|
T
Á O
B
Ó N
Ở
N
G Ư Ờ
I C
A O
N
I Ê
N
(constipation IN
ELDERS)
Bác Sĩ NGUYỄN VĨ LIỆT
Người Cầu Gỗ, Ninh Ḥa
_____________________________
Bác sĩ Nguyễn-Vĩ-Liệt viết tại
Vancouver ngày12, tháng 8, năm 2002.
Những
chức năng xảy ra hàng ngày ở con người như: Ăn uống, Ngủ,
Tiểu tiện, và Đại tiện. Nếu chúng ta không đi đại tiện 3 lần
trong mỗi tuần, chúng ta bị táo bón. Táo bón là một bệnh rất
thông thường ở mọi người, nhất là người cao niên (trên 65
tuổi). Đa số các bác sĩ ít chú ư đến vấn đề này, nhưng người
cao niên lại rất chú ư nhiều.
1/ Thế nào mới gọi là táo bón và ai
thường bị táo bón?
Trước
hết, ta phải t́m hiểu về vấn đề tiêu hóa. V́ táo bón là một
bệnh của đường tiêu hóa. Nó liên quan đến vấn đề vận chuyển
của hệ thống tiêu hóa. Khởi đầu hệ thống tiêu hóa ở miệng.
Khi ăn uống, chúng ta nhai thực phẩm cho đến khi các loại
thực phẩm nhỏ hơn hay bằng 1 ly (millimètre), chúng ta mới
nuốt vào. Thực phẩm trong dạ dày (stomach) được nắn bóp cho
nhuyễn trước khi đi xuống hành tá tràng (thập nhị chỉ tràng
- duodenum). Ở dạ dày, thực phẩm được tiêu hóa bởi chất bài
tiết của dạ dày, được gọi là dịch vị. Dịch chứa phần lớn là
acid cho nên có vị chua. Sự di chuyển thực phẩm từ dạ dày
xuống hành tá tràng (duodenum) mất 15 phút cho chất lỏng và
45-90 phút cho thức ăn cứng.
Khi thực phẩm xuống đến hành tá tràng,
chúng được tiêu hóa hơn nữa bởi những chất bài tiết từ lá
mía (pancreas) và mật (bile) tiết ra bởi gan. Khi thực phẩm
đi qua tiểu tràng (duodenum, jejunum & ileum) những chất
dinh dưỡng được hấp thụ vào máu. Số c̣n lại được đưa đến đại
tràng (colon). Thời gian mất từ 40 phút cho đến 3 giờ (180
phút).
Đại
tràng chia làm 3 phần. Bắt đầu từ vùng bụng dưới bên phải
c̣n gọi là đại tràng đi lên (ascending colon). Phần thứ 2 đi
từ ba sườn bên phải qua đến ba sườn bên trái, vắt ngang qua
dạ dày được gọi là đại tràng ngang (transverse colon). Đoạn
thứ 3 đi từ ba sườn bên trái xuống đến bụng dưới có 3 phần:
đại tràng đi xuống (descending colon), đại tràng có h́nh chử
Z (sigmoid colon), và trực tràng (rectum). Trực tràng nối
liền hậu môn (anus). Thời gian để chất cặn bă đi từ cuối
tiểu tràng, qua đại tràng cho đến hậu môn mất từ 40-60 giờ.
Trong thời gian này, chất phế thải lại được đại tràng lấy
bớt một số muối khoáng (minerals) và nước.
Một
người ăn uống b́nh thường có thể đi tiêu từ 3 lần mỗi ngày
cho đến 3 lần mỗi tuần (2 ngày đi tiêu một lần). Cục phân
cũng không cứng và cũng không mềm quá. Khi cục phân b́nh
thường rớt xuống cầu tiêu, nó xoay trong nước 2 ṿng. Khi đi
cầu chúng ta không cần phải rặn (straining).
