Đầm Nha Phu - Ảnh: Dương Tấn Long

XỨ NINH: THẮNG CẢNH & DI TÍCH - Vinh Hồ

   
 XỨ NINH:  THẮNG CẢNH & DI TÍCH

 Phần (1)   |  Phần (2)  |   Phần (3)   |    Phần (4)   |   Phần (5)   |  Phần (6)  |  Phần  (7)  |

       Phần  (8)  |    Phần  (9)  |   Phần  (10)   Phần  (11)   Phần  (12)     Phần  (13)


  
 
www.ninh-hoa.com

 

Bản Ðồ Ninh Hòa      Biển Đại Lãnh     Vũng Rô      Núi Đá Bia     Đèo Cổ Mã    Chùa Xuân Tự


Phần 13:
 


MIỄU BÀ TRÊN NÚI HÒN BÀ:

Hòn Bà còn gọi là Hòn Lớn cao 1.356 m,

Hòn Bà nằm về phía Tây Nam cách quận lỵ Ninh Hòa độ 10 km đường chim bay thuộc 2 xã Ninh Hưng, Ninh Lộc.

Trên núi có nhiều cây Dó cho trầm kỳ, người địa phương cho rằng trầm kỳ trên núi này là của Bà Thiên Y A Na nên mới gọi núi này là Hòn Bà.

Chung quanh Hòn Bà núi non triều quy, cây cối sầm uất, có nhiều thắng cảnh như Trường Bơi, Rượng Mà Ca, Hồ Đá Xẻ, Nhà Đá thuộc xã Ninh Lộc và Khám Thờ Đá, Ao Bà thuộc xã Ninh Hưng.

Trên triền núi nhìn xuống Ao Bà gần thác nước, có xây một miễu nhỏ bằng gạch lợp ngói âm dương thờ Bà Thiên Y A Na gọi là Miễu Bà. Không có tài liệu ghi chép miễu được lập vào năm nào nhưng trong giới đi địu nói rằng miễu được lập vào thời Vua Bảo Đại do những ông bầu địu đứng ra ra xây cất.

Nghề đi địu là một nghề phổ biến tại xứ Ninh.

Vào thời Ông Nội tôi thuộc tiền bán thế kỷ 20, tại làng tôi có khoảng gần chục người chuyên đi núi địu, trầm kỳ lấy được họ đem qua thôn Quang Đông hay đem xuống phố Ninh Hòa bán cho Tàu Kê. Họ rất hào phóng, họ là mạnh thường quân trong những công việc tu sửa đình chùa miếu mạo, có người cúng cả 1 bộ lồng cu, một hai thiên ngói hay ba bốn thiên gạch...

Sau 1975, đi địu trở thành một phong trào, làng nào xã nào cũng có người đi, đi đến nỗi núi nhà không còn chỗ để đi, phải đi núi xa, trên cao nguyên mây mù hay ở tận miền Đông đất đỏ. Thời Pháp đi địu bằng gùi (đan bằng mây) sau 1975 dùng ba lô. Địu là mang là đèo sau lưng, như người Thượng địu con đi rẫy vậy. Địu ba lô hay mang ba lô, địu gùi hay mang gùi cũng thế. Đi địu là một từ dân gian rất tượng hình dùng để chỉ những người đi tìm cây dó (cho trầm kỳ) mà trên lưng địu một cái gùi (hay ba lô) đựng đầy lương thực cho cuộc hành trình băng rừng lội suối nhiều ngày. Hay nói một cách vắn tắt, đi địu là đi núi tìm trầm kỳ. Trong từ điển Tiếng Việt hiện đại không có từ này.

