www.ninh-hoa.com

Non Nước HÀNG CHÂU1  2  3  4
B
ích Phượng


 




 

 
                                               
1  2  

        Kỳ 3:  


T
hôi Hiệu, một thi nhân nổi tiếng thời Đường thịnh khi qua đây, cảm hứng nét đẹp huyền ảo của trời chiều dần buông trên ḍng Trường Giang,cảnh mỹ miều lộng lẫy của Hán Dương bên kia sông, đă để lại một áng thơ tuyệt tác bất hủ trên vách lầu Hoàng Hạc. Bài thơ đó như sau :

Hoàng Hạc Lâu
Nguyên tác: Thôi Hiệu

七言律詩

崔顥

黃鶴樓

昔人已乘黃鶴去, 此地空餘黃鶴樓。
黃鶴一去不復返, 白雲千載空悠悠。
晴川歷歷漢陽樹, 芳草萋萋鸚鵡洲。
日暮鄉關何處是? 煙波江上使人愁。

Dịch nghĩa:

Người xưa đă cưỡi hạc vàng bay đi,

Nơi đây chỉ c̣n lại lầu Hoàng Hạc:

Hạc vàng một khi bay đi đă không trở lại

Mây trắng ngàn năm vẫn phiêu diêu trên không

Ḷng sông quang tạnh in rơ cây đất Dương Hán

Cỏ xanh mướt ở băi sông Anh Vũ,

Trời về chiều tối, tự hỏi quê nhà nơi đâu?

Khói sóng trên sông khiến ai buồn sầu.


Bài dịch I
:
Hoàng Hạc Lâu

Người đi cưỡi hạc từ xưa,

Đất này Hoàng Hạc c̣n lưa một lầu.

Hạc vàng đi mất từ lâu,

Ngàn năm mây trắng một mầu mênh mông.

Hán Dương cây bóng ḷng sông,

Băi kia Anh Vũ, cỏ trông xanh ŕ.

Chiều hôm lai láng ḷng quê,

Khói lan sóng vỗ, ủ ê nỗi sầu.

- Trần Trọng Kim


Bài dịch II
:
Lầu Hoàng Hạc

Hạc vàng ai cưỡi đi đâu?

Mà nay Hoàng Hạc riêng lầu c̣n trơ.

Hạc vàng đi mất từ xưa,

Ngh́n năm mây trắng bây giờ c̣n bay.

Hán Dương sông tạnh cây bày,

Băi xa Anh Vũ xanh đầy cỏ non.

Quê hương khuất bóng hoàng hôn.

Trên sông khói sóng cho buồn ḷng ai.

-Tản Đà


Bài dịch III
:
Hoàng Hạc Lâu

Người xưa cưỡi hạc đă cao bay,

Lầu hạc c̣n suông với chốn nàỵ

Một vắng hạc vàng xa lánh hẳn,

Ngh́n năm mây bạc vẩn vơ baỵ

Vàng gieo bến Hán, ngàn cây hửng,

Xanh ngắt châu Anh, lớp cỏ dầỵ

Trời tối quê hương đâu tá nhỉ ?

Đầy sông khói sóng gợi niềm tây

- Ngô Tất Tố


Bài dịch IV
:
Lầu Hoàng Hạc (1)

Người xưa cỡi hạc đă đi rồi
Lầu Hạc c̣n trơ đất cũ thôi
Một thoáng hạc vàng xa thẳm lánh
Ngàn năm mây trắng lững lờ trôi.
Hán Dương sông tạnh hàng cây thắm
Anh Vũ bờ xanh lớp cỏ tươi (2)
Lai láng t́nh quê chiều lữ thứ
Trên sông khói sóng dạ bồi hồi

Trần Nhất Lang

(1) Hoàng Hạc Lâu trên ghềnh đá Hoàng Hộc thuộc huyện Vũ Xương, tỉnh Hồ Bắc

2) Băi Anh Vũ thuộc bắc ngạn sông Trường Giang, gần thành Hán Dương phía tây nam huyện Vũ Xương.

