Trang Thơ & Truyện: Cao Minh Hưng               |                 www.ninh-hoa.com

 CAO MINH HƯNG

 

Tên thật Cao Minh Hưng. Sinh năm 1969 tại Sài G̣n, Việt Nam.  Định cư ở Hoa Kỳ từ năm 1988. Theo học ngành Sinh Vật Học (Biology) ở UCLA. Tốt nghiệp Nha khoa từ trường đại học Loma Linda, California năm 1996. Hiện hành nghề nha sĩ tại Costa Mesa, California. Sở thích: Sáng tác nhạc, viết văn, làm thơ, du lịch.

 

Nhạc phẩm: Các ca khúc sáng tác được giới được lưu trữ trên trang nhà www.CaoMinhHung.com  .

 

CD đă phát hành:

 

 "T́nh Khúc Cao Minh Hưng - Phượng Đỏ Mùa Đông" do Trung tâm băng nhạc Làng Văn phát hành vào tháng 7 năm 2009. 

 

 "T́nh Khúc Cao Minh Hưng - Vần Thơ Qua Nốt Nhạc" do Trung tâm Emerald Music Production phát hành vào tháng 9 năm 2010.

 

Những truyện ngắn và thơ:

 

Đăng trên nhật báo Việt Báo, Tạp Chí Thế Giới Phụ Nữ, Việt Tide, Tuyển Tập Đồng Tâm, Đặc San B́nh Dương, v.v.

 

Giải thưởng Danh Dự Viết Về Nước Mỹ-Việt Báo 2008: Truyện ngắn "Con Búp Bê" với bút danh là Anthony Hưng Cao.

 

Giải thưởng Tác Giả Xuất Sắc Viết Về Nước Mỹ-Việt Báo 2010: Truyện ngắn "My Life" 

Hội viên: CLB T́nh Nghệ Sĩ, Văn Bút, Việt Bút, v.v.

 

 

 

 

 

 

CÔ Bé Và Bọn BUÔN NGƯỜI
- Cao Minh Hưng -

 

KỲ 1:

 

 

Kể từ ngày ra trường, tôi ít có dịp gặp lại anh.  Chúng tôi quen nhau từ những tháng ngày c̣n ở trại tị nạn Battaan vào năm 1988.  Tôi có cái may mắn hơn anh là có gia đ́nh ở bên cạnh.  Riêng anh, đến đảo một thân một ḿnh.  Hai đứa có cái giống nhau là cùng tạng người ốm nhom, đen thui như phần lớn những thanh niên khác vừa trốn khỏi cái "thiên đàng" Việt Nam đói ăn và mất tự do lúc bấy giờ. 

 

Anh hơn tôi vài tuổi nhưng lúc nào cũng tỏ ra chính chắn, chừng mực chứ không giống như đám thanh niên choai choai đến đảo một ḿnh lúc nào cũng thấy tụ năm tụ bảy ở các quán cà phê mọc răi rác trong trại.  Dưới cái nắng hè oi bức của đất nước Philipines nầy, thay v́ theo theo đám bạn đi bơi ở con suối trong vùng 9, tôi thấy anh quanh quẩn ở trong ngôi chùa dựng tạm trong khu trại để giúp các thầy dọn dẹp, sửa sang lại chổ nầy chổ nọ.

 

Rồi đến ngày được đi định cư ở Mỹ, tôi rời trại trước anh, nhưng số mệnh đă cho chúng tôi gặp lại nhau ở một trường đại học cộng đồng ở Santa Ana.  Anh vẫn như xưa, cần cù, siêng năng trong hai năm dài theo học ở trường. Cái vẻ bề ngoài già dặn, hơi khắc khổ  so với số tuổi của anh, cộng với tính t́nh chậm răi, ít nói làm đôi khi nhiều bạn bè cũng ngại, nhưng nếu ai có dịp tiếp xúc với anh dù chỉ ít phút thôi cũng thấy được tính b́nh dị và óc khôi hài của anh. 

 

Gặp lại anh chưa được bao lâu, tôi lại phải chuyển trường đi học nha khoa.  Thật bất ngờ một năm sau đó, tôi biết anh cũng chọn ngành nha, nhưng theo học ở một trường khác.  Trong bốn năm đi học, tôi ít có dịp gặp lại anh do bận rộn với những bài vỡ ngập đầu ở trường.  Thỉnh thoảng gặp lại anh đâu đó ít phút hay qua bạn bè, tôi nghe kể ít nhiều về anh.  Vẫn một tấm gương học tập cần cù và chịu khó làm việc trong khi đang theo học.  Những ngày nghĩ cuối tuần, anh tranh thủ  cắt cỏ, quét dọn vườn tuợc và làm những công việc lặt vặt khác cho chủ nhà để phụ tiền trả tiền trọ và hy vọng dư ra chút ít để gởi về cho cha mẹ già c̣n kẹt lại ở Việt nam.

 

Khi viết về anh, chắc có lẽ tấm gương nhẩn nại, cần cù và hiếu thảo của anh chắc cũng sẽ lẫn vào bao nhiêu câu chuyện khác về những người tị nạn trên bước đường hội nhập vào cuộc sống ở đây.  Có lẽ những điều tôi biết và những kỷ niệm về anh rồi cũng chỉ đọng lại nơi nào đó trong tiềm thức cùng với bao nhiêu người bạn thân quen mà tôi đă gặp trên bước đường đời.  Cho đến khi anh gọi điện thoại cho tôi vào một buổi tối, khi mùa thu bắt đầu len lén mang theo những cơn gió lạnh đầu mùa vào khí trời Cali.