Theo tác giả Trần Ngọc Hai, đi địu trung bình mỗi toán 6 người, họ kỵ số 5 là ngũ tức ngũ quỷ, số 7 là thất tức thất bại, số 6 tốt nhất vì 6 là lục, lục là lộc, phước lộc dồi dào, họ suy diễn và tin tưởng như vậy. Trưởng toán địu gọi là Ông Bầu Địu, người nhiều kinh nghiệm uy tín có trách nhiệm quyết định mọi việc trong toán như lộ trình, địa điểm, thời gian, công tác... và được đền bù mỗi khi trúng "của” trầm kỳ được hưởng thêm một phần. Ông là người thay mặt toán lo mọi việc cúng kính, cúng sau khi được của, cúng trước khi đóng trại, ra quân...

Khi đến điểm thì đóng trại, trại được làm bằng cây và lá rừng, bên bờ suối khe nước, trước trại nhóm một đóng lửa cháy suốt ngày đêm. Đóng trại xong, mọi người ăn uống, nghe ông bầu phân công tác rồi đi ngủ. Sáng hôm sau cả toán dậy sớm nấu cơm, ăn sáng, dở theo cơm trưa, rồi cầm rựa rìu ra quân mỗi người đi mỗi hướng thường cách trại chừng 3km để tìm "Của Ông Bà" lâu lâu hú lên vài ba tiếng làm kinh động cả núi rừng.

Người đi địu kiêng cử đủ thứ, như đi lạc gọi là xịnh, gạo gọi là mể, muối gọi là diêm, đá gọi là đớ, đói gọi là xót, cọp gọi là anh Hai, voi gọi là ông Lớn, v.v... Nồi niêu chén bát rửa xong không được úp, vì úp nồi là trù đói. Ai phạm điều cấm kỵ và tiếng lóng nghề nghiệp thì bị ông Bầu phạt sắm lễ vật cho chuyến sau, nếu nặng thì có thể bị đuổi ra khỏi bầu.

Mỗi chuyến đi từ 15 ngày đến 1 tháng, trước khi đi phải chuẩn bị rìu, rựa, đồ xoi xỉa, nồi niêu, chén bát, thuốc men, áo lạnh... và lương thực đủ dùng trong chuyến đi gọi là sắm chuyến. Trước khi đi dân địu thường đến Tàu Kê mượn tiền để sắm chuyến. Mùa Đông mưa gió không đi được thì vay mượn Tàu Kê để chi tiêu khi nào đi được có hàng thì đem bán cho họ với giá đặc biệt.

Chuyến nào lỗ mể thì trên đường về hái trái đỏ, trái xay, trái da, trái ư, trái thị, hoặc rễ ăn trầu... về bán. Đôi khi cũng trúng mánh, ít thì vài ký, nhiều thì đôi ba chục ký, kỳ nam ăn từ trên cành xuống tận gốc rễ. Khi được "của" họ vui mừng bảo "Ông Bà ỉa trên đầu trên cổ". Họ tập trung tại nhà ông bầu để lo sắm sửa lễ vật như heo quay, vịt quay, chè xôi, bánh trái, trà rượu... để cúng tạ Thần linh. Cúng tại gia xong, họ sắm lễ vật mang lên tận gốc cây dó mà họ trúng của để tạ ơn. Lễ cúng gồm có: một mâm cúng Bà Thiên Y A Na hay bà Chúa Thượng Ngàn, một mâm cúng Cậu Hai Nguyễn Lương, một mâm cúng Sơn Thần Thổ Địa, một mâm cúng Sơn Lâm Chúa Tướng, một mâm cúng Tam Cõi Hội Đồng, một mâm cúng Các đẳng âm hồn cô hồn.

Còn gì vui sướng hơn khi trúng kỳ nam! Cúng kính xong họ mời bạn bè đến ăn uống nhậu nhẹt ca hát tới nửa đêm.