Hôm nay đứng trên ngôi lầu Hoàng hạc này, nhớ đến bài dịch của cha tôi, ḷng tôi bỗng dâng một nỗi sầu miên man ...Chốn cũ c̣n đây nhưng cảnh không c̣n thơ mộng tao nhă như ngày xưa nữa. Hoàng hạc lâu đă trở thành một khu du lịch đầy tính cách thương mại, cạnh tranh thị trường. Ngôi tháp lầu bằng gỗ đă được thay thế bằng kiến trúc xi măng .Thiết trí trong lầu quá hiện đại tuy đẹp nhưng không c̣n biểu lộ hết nét diễm t́nh huyền ảo mong manh của Hoàng hạc Lâu thuở xưa...

Nhưng khi đứng trước bài thơ của Thôi Hiệu tôi cảm thấy chơi vơi như đi ngược ḍng thời gian. Tôi mơ hồ thấy ḿnh như đang trở về một thời thịnh Đường. Nhắm mắt lại tôi để hồn ḿnh ch́m vào quá khứ với những tiếng cười ṛn ră, tiếng ngâm thơ sang sảng lồng trong tiếng sáo tiêu vi vút...Mùi hương nồng nàn của rượu ...Một khúc nhạc âm hưởng liêu trai...Phải chăng đây là Khúc " lạc mai hoa " trong bài thơ của Lư Bạch.

Dữ Sử lang trung ẩm thính Hoàng Hạc lâu thượng xuy địch

與史郎中欽聽黃鶴樓上吹笛

一為遷客去長沙
西望長安不見家
黃鶴樓中吹玉笛
江城五月落梅花

Nhất vi thiên khách khứ Trường Sa
Tây vọng Trường An bất kiến gia
Hoàng Hạc lâu trung xuy ngọc địch
Giang thành ngũ nguyệt "Lạc mai hoa"

Dịch Nghĩa:

Thân là một người khách đến tận Trường Sa xa vạn dặm
Trông ngóng sang phía Tây về thành Trường An mà không thấy nhà
Ở trên lầu Hoàng Hạc,
tiếng sáo ngọc thổi
Giữa tháng năm, (sáo thổi) vang lên khúc "Lạc Mai Hoa" trên sông nước dưới chân thành

Lạc mai hoa: tên một khúc địch (loại sáo thổi ngang), âm điệu năo nề gợi niềm lữ thứ tha hương


Dịch Thơ
:

Ngàn dặm Trường Sa khách tới đây

Trường An nhà cũ khuất trời tây

Tháng Năm tiếng sáo trên Lầu Hạc

Vọng xuống thành sông khúc Lạc Mai.

Tiểu Vũ Vi dịch.

 

(Xem tiếp kỳ 4)


Bích  Phượng
 

Trang Văn Thơ: Bích Phượng

                                                     4 


                                 1  2  3 

          Kỳ 4:  


Cung điệu du dương trầm bỗng đă làm tôi nhớ đến bài "Trường Tương Tư " mà Sơn đă tặng cho tôi viết theo ư thơ của Lư Bạch. Em tôi rất mến chuộng vị thi hào tài ba lỗi lạc này nên thường hay chọn những bài thơ hay của ông để phổ nhạc như " tương tiến tửu ", "thu tịch lữ hoài" hay "cổ phong"...
 

Thu tịch lữ hoài
Nguyên tác: Lư Bạch

秋夕旅懷

涼風度秋海。
吹我鄉思飛。
連山去無際。
流水何時歸。
目極浮云色。
心斷明月暉。
芳草歇柔艷。
白露催寒衣。
夢長銀漢落。
覺罷天星稀。
含悲想舊國。
泣下誰能揮。

Giờ đúng trước bút tích của Lư Bạch, tôi nghĩ đến câu chuyện truyền thuyết lăng mạn của lầu Hoàng Hạc, bài thơ của Thôi Hiệu, bản dịch của cha tôi, ḍng nhạc của em tôi...Tôi đă viết một bài thơ về Lầu Hoàng Hạc khi tâm tôi bồi hồi xúc động. Bao nỗi niềm tôi gửi trọn vào trong mấy vần thơ này:
 

Lầu Hoàng Hạc

Người đi theo hạc khuất chân trời

Lầu vắng hoàng hôn lặng lẽ trôi

Muôn thuở phượng hoàng bay viễn xứ

Ngh́n năm mây trắng giạt ngàn khơi

Hán Dương lộng bóng rừng cây thắm

Anh Vũ mượt mà thảm cỏ tươi

Chiều xuống, sầu thương về cố quận

Sương đêm khói sóng lệ đầy vơi...