Táo bón xảy ra ở người cao niên nhiều hơn
người dưới 65 tuổi.
Người cao niên ở trong bệnh viện hoặc nhà
dưỡng lăo (nursing home) bị táo bón nhiều hơn. Táo bón xảy
ra ở những người này đến 60-70%.
-
Táo bón ở người phụ nữ nhiều hơn nam
giới.
-
Táo bón ở người da màu nhiều hơn da
trắng.
-
Táo bón ở những người nghèo nhiều hơn
người giàu.
-
Táo bón ít xảy ra ở những người có
tŕnh độ học thức cao.
Người cao niên thường than phiền về táo
bón một phần là họ chú ư đến vấn đề đi tiêu của họ nhiều hơn
người trẻ. Có những cao niên sống lẻ loi một ḿnh và ít tiếp
xúc với những người khác nên họ có kiến thức về sự tiêu hóa
của họ ít hơn.
Nói chung, dù ít tuổi hay nhiều tuổi,
những yếu tố chính ảnh hưởng đến táo bón là:
Thực phẩm thiếu chất sợi (low fiber diet) nên có ít
phân.
Không uống đủ nước: trung b́nh một người uống 2 lít
nước (litres) kể cả nước ngọt, bia rượu, canh…. Khi thiếu
nước, phân bị khô nên khó đi cầu.
Thiếu hoạt động: khi cơ thể ta vận chuyển như đi bộ,
các bắp thịt bụng co thắt và ép phân trong đại tràng chuyển
động.
Không có thói quen đi tiêu mỗi ngày: khi phân tụ tập
trong trực tràng (rectum) gần hậu môn tạo áp lực làm cơ ṿng
bên trong tự động mở ra và làm cho ta muốn đi tiêu. Nhưng cơ
ṿng bên ngoài điều khiển bởi năo bộ, theo ư muốn của ta.
Khi ta ngồi vào bàn cầu, chúng ta mở hậu môn ra (relax),
phân mới đi ra ngoài được. Cho nên, ta nên ngồi trên cầu
tiêu và mở hậu môn ra khoảng nửa giờ (1/2 hour) mỗi ngày dù
không đi tiêu được.
2/ Những nguyên nhân nào đ ưa
đến táo bón?
Táo bón đơn thuần:
thường không biết rơ
nguyên do. Có thể do 4 yếu tố vừa đề cập trên: ăn thiếu chất
sợi, uống không đủ nước, ít hoạt động, và không có thói quen
đi tiêu. Hay mắc đi tiêu mà ráng nhịn thường xảy ra ở phụ nữ
nhiều hơn.
Táo bón do hệ thống thần kinh trung ương
(Central nervous system):
Ở người cao niên, tai biến mạch máu năo
xảy ra ở những nơi trên năo dùng để điều khiển đại tràng và
hậu môn làm mất đi sự co thắt và dăn nở của các cơ trơn
trong đại tràng và cơ ṿng (sphincters) của hậu môn. Ngoài
ra sự yếu đuối của bắp thịt bụng và vùng xương chậu làm sự
di chuyển của phân trong đại tràng cũng khó khăn.
Bệnh Parkinson hầu hết xảy ra ở người cao
niên làm cho sự di chuyển thực phẩm trong hệ thống tiêu hóa
chậm chạp đưa đến táo bón. Ngoài ra, thuốc trị bệnh này cũng
gây ra táo bón.
Bệnh trầm cảm (suy nhược thần kinh -
depression), bệnh lẩn (dementia & confusion states) làm sự
nhận thức của bệnh nhân kém đi. Nhiều khi họ không biết nhà
vệ sinh ở đâu và nín luôn. Những bệnh này xảy ra ở người cao
niên rất nhiều.
Những
bệnh ở cột tủy sống ở lưng có thể làm cho đại tràng bất động.