Trầm hương là khí anh tú kết tụ trong cây dó sống lâu năm trên núi cao. Trầm hương gồm 2 thứ: Trầm và Kỳ. Trầm do dó lưỡi trâu, dó cam sinh ra. Kỳ do dó bầu sinh ra. Kỳ là trầm có nhiều dầu. Trong những cây dó có trầm thỉnh thoảng có kỳ. Và trong những cây dó có kỳ thì trầm bao bọc chung quanh hay ở bên cạnh. Thường thì trầm có nhiều mà kỳ thì rất hiếm. Trầm chất cứng và nặng, màu hơi vàng, vị đắng. Kỳ nhẹ, mềm, màu đen đủ vị cay chua ngọt đắng. Trầm mùi ngát, kỳ mùi thanh. Khói trầm bay vòng quanh, khói kỳ bay thẳng. Trầm dùng trị giáng khí, kỳ dùng trị phong đàm, mài uống hay xông. Ngậm trong miệng trị đau bụng hiệu nghiệm như thần. Trầm kỳ đuổi tà khí, trầm đốt lên, kỳ đeo trong người.

Kỳ có 4 thứ: nhất bạch nhì thanh tam huỳnh tứ hắc, dùng để làm thuốc trị bệnh.

Trầm dùng để đốt trong lúc tế tự, lễ lạc, yến tiệc nơi đài các phong lưu. Trầm chia làm 4 loại: Trầm mắt kiến do kiến đục trước khi thành trầm, trầm rễ, trầm mắt tử kết tạo ở nhánh cây, trầm tốc ở thân cây.

Trên bàn thờ Tổ Tiên trong đêm Giao Thừa lư trầm tỏa hương ngào ngạt làm cho kẻ tha phương chạnh lòng nhớ đến cố hương:

Đêm đêm đốt đỉnh hương trầm

Khói bay nghi ngút âm thầm nhớ quê

Miễu Bà, Ao Bà trên núi Hòn Bà là nơi linh thiêng, dân địu thường đến van vái cầu khẩn. Đây là một di tích cổ kính của giới Trầm Kỳ Ninh Hòa, một thế giới thần thoại đầy huyền bí mà Bà Thiên Y A Na là một vị Nữ Thần hay một vị Nữ Giáo Chủ được cả hai dân tộc sùng bái xưa và nay tại xứ Ninh cũng như trên toàn tỉnh Khánh Hòa.

Miễu Bà ở cạnh Ao Bà

Cùng nằm trên núi Hòn Bà linh thiêng

Uy Bà cọp dữ hóa hiền

Ơn Bà rải khắp mọi miền nhân gian
 

MIỄU CÂY THỊ:

Tọa lạc tại bờ sông Lốt dưới tàn cây thị gần Chùa Thiên Bửu Thượng, thuộc làng Điềm Tịnh, xã Ninh Phụng, huyện Ninh Hòa.

Miễu đã có từ lâu nhưng mới cất lại bằng gạch lợp ngói âm dương năm 1951. Miếu thờ Bà Hậu Thổ, tức Thần Đất, vị Nữ Thần trông coi đất đai. Hàng năm cứ đến ngày 18 tháng Ba Â.L. tại làng Điềm Tịnh có lễ cúng rất trọng thể gọi là Cúng Vía Bà, hay Cúng Đất. Vào lúc nửa đêm hầu như nhà nào cũng đèn đuốc sáng choang, giữa sân đặt một bàn hương án và trải một chiếc chiếu hoa sắp đầy đủ lễ vật như hương hoa trầm trà rượu chè xôi, riêng gà vịt que hột tợ luộc chín để nguyên con. Tại giếng cũng có đặt một mâm lễ vật. Những nhà giàu có còn mời cả thầy Lễ, hay thầy Pháp đến cúng tế có đọc văn tế rất bài bản, có lễ bắn cung đủ cả bốn phương tám hướng. Cúng xong, bè chuối sắp đủ lễ vật đựng trên những cái dĩa nhỏ xíu được cắt ra từ bẹ chuối, bè có cắm một cây cờ ngũ sắc tí hon được đem ra mương cái hoặc ra sông thả trôi theo dòng nước, tượng trưng cho chiếc thuyền chở đầy lương thực là biểu tượng của tình yêu thương, sự an lạc và no đủ. Họ tin rằng những oan hồn uổng tử trôi sông lạc chợ không mồ mã chẳng người cúng quảy sẽ rất hân hoan đón nhận những đồ cúng của họ gởi đến. Riêng trẻ mục đồng mỗi khi vớt được những bè chuối có nhiều bánh bánh ít, bánh cúng, bánh tét, bánh tẻ như vậy, chúng đem khoe với bạn lòng đầy vui sướng tự hào xem đó như là một chiến lợi phẩm hay một kỳ tích của chúng.