 

"Lâu quá không gặp ông."  Giọng anh vẫn như xưa, chậm răi vang lên trong điện thoại.

 

"Th́ từ khi anh cưới vợ đến nay, chắc anh "theo nàng bỏ cuộc chơi", nên tụi em đâu có dịp gặp anh."  Tôi đùa.

 

"Đâu có." Anh cười hiền từ.  Chúng tôi tâm sự với nhau một lúc trên điện thoại.  Anh hỏi thăm vợ và hai đứa con của tôi.  Một lúc sau anh nói:

 

"Anh có t́nh cờ đọc một bài viết của em trên báo, về những hoạt động cho trẻ mồ côi ở Việt nam của em, anh rất khâm phục..."

 

"Dạ đâu có ǵ."  Tôi ngắt lời anh. " Em nghĩ nếu mỗi người góp một bàn tay th́ cuộc đời của các cháu sẽ bớt khổ hơn. Em chỉ hy vọng bắc một nhịp cầu bằng những bài viết của ḿnh cho nhiều người biết về t́nh cảnh của các cháu để chung sức giúp đỡ.  Anh biết không, có một số độc giả gọi em để lấy địa chỉ các trại mồ côi bên Việt nam để khi có cơ hội, họ sẽ giúp đỡ..."

 

"V́ lẽ đó anh muốn nhờ em giúp đỡ..."Anh ngừng lại, tỏ vẻ ngập ngừng làm cho tôi không nén nỗi ṭ ṃ, không biết anh định nhờ tôi làm việc ǵ.

 

"Em có nghe về hội Hagar không?"  Anh hỏi.

 

"Dạ không.  Hội đó là ǵ vậy anh?"  Tôi sốt ruột hỏi lại.

 

Anh bắt đầu giải  thích về công việc của hội mà ít lâu nay anh  đă tham dự qua sự giới thiệu của cha xứ ở nhà thờ nơi anh đi dự lễ.  Tưởng cũng nên nhắc thêm là từ lúc lập gia đ́nh, anh đổi sang đạo của chị, nên thỉnh thoảng bọn tôi hay đùa với anh là chắc mănh lực t́nh yêu ghê gớm lắm v́ nó đă biến anh từ một Phật tử trung thành, ngày xưa từng quét dọn lá đa trước sân chùa những ngày c̣n ở trại tị nạn, thành một con chiên ngoan đạo như bây giờ.  Qua anh, tôi được biết là hội Hagar được thành lập bởi ông Pierre Tami, người Thuỵ sĩ.   Lần đầu tiên khi ông đến Campuchia, ông đă xót xa khi tận mắt chứng kiến cảnh một người mẹ ôm đứa con mới sáu tháng vừa mới qua đời v́ bệnh sốt rét, trong một căn nhà rách nát, tồi tàn.  Ông Pierre Tami rất cảm thông cho hoàn cảnh của những phụ nữ từng là nạn nhân của sự ngược đăi, hành hạ thô bạo của những người chồng, khi những người đàn ông nầy tàn nhẫn đẩy người vợ cùng con của họ ra khỏi nhà, để mang về những cô gái khác trẻ đẹp hơn.  Thêm vào đó, có những cô bé c̣n rất trẻ từ những gia đ́nh v́ cha mẹ quá nghèo bị lường gạt bán con cho bọn buôn người.  Những người phụ nữ nầy thường có chung một số phận là bị đẩy vào những động măi dâm, được mọc lên khắp nơi trên xứ Chùa Tháp nầy.  Ông lập ra hội Hagar với mục đích giúp đỡ những người phụ nữ nầy có cơ hội làm lại cuộc đời, sau khi họ được may mắn cứu ra khỏi chốn bùn nhơ. Hội cũng giúp đỡ cho những phụ nữ không có việc làm, sống lang thang, vất vưởng trên đường phố.  Với sự giúp đỡ của những người như sơ Hanna, sơ Taylor, và  các nhân viên người Campuchia, hội giúp đỡ những trẻ em chưa đến tuổi trưởng thành được tiếp tục cắp sách đến trường theo chương tŕnh After Care.  Những phụ nữ đă trưởng thành sẽ được huấn luyện và làm việc ở những phân xưởng từ may mặc, đến dịch vụ nấu và giao thức ăn, kể cả làm những hộp sữa đậu nành để mang đi bán.  Anh bảo hội Hagar rất cần đến sự giúp đỡ của những ân nhân từ khắp nơi trên thế giới để giúp cho những phụ nữ nầy có cơ hội làm lại cuộc đời. Anh mong tôi đóng góp và giúp anh viết một bài về hội Hagar.

 

Tôi hứa sẽ gởi check để anh chuyển đến hội Hagar và nếu có thời gian tôi sẽ t́m hiểu thêm về hội v́ tính tôi vốn cẩn thận trước khi đặt bút viết điều ǵ.  Trong thâm tâm tôi nghĩ chắc hội này cũng như hàng trăm hội từ thiện khác ở khắp nơi, với những mục đích và công việc cao cả mà những người sáng lập ra chúng đang cố theo đuổi.

 

 

Xem Kỳ 2

 

 

 

 

 CAO MINH HƯng

 

 

 

Trang Thơ & Truyện: Cao Minh Hưng            |                 www.ninh-hoa.com