Đó là chấn thương cột sống (spine injury) thường do bệnh
loăng xương (osteosporosis) ở người cao niên bị găy
(fracture), bệnh ung thư cột sống, thiếu máu đến cột sống do
nghẹt mạch máu, và bệnh teo cột sống (spinal cord stenosis)
do bệnh thấp khớp (arthritis) xương mọc nhánh (osteophytes)
hay viêm sưng đè ép vào cột sống. Những bệnh ở cột tủy sống
làm mất thần kinh đối giao cảm (parasympathic) đi đến đại
tràng và làm mất những nhu động (peristalsis) của ruột giúp
cho phân di chuyển đến hậu môn.
3/ Táo bón do thuốc men:
Trung b́nh một người cao niên uống từ 3-5
loại thuốc khác nhau mỗi ngày. Nhiều loại thuốc làm giảm hay
mất đi chức năng đi tiêu mỗi ngày. Sau đây là những loại
thuốc gây ra táo bón:
Các loại thuốc
chống đau (opioids):
như codein (Tylenol #1, 2,3), pethidine, morphine, fentanyl,
oxycodone…
Các thuốc chống
acid ở dạ dày (antacids):
như calcium và aluminum compounds: Maalox, Alugel…
Các loại thuốc
chống co thắt ruột (antispasmodics) :
như Buscopan, dicyclomin…
Các loại thuốc
chống trầm căm (antidepressants):
như imipramine, amitriptyline…
Các loại thuốc
chống bệnh tâm thần khác (antipsychotics):
như clozapine, chlorpromazine…
Các loại thuốc
trị bệnh Parkinson:
Benztropine
Các loại thuốc
trị tiêu chảy: Lomotil,
Imodium
Các thuốc trị
bệnh cao áp huyết (antihypertensives):
như Methyldopa, Clonidine, Propranolol, Verapamil, Diltiazem,
dihydropyridines calcium channel blockers (Norvasc, Adalat
XL, Renedil, Cardizem…)
Các loại thuốc
trị bệnh kinh phong (kinh giật/ anticonvulsant):
Phenytoin, clonazepam…
Các loại thuốc
trị thấp khớp (anti-inflammatory agents):
Naprosyn, Voltaren, Indocid, Motrin…
Các loại thuốc
để giăm cân (anoretic agents):
thường các bà uống để cho ốm bớt như clophentermine,
phenmerazine, phenfluramine.
Các khoáng chất:
aluminum, calcium compounds, chất sắt (iron compounds để trị
bệnh thiếu máu do thiếu chất sắt), ngộ độc ch́ & arsenic,
barium sulfate…
Các loại thuốc
khác: như polystyrens
resins, cholestyramine, thuốc ngừa thai (birth control
pill), octreotide…
4/ Táo bón do bệnh đường tiêu hóa:
Hội chứng bất ổn của ruột:
(irritable bowel syndrome) gây ra tiêu chảy rồi táo bón.
Ngoài ra có triệu chứng đau bụng, śnh ruột (bloating), mắc
đi tiêu thường xuyên. Đi tiêu và có căm giác không tiêu hết.
Thường bệnh này không biết rơ nguyên do nhưng các bác sĩ cho
rằng nó liên quan đến yếu tố tâm lư xă hội (psychosocial
stressors)
Những bệnh về hậu môn và trực tràng (anorectal diseases):
làm cho đau đớn khi đi
tiêu như bệnh trỉ (hemorrhoids), rách hậu môn (anal
fissure)… Thường do rặn quá nhiều khi đi tiêu làm sưng và
rách hậu môn đưa đến táo bón nặng hơn.
Ngoài ra các bệnh khác như sa hậu môn (ḷi dom - rectal
prolapse) hoặc loét trực tràng (rectal ulcer) cũng gây ra
táo bón: Những người
phụ nữ từng sanh đẻ do sự thay đổi kích thích tố sinh dục nữ
lúc mang thai, và sự rách, chấn thương lúc đẻ làm các bắp
thịt vùng chậu (pelvic muscles) yếu đi cũng làm đi tiêu khó
khăn hơn.