Chùa Thiên Bửu gần Miễu Cây Thị nên được làng giao cho việc nhang khói cúng quảy hàng năm tại Miễu rất trọng thể. .

Mỗi lần cúng Đình vào tháng Hai ta mỗi năm đều có cúng Miếu Bà và Miễu Cây Thị.
 

THÀNH THẠCH LŨY TRÊN NÚI ĐÁ VÁCH:

Núi Đá Vách tức là hòn Giốc Thơ hay còn gọi là núi Rọ Tượng, vì đèo Rọ Tượng (40m) băng qua núi này, thuộc làng Tân Thủy xã Ninh Ích huyện Ninh Hòa.

Dãy núi Đá Vách cùng một sơn mạch với Hòn Bà, khi qua khỏi đèo Rọ Tượng sườn núi vòng sâu vào bên trong thành một hình móng ngựa bao lấy cánh đồng thôn Phú Hữu, trong dãy núi này có Hòn Son (660m) núi Duệ Ba gần Lương Sơn, hòn Khô (329m) hòn Chùa (682m) thuộc huyện Vĩnh Xương.

Vì núi Đá Vách địa thế hiểm trở, một phía dựa vào các ngọn núi cao, một phía nằm sát biển nên trước kia người Chiêm Thành đắp thành xây lũy trên núi để phòng vệ gọi là thành Thạch Lũy, hiện nay vẫn còn. Thành làm toàn bằng đá xếp có thư lớp. Dưới chân thành có một cái hồ nước trong veo sâu thăm thẳm, xung quanh hồ, đá được xếp thành bờ rất đẹp. Ngoài thành Thạch Lũy ra còn có đồn bót xây bằng xi măng cốt sắt kiên cố do quân đội viễn chinh Pháp xây trong cuộc chiến tranh 1945-1954.

Thành Thạch Lũy còn in đậm dấu tích của một đất nước hùng cường nhưng hiện nay không còn tồn tại. Mỗi khi qua đèo Rọ Tượng đứng nhìn lòng không khỏi ngậm ngùi tiếc thương cho một dân tộc, đất nước mà hoàn cảnh lịch sử thật quá ư khắc nghiệt!

"Thương hải biến vi tang điền"

(Biển xanh hóa ra ruộng dâu)

 

  

 KẾT LUẬN:

Thắng cảnh tức là cảnh đẹp thiên nhiên có tiếng trong lúc di tích là công trình cổ kính của người xưa còn lưu lại.

Thắng cảnh và di tích xứ Ninh thật tuyệt vời phong phú!

Thắng cảnh hội đủ yếu tố màu sắc, tính chất, địa lý, lịch sử. Sông hồ, núi non, biển cả, hải đảo luôn có mặt. Vì thế thắng cảnh xứ Ninh có một vẻ đẹp rực rỡ đa diện.

Riêng di tích không thiếu sự hiện diện của các nền văn minh, tôn giáo, văn hóa, từ Đông sang Tây từ Nam xuống Bắc, từ Thượng, Chàm, Việt, Tàu, Miên, Indonésia, Mã Lai Á cho đến Pháp, Mỹ.

