Năm
1082, Nguyễn Ánh thống nhất được đất nước sau khi đánh dẹp
được triều Tây Sơn và lên ngôi vua lấy hiệu là Gia Long. Trong
chuyến ngự giá ra Bắc, vua Gia Long đă ra chỉ thị cho mời các
cựu thần nhà Lê và các hiền tài ra giúp nước như Phạm Qúy
Thích, Phạm Đ́nh Hổ, Nguyễn Nể v.v… Lúc này Tố Như đă 38 tuổi
cũng có lệnh cho mời ra yết kiến vua để cùng theo tháp tùng đi
ra Bắc ( Đại Nam Chính Biên Liệt Truyện). Sau thời gian làm
Tri huyện Phù Dung và Tri Phủ Thường Tín ông được cử lên Nam
Quan đón tiếp sứ nhà Thanh sang phong vương cho vua Gia Long,
ông lại xin cáo bệnh về quê. Đó là chặng đường làm quan đầu
tiên đă được ghi trong “Thanh Hiên Tiền Hậu Tập” đă đề cập ở
phần trước (1804).
NAM TRUNG TẠP
NGÂM là những bài thơ được Nguyễn Du làm ra khi được thăng
Đông Các học sĩ, tước Du Đức Hầu vào nhận chức trong triều
đ́nh tại Huế (1805). Đến năm 45 tuổi (1809), ông lại được bổ
làm Cai Bạ dinh Quảng B́nh. Công tŕnh sưu tầm tập thơ này
trước sau được 40 bài được Tố Như sáng tác trong thời gian
này.
* *
*
Con đường ra
làm quan với triều đ́nh nhà Nguyễn cũng chỉ là chuyện bất đắc
dĩ với Nguyễn Du mà thôi. Một người như Tố Như từng có một
thời gian dài sống ung dung tự tại nơi dăy núi Hồng, do hoàn
cảnh thay đổi của lịch sử, việc làm quan xét cho kỹ chỉ là
chuyện đối phó với thời thế và một phần nào là chuyện cơm áo.
1/ Trước hết,
NAM TRUNG TẠP NGÂM đă cho chúng ta thấy rơ Tố Như thường vẫn
để ḷng tưởng nhớ quê nhà khi ra làm quan. Chốn quê nhà của
ông không phải chỉ có “thập khẩu hài nhi thái sắc đồng” (Ngẫu
Hứng – Bài 4) mà c̣n là nỗi niềm nhớ thương về một quê hương
với mùa thu xa xôi của một thuở nào chưa bị chuyện làm quan bó
buộc:
…“Bất tài
đa khủng tốc quan phi,
Niên niên
thu sắc hồn như hử.
Nhân tại
tha hương bất tự tri”
(Giang Đầu Tản
Bộ - Bài 1)
Không có tài
nên nhiều cái sợ v́ việc quan thường vội vă dễ sai lầm. Sắc
thu mỗi năm đều như thế cả. Người đang ở chốn quê xa không tự
ḿnh hay biết đó thôi…
Ước vọng tự do
của một thuở nào khi c̣n ẩn thân ở dăy núi Hồng luôn luôn canh
cánh trong ḷng Tố Như:
…“Vọng ngoại
Hồng Sơn tam bách lư,
Tương ṭng hà
xứ vấn tiền lân.”
(Ngẫu Đắc).
Nh́n về dăy
núi Hồng ngoài ba trăm dặm, biết chốn nào để theo hỏi thăm về
xóm cũ trước kia… Chốn xưa thân thiết và gần gũi của vùng núi
Hồng với những đám cây tùng hoặc là những ḥn đá núi được ví
như những người bạn đă cùng thề bồi có nhau:
“… Vị ngă hồng
sơn tạ tùng thạch,
Tái vô diện
mục kiến đồng minh.”
(Tạp Ngâm)
Thương nhớ
Hồng Sơn từ chốn quan trường là thương nhớ về một thuở nào
thong dong đuổi thú, xua chó đi săn trong non ngàn tràn đầy sự
tự do ngoài ṿng cương tỏa:
“Nghêu ngao
vui thú yên hà,
Mai là bạn cũ,
hạc là người quen.”
Hai câu thơ
được cho là của Nguyễn Du đề vào chén sứ khi đi sang Trung Hoa
(xem: Ảnh Hưởng đạo Phật trong Đoạn Trường Tân Thanh - Phần
tiểu sử Nguyễn Du) đă cho thấy rơ ít nhiều chí hướng của một
con người nghệ sĩ như Nguyễn Du luôn luôn yêu chuộng tự do v́
tự do đồng nghĩa với hạnh phúc. (xem thêm: Thôn Dạ, Tạp Thi,
Hành Lạc Từ … T.H.T.H.T)
2/ Tiếp đến,
NAM TRUNG TẠP NGÂM cũng cho ta thấy rơ tâm tư của Nguyễn Du
khi bất đắc dĩ ra làm quan cho triều Nguyễn. Gia đ́nh của ông
từ cha anh và các người trong ḍng họ đă chịu nhiều ân sủng
của vua Lê chúa Trịnh. Thời thế đổi thay, nhà Tây Sơn đă diệt
Trịnh ở Đàng Ngoài, Lê Chiêu Thống phải bỏ chạy sang Tàu cầu
cứu Măn Thanh. Rồi Nguyễn Ánh nhân cái chết Quang Trung, nội
bộ Tây Sơn chia rẽ đă dẹp được Tây Sơn và thống nhất đất nước.