Ung thư đại tràng (colon cancer):
Khi một người thường bị táo bón và thiếu máu nên đi gặp bác
sĩ để xem có bị ung thư đại tràng hay không? Điều tốt hơn
hết, những người trên 65 tuổi nên thử phân có máu hay không
trong những lần khám tổng quát hàng năm. Thử máu trong phân
là một thử nghiệm đơn giản giúp cho bác sĩ t́m ra hầu hết
các bệnh ung thư đại tràng.
Bệnh Hirschsprung: bệnh
có thể xảy ra lúc c̣n sơ sanh nhưng cũng có thể xảy ra lúc
người bệnh đă trưởng thành. Bệnh có đặc tính mất các tế bào
và hạch thần kinh ở đại tràng.
5/ Táo bón do những bệnh khác:
Như bệnh suy tuyến giáp (hypothyroidism)
và cường tuyến giáp (hyperthyroidism) nhưng bệnh sẻ chấm dứt
khi người bệnh chữa bệnh đúng mức.
Bệnh nhiều calcium (hypercalcemia) hay
thiếu calcium trong máu (hypocalcemia) cũng gây ra táo bón.
Bệnh Porphyria là bệnh hiếm cũng gây ra
táo bón.
6/ Táo bón đưa đến những hậu quả nào
?
Khi
táo bón, phân bị khô lại (fecal impaction). Phân khô cứng có
thể đưa đến tắc nghẽn ruột (bowel obstruction). Khi bị táo
bón, đại tràng phản ứng lại bằng cách tiết ra nhiều chất
nhờn và nước làm bệnh nhân bị tiêu chảy. Chính tiêu chảy này
làm người ta uống thuốc trị tiêu chảy làm bệnh này càng thêm
trầm trọng. Đặc tính của tiêu chảy gây ra bởi táo bón
(spurious diarrhea) là phân có cục và có lỏng. Bệnh chia ra
làm 2 giai đoạn: táo bón rồi đến tiêu chảy. Sau tiêu chảy
lại táo bón.
Ngoài ra táo bón c̣n gây ra bí tiểu
(urinary retention) do sự dăn nở của đại tràng và bắp thịt ở
vùng xương chậu. Cục phân cứng có thể đè lên cổ bọng đái
(bladder outlet) làm bí tiểu rất khó chịu.
Táo bón gây ra đau bụng, nóng sốt, nhiễm
trùng, nhiễm độc ph́nh đại tràng (toxic megacolon) và xoắn
đại tràng h́nh chữ Z (sigmoid colon). Ngoài ra táo bón cũng
làm cho rách và lở trực tràng & hậu môn như đă đề cập trước
đây. Táo bón có thể làm thủng ruột. Khi rặn nhiều quá, bệnh
nhân có thể bị nhồi máu cơ tim (myocardial infarction).
7/ Làm thế nào để điều trị và ngừa táo
bón ?
Câu
trả lời đơn giản nhưng cũng rất phức tạp, đó là gặp bác sĩ
gia đ́nh. Chúng ta phải làm cho bác sĩ gia đ́nh chú ư đến
vấn đề này. Đặc biệt là bác sĩ nào không bị táo bón hay lơ
là đến vấn đề này. Thông thường các bác sĩ cho toa thuốc xổ.
Nhưng thuốc xổ hay thuốc nhuận trường có nhiều loại:
Thuốc
làm gia tăng số lượng của phân và lượng nước trong phân:
Như chất psylium thường dưới dạng bột như Metamucil,
Isphagula, Frangula và Sterculia. Methycellulose cũng được
xếp vào nhóm này nhưng ít được dùng làm thuốc xổ. Những
thuốc này gồm những chất không được hấp thụ vào máu và ngược
lại chúng giữ nước trong đại tràng làm