Tiểu Vũ Vi


Chùa Linh n

Cách Tây Hồ không xa là chùa Linh Ẩn, nằm trong thung lũng dưới chân một ngọn núi, là một trong 10 ngôi chùa lớn nhất Trung Quốc. Trên con đường vào chùa, tôi mê say ngắm nh́n nhiều pho tượng lớn nhỏ khắc trong đá núi với những đường nét cổ kính phủ đầy rêu phong.

Theo kinh sách th́ vào năm 326 trước Tây lịch, có một nhà sư Ấn Độ pháp danh Huệ Căn đă đến Hàng Châu. Khi Ngài nh́n thấy thung lũng yên tịnh, ba mặt vây phủ bởi núi đồi và cây rừng, nhận ra đây là địa linh thích hợp cho việc ẩn tu. Ngài đă xây một ngôi chùa và đặt tên là Linh Ẩn. Chùa Linh Ẩn là một thắng cảnh du khách dập d́u : ngôi chùa chính vĩ đại và cổ kính gồm nhiều điện rộng lớn tồn trữ những pho tượng uy nghi đẹp đẽ..

Đại sảnh là một công tŕnh kiến trúc đời nhà Đường với nhiều lớp mái cong. Trên nóc có chạm "Lưỡng long tranh châu". Tượng Đức Thích Ca Mâu Ni, tọa trên một ṭa sen, giữa đại sảng đường, cao khoảng 20 thước. Đây là bức tượng Phật ngồi lớn nhất Trung Quốc hiện nay.

Trên trán tượng Phật Thích Ca là huệ nhăn sáng lấp lánh, phía sau đầu Ngài là một tấm gương tṛn lớn, bao quanh gương là bảy tiền thân của Đức Phật. Đầu Ngài hơi ngả về phía trước, tay phải đặt trước ngực. Gần cửa, từ trên trần buông xuống một ngọn đèn vĩnh cửu mà ngọn nến trong đèn cháy được giữ cháy suốt ngày đêm, từ năm này sang năm khác.


Núi Phật Phi lai Phong

Đây là ngọn núi đá trước chùa Linh Ẩn, cách chùa bởi ḍng suối nhỏ, cao 168m, có vô số hang hốc. Triền núi được tạc khắc khoảng 380 pho tượng Phật giáo từ niên kỷ thứ 10.

Tại vách phía đông có ba bức tượng khá cổ của năm 951, tạc đức Thích-ca, Quan Âm và Dược Sư. Tượng lớn nhất là tượng Di-lặc thuộc đời nhà Tống (960-1270), tay cầm xâu chuỗi.

Dựa trên truyền thuyết th́ ngày xưa trước chùa chỉ là băi đất trống, rồi đến một đêm nọ, sau tiếng sấm vang dội, th́nh ĺnh có ngọn núi lướt gió bay đến đáp xuống đó. Vào thế kỷ thứ 3 có nhà sư Ấn Độ viếng cảnh chùa thấy núi bỗng buột miệng nói rằng “Ở Ấn Độ có vách đá y hệt như thế nầy, có lẽ, vách đá Ấn Độ đă bay đến đây chăng?”. Đó là ngọn Linh Thứu, chỗ Phật thuyết Diệu pháp liên hoa, đă bay từ Ấn Độ về cực lạc và "nghỉ chân" ngay trước Linh Ẩn tự. Từ sự tích đó, ngọn núi mới có tên là Phi Lai phong.

Xe lửa chuyển bánh để lại Hàng Châu sau lưng tôi ch́m trong sương khói lam chiều, ḷng tôi sao hắt h́u một nỗi buồn. Như trong lời dịch "Mùa Xuân Trên Hồ" của cha tôi, tôi cũng mang một tâm tư quyến luyến như thi hào Bạch Cư Dị:

"...Rời chốn Hàng Châu chưa nở bước
Nơi đây c̣n vướng nửa tâm t́nh..."

HẾT

 

Viết tại Paris 8/2005 –
Bích  Phượng



 

                                              

 

 

Trang Văn Thơ: Bích Phượng