|
|
NAM TRUNG TẠP
NGÂM
(Tập 02)
Dương Anh Sơn
Chuyển Lục Bát

|

Bài 01:
PHƯỢNG HOÀNG
LỘ THƯỢNG TẢO HÀNH
鳳凰路上早行
Chinh phu hoài
征夫懷往路
Dạ sắc thượng mông mông.
夜色尚蒙蒙
Nguyệt lạc viên thanh ngoại, 月落猿聲外
Nhân hành hổ tích trung.
人行虎跡中
Lực suy thường
力衰常畏路
Phát đoản bất cấm phong.
髮短不禁風
Dă túc phùng tiều giả,
野宿逢樵者
Tương liên
相憐不在同
TẠM CHUYỂN LỤC BÁT:
TRÊN ĐƯỜNG ĐI PHƯỢNG HOÀNG LÚC
SÁNG SỚM
Người đi xa nhớ đường
qua,
Sắc đêm mờ tối là đà mưa sa.
Bên ngoài vượn hú
trăng tà,
Người đi vết cọp hẳn là ở trong.
Thường lo sức yếu đi
đàng,
Tóc kia hớt ngắn chẳng kham gió lồng.
Gặp ông tiều nghỉ
cánh đồng,
Thương nhau cho dẫu chẳng cùng giống nhau.
DỊCH NGHĨA:
Người đi xa nhớ lại con đường đă đi qua. Sắc màu của trời đêm
vẫn c̣n mờ tối có mưa rơi lác đác. Ngoài xa trăng đă lặn và có
tiếng vượn hú. Người đi ở trong chốn có dấu chân loài hổ. Sức
lực yếu đuối nên vẫn thường sợ lo cho việc đi đường. Mái tóc cắt
ngắn không kham được những cơn gió. Lúc nghỉ ngơi ở cánh đồng đă
gặp bác tiều phu. Thương mến nhau dẫu hoàn cảnh không giống ǵ
nhau.
CHÚ THÍCH:
Bài thơ này được làm ra khi Nguyễn Du vào kinh đô Huế nhận chức
sau thời gian cáo bệnh về nghỉ ở quê nhà (1804) đă đi qua vùng
núi ở phía nam Hà Tĩnh có một quán tên là Phượng Hoàng và cũng
là tên con đường núi này.
|
|
|
尚
|
thượng: |
vẫn c̣n, ngơ hầu, coi
trọng, thêm, chuộng. |
|
蒙蒙
|
mông mông: |
mưa lác đác rơi lúc trời mờ tối. |
|
虎跡
|
hổ tích: |
dấu chân cọp. |
|
相憐 |
tương liên: |
thương yêu nhau. |
|
|
|
|
 
Bài 02:
NGẪU THƯ CÔNG QUÁN BÍCH (Bài 1)
偶書公館壁(一)
Triêu xan nhất vu phạn,
朝餐一盂飯
Mộ dục nhất bồn thuỷ.
暮浴一盆水
Bế môn tạ tri giao,
閉門謝知交
Khai song kiến kinh kỷ.
開窗見荊杞
Song ngoại kinh kỷ mạn thả trường,
窗外荊杞蔓且長
Mĩ nhân du du cách cao tường.
美人悠悠隔高牆
Đỗ vũ nhất thanh xuân khứ hĩ,
杜宇一聲春去矣
Hồn hề quy lai bi cố hương.
魂兮歸來悲故鄉
TẠM CHUYỂN LỤC BÁT:
NGẪU HỨNG ĐỀ VÁCH CÔNG QUÁN (Bài 1)
Cơm ăn một bát sáng hôm,
Tắm khi chiều tối một bồn nước thôi.
Bạn thân cài cửa tạ người,
Mở song cửa thấy kia rồi kỷ gai.
Ngoài song gai kỷ quấn dày,
Tường cao người đẹp cách đây xa vời.
Quốc kêu một tiếng: xuân trôi,
Nhớ thương quê cũ.
Hồn ơi! Hăy về!
DỊCH NGHĨA:
Sáng mai sớm ăn một chén cơm. Chiều tối tắm rửa với một chậu
nước. Bạn bè thân thiết xin tạ lỗi, cửa đă đóng không tiếp
được! Mở cửa sổ chỉ thấy cây gai cây kỷ. Bên ngoài cửa sổ, cây
gai cây kỷ mọc quấn quanh dày đặc. Người đẹp xa xôi ở cách
tường cao. Tiếng con chim quốc kêu báo mùa xuân đă đi qua. Hồn
ơi! Hăy về đi thôi! Quê hương cũ ơi nhớ thương xót xa!
CHÚ THÍCH:
|
|
|
公館 |
công quán: |
nơi đề các quan lại, chức việc triều đ́nh nghỉ ngơi và làm việc
khi đi công tác ở một địa phương. |
|
盂 |
vu: |
chén đựng thức ăn hoặc đồ uống, dàn trận săn bắn. |
|
浴 |
dục: |
tắm rửa sạch sẽ. |
|
知交 |
tri giao: |
những người giao tiếp thân quen, hiểu biết nhau. |
|
荊 |
kinh: |
cây có nhiều gai mọc ở chỗ bị bỏ hoang. |
|
杞 |
kỷ: |
cây kỷ mọc um tùm thành bụi rậm. |
|
蔓 |
mạn:
|
cây cỏ ḅ quấn quanh các cây khác. |
|
杜宇 |
Đỗ Vũ: |
vua nước Thục là Đỗ Vũ buồn v́ nước mất, hóa thành chim đỗ quyên
ngày đêm kêu “gia gia” nhớ thương về nước cũ. Chim đỗ vũ, đỗ
quyên c̣n có tên là chim “tử quy” mà ta vẫn quen gọi là chim
“quốc quốc”. |
|
|
|
|
|
|
|
|
 
Xem
BÀI SỐ 03 -
04
Dương Anh Sơn
Giáo Sư Triết học
Trung học Ninh Ḥa
|