Qua thắng cảnh chúng ta thấy Trời đã ban cho Xứ Ninh nhiều thắng cảnh phong phú tuyệt vời. Qua di tích chúng ta thấy người xứ Ninh tức người Khánh Hòa nói chung hiền hòa có tấm lòng luôn rộng mở để chào đón tất cả mọi sắc tộc mọi nền văn minh văn hóa riêng biệt, biết chọn lọc, có ý thức tôn trọng tha nhân, có thái độ hòa nhã hiếu khách trong giao tế cũng như sẵn sàng chung sống hòa bình với tất cả mọi người trong tinh thần dĩ hòa vi quý. Về tín ngưỡng, rất mạnh, nhưng không rơi vào cực đoan cuồng tín, luôn yêu quý thiên nhiên, kính Trời yêu người, lúc nào cũng tỏ lòng tri ân Trời Phật Thánh Hiền, coi trọng lễ nghĩa liêm sĩ và luôn ước mơ một cuộc sống an lạc thái bình, mưa thuận gió hòa, người người hạnh phúc, nhà nhà yên vui.

Qua thắng cảnh di tích tuyệt vời phong phú, để tỏ lòng tri ân tiền nhân chúng ta không có gì hơn gìn giữ tôn trọng và phát triển thắng cảnh di tích của tiền nhân để lại.

Qua thắng cảnh chúng ta thấy tâm hồn nhẹ nhàng và qua di tích chúng ta gặp gỡ người xưa.

Hạc vàng ai cỡi đi đâu

Mà đây hoàng hạc riêng lầu còn trơ

Hạc vàng đi mất từ xưa

Nghìn năm mây trắng bây giờ còn bay

(thơ Thôi Hiệu, Tản Đà dịch)

 

  

 

Đọc:  Xứ Ninh: Thắng Cảnh và Di Tích  - 

 Phần 1       Phần 2       Phần 3       Phần 4       Phần 5     Phần 6    Phần 7

 Phần 8       Phần  9      Phần 10    Phần 11   Phần 12

 

 

          VINH HỒ
(Orlando, Tháng 10/2004)

Tài liệu tham khảo:

Lược sử Chùa Thiên Bửu, 1993, Ban Hộ Tự và Tổ Sử
Lịch Sử Chùa Huệ Thành Hội Quán, Đường Sơn (Quách Cảnh dịch)
Lịch Sử Chùa Trường Thọ, Ban Hộ Tự
Lịch Sử Chùa Phật Học, Ban Hộ Tự
Sơ Lược Lịch Sử Chùa Khánh Long, Nguyễn Khánh Vân
Tiểu Sử Chùa Sắc Tứ Thiên Ân, Ban Hộ Tự
Lịch Sử nhiều Chùa đăng trên: www.ninh-hoa.com
  <http://www.ninh-hoa.com>
Đôi Nét Lịch Sử về Giáo Họ Mỹ Hoán, Linh mục Trần Văn Điện
Lịch Sử Thánh Thất Đại Cát, Hiền hữu Võ Sự
Non Nước Khánh Hòa, Nguyễn Đình Tư
Xứ Trầm Hương, Quách Tấn
Ninh Hòa Lịch Sử Khái Quát, Nguyễn Văn Thành
Dốc Lết, Dương Tấn Long
Lăng Bà Vú, Thùy Trang
Suối Nước Nóng Dục Mỹ, Phó Đức Lâm
Trở Về Thăm Suối Nước Nóng - Hà Thị Thu Thủy
Đặc san Khánh Hòa Nha Trang, FL, TX, Nam CA, Bắc CA (nhiều số)
Việt Nam Sử Lược, Trần Trọng Kim
Sài Gòn 300 năm cũ, Nguyên Hương Nguyễn Cúc
Việt Nam Phật Giáo Sử Lược, Thượng Tọa Mật Thể
Lược Sử Phật Giáo Việt Nam, Thích Minh Tuệ