Tấm ḷng của Nguyễn Du khi ra làm quan nhà Nguyễn vẫn hoài
vọng về triều Lê:
“Khả liên bạch
phát cung khu dịch,
Bất dữ thanh
sơn tương thủy chung.
Kư đắc niên
tiền tằng nhất đáo,
Cảnh Hưng do
quải cựu thời chung.”
(Vọng Thiên
Thai Tự)
Thương thay
cho mái đầu đă bạc mà vẫn c̣n đeo đuổi , lận đận nơi xa xôi,
không cùng ngọn núi xanh trọn niềm trước sau có nhau. Nhớ năm
trước đă từng ghé thăm nơi đây có treo quả chuông đúc từ thời
Lê Cảnh Hưng…. Một bên là hoài niệm những ngày tháng nhàn dật
cùng dăy núi xanh sống gần gũi với thiên nhiên và một bên là
mối hoài niệm kín đáo về thời Lê đă đi qua.
3/ Khi làm
việc trong triều đ́nh Huế, một con người vốn không hề có ham
muốn về chuyện danh lợi đă chứng kiến những toan tính và sự đố
kỵ của trường lợi danh: “Thượng uyển oanh kiều đa đố sắc” –
(Tống Nhân). Nơi vườn hoa của vua có nhiều con chim oanh xinh
đẹp vẫn đố kỵ ghen sắc đẹp của nhau…
Mặt khác, việc
quan phải giao tiếp với người cấp trên hoặc khi chầu vua, yết
triều làm cho ông mệt mỏi:
“Hữu h́nh đồ
dịch dịch,
Vô bệnh cố câu
câu…”
(Thu Chí)
Bởi có thân
nên phải vất vả, cực nhọc. Không có bệnh đau mà lưng phải lom
khom c̣ng xuống. Lưng phải c̣ng xuống v́ cấp trên, nhưng trong
việc quan, bọn nha lại vênh váo nơi công đường cũng làm ông
cảm thấy chán chường và mơ về chân trời cũ:
“… Sự lai đồ
lệ giai kiêu ngă
…
Vọng ngoại
Hồng Sơn tam bách lư…”
(Ngẫu Đắc)
Việc làm quan
trong triều đ́nh với những “d́ gió” hiềm tỵ, ghen ghét nhau
(Ngẫu Thư Công Quán Bích – Bài 2) hay nơi công đường chỗ trấn
nhậm ở Quảng B́nh đă cho thấy chốn quan trường không phù hợp
với những con người yêu tự do như Tố Như. Và ra làm quan ít
nhiều với Nguyễn Du cũng chỉ là việc cơm áo, đánh mất thuở
nghêu ngao của tự do:
…“Bạch đầu sở
kế duy y thực,
Hà đắc cuồng
ca tự thiếu niên”
(Dạ Tọa)
Tạm dịch:
…“Áo cơm lo
măi bạc đầu,
Được như thời
trẻ nghêu ngao hát cuồng”
(Ngồi ban đêm)
* *
*
Nh́n chung,
xét về mặt tư tưởng, việc ra làm quan nhà Nguyễn với 40 bài
thơ trong “Nam Trung Tạp Ngâm” cũng chỉ là một giai đoạn mới
để Nguyễn Du có thêm những kinh nghiệm sống thực về chốn quan
trường. Hiểu và sống đời làm quan để biết rơ chuyện danh lợi
chỉ là những hư ảo phù phiếm mà nhiều lần ông đă đề cập trong
T.H.T.H.T. Biết rơ chốn quan trường và danh lợi để Tố Như càng
khẳng định về sự tồn tại đích thực của tấm ḷng đă vượt lên
những bả vinh hoa ấy:
“Niên niên thu sắc hồn như hử”
(Giang đầu tản
bộ)
Sắc thu mỗi
năm đều như thế, chẳng hề thay đổi. Đó là những nhận định về
sự lớn rộng của thiên nhiên bao trùm lên mọi tuế toái của cuộc
sống trong đó có việc làm quan. Cho nên, khi Tố Như cho rằng:
“Tấm thân này đă bị giam giữ trong lồng cũi không t́m đâu được
sự phóng khoáng tự do” (Thử thân dĩ tác phàn lung vật, Hà xứ
trùng tầm hăn mạn du – Tân Thu Ngẫu Hứng) cũng chỉ là sự tiếc
nuối v́ bị bó buộc phải ra làm quan theo lệnh của triều vua
mới cũng như ít nhiều v́ nợ cơm áo mà thôi.
Phải chăng đó
cũng là một chiếc cầu đoạn trường cần phải trải qua và vượt
thoát trong cuộc đời? (“Đoạn trường ai có qua cầu mới
hay”-ĐTTT).
Mối tâm sự
ngỗn ngang của Tố Như cùng với những h́nh ảnh về thiên nhiên
và con người trong N.T.T.N đă đánh dấu một chặng đường làm
quan cho triều Nguyễn. Chỉ đến khi được thăng Cần Chánh Điện
học sĩ làm Chánh Sứ đi tuế cống nhà Thanh vào năm 1813 tâm tư
ông được mở rộng hơn và tư tưởng thiền học ngày càng được nâng
cao, tiến đến chỗ thấy rơ được chỗ rốt ráo của nó thông qua
tập thơ thứ ba là Bắc Hành Tạp Lục sau này. (Xem bài thơ:
“Lương Chiêu Minh Thái Tử Phân Kinh Thạch Đài” - Tập 3)