đi trên con sông Hàm Luông
rộng mênh mông, để được nh́n ngắm cái vẻ đẹp lấp lánh của những
rặng dừa xanh biếc dọc hai bên bờ
Tới đây ngủ dưới bóng dừa,
Cá cơm ai nấu rất vừa miệng ăn.
Dường như từ đă ngh́n năm,
Đất đai đó mọc bạt ngàn dừa xanh.
(Bến Tre - Lư
Thừa Nghiệp)
Bến
Tre là vùng đất “địa linh nhân kiệt” đă sản sinh những anh tài trong văn
học như Nguyễn Đ́nh Chiểu, Sương Nguyệt Ánh, Vơ Trường Toản, Trương Vĩnh
Kư, Phan Thanh Giản…
Nhà văn
hóa Trương Vĩnh Kư - người làm báo đầu tiên ở Việt Nam, người thông thạo
27 thứ tiếng nước ngoài (12 ngôn ngữ phương Tây, 15 ngôn ngữ phương Đông).
Trong khoảng thời gian 40 năm (1858 - 1898), Trương Vĩnh Kư đă để lại
cho đời 118 tác phẩm, bao gồm sách nghiên cứu, sưu tầm, dịch, phiên âm
trong đó có hàng chục quyển sách viết bằng Pháp văn. Trong bài “Học giả
Trương Vĩnh Kư” nhà văn Việt Hải đă nhận định rằng: “
Kiến thức uyên bác, năng khiếu thiên bẩm đă
tạo cho Petrus Kư là một h́nh ảnh nổi bật trong văn học sử Việt Nam. Sự
nghiệp văn học của ông h́nh thành trong bối cảnh chuyển đổi từ nền nho
học sang tân học với chữ Quốc ngữ theo hệ thống mẫu tự La tinh. Và ông
đă thật sự đóng góp nhiều áng văn tiền phong cho sự phát triển chữ Quốc
ngữ của chúng ta dùng ngày hôm nay…”
Sương
Nguyệt Anh, người con gái tài ba của nhà thơ Nguyễn Đ́nh Chiểu, là nữ
chủ bút ưu tú đầu tiên của Việt Nam. Từ nhỏ, ông ngoại tôi thường kể cho
tôi nghe những giai thoại về bà. Tôi rất hâm mộ bà v́ bà là người thông
minh tài sắc vẹn toàn, sống có đức hạnh thủy chung. Tôi vẫn c̣n nhớ bài
văn tế chồng đầy nghĩa t́nh tha thiết của bà
Nhớ quân tử
xưa
Tướng mạo
thung dung
Tánh t́nh hậu
phát
Thong thả con
đường thanh đại
Bạn tần giao
mấy gă đăng tâm
Tánh năng suy
nghiệp huỳnh kỳ
Tài quán
chúng nhiều người la bặc cả
Thương thay
Trướng hiệp
quản rồi ră a giao tiếp phụ tử chia ĺa
Chẳng hay đâu
thảo khấu lăng loàn
Phải dự chi
mà thấu lư quyền minh
Sao đến nỗi
cốt b́ tan nát
Ôi, xưa c̣n
nấu thuốc linh đơn, này đă thác theo
cḥm mây bạc
Giọt nước mắt
chảy dài trên má, ruột gan rối bời bời
Ai chẳng than
tức tưởi, phận sử quân lược sa tiền
Thiếp nhỏ
giọt châu sa thảm thiết!
Năm 1906,
hưởng ứng lời kêu gọi của cụ Phan Bội Châu trong phong trào Đông Du, bà
đă bán cả ruộng vườn để giúp học sinh xuất dương du học. Tiếng tăm của
bà ngày càng được nhiều người biết đến. Năm 1917, bà được mời làm chủ
bút tờ “Nữ giới chung” - tiếng chuông của nữ giới. Đây là tờ báo đầu
tiên dành riêng cho phụ nữ Việt Nam, do một nữ sĩ tài danh điều hành.
Đem chuông
lên đánh Sài G̣n
Để cho nữ
giới biết con cụ Đồ
(ca dao Bến
Tre)
Bến Tre
c̣n có kho tàng văn học dân gian với những chuyện cổ, thơ ca, câu đố ….
Nơi đây, với 75 điệu lư khác nhau, là một trong những cái nôi của dân ca
Nam Bộ, là vùng đất tiềm năng cho những điệu ḥ trên sông nước và ḥ
trên cạn ra đời...như lư con sáo, lư mạ non, lư cái mơn, ḥ chèo thuyền,
ḥ lờ , ḥ cấy lúa, ḥ đối đáp…
Lư có nhiều khả năng diễn đạt, đề cập, phản ánh mọi khía cạnh của đời
sống thiên nhiên và xă hội, sự vật, sự việc chung quanh, v́ vậy đề tài
của lư vô cùng phong phú. Lư là tiếng nói của t́nh yêu lứa đôi hồn nhiên
và mộc mạc, là ước mơ trong sáng, là khúc hát ngọt ngào thủy chung
Người về đây
dừng chân trên bến
Sóng nước lăn tăn, tâm t́nh nhắn gởi người yêu
Có sang sông th́ chim sáo hát câu hẹn ḥ
Chiều tà dương măi c̣n chờ ai
Tia nắng soi rưng rưng
Đôi bờ bỗng nghe chim nhạn t́m nhau
(Lư Cái Mơn-
Lê Giang)
Xứ Bến hiền ḥa đă để lại
trong ḷng tao nhân mặc khách một nỗi vấn vương ngậm ngùi khi chia xa.
Nhà thơ Phan Ni Tấn trong bài ca “ Phải ḷng con gái Bến Tre” cũng đă
mang một tâm tư lưu luyến như thế
Đợi ánh trăng
lên đầu cầu soi bước em về
Ḷng qua như con nước
lênh đênh vào trong mong nhớ
Vịnh Bến Tre tim bồi hồi ḷng muốn theo người ơi
(Phải
ḷng con gái Bến Tre- Phan Ni Tấn)
Tuy
chưa một lần đặt chân về nơi xứ dừa xanh thân yêu nhưng quê ngoại trong
tôi đẹp như
điệu lư xàng xê,
ngọt ngào như lời ru của mẹ khi chiều buông, thiết tha nghĩa t́nh như
sóng nước ngh́n thu xuôi về biển
Ai đem điệu lư về xuôi
Câu ḥ ở lại ngậm ngùi vấn vương
Ru hời mái đẩy nhịp thương
Qua sông chim sáo đoạn trường thở than
Ba tri sầu năo tơ đàn
Dạ lang hoài cổ bẽ bàng phận duyên
Hỏi người t́nh phụ cánh quyên
Khúc ca lẻ bạn nghẹn niềm xót xa…
(Lỡ
một cung đàn- Tiểu Vũ Vi)
(Xem tiếp Kỳ 3)
..?
˜
{
™
@…
Viết tại Paris,
28/04/2007
Bích
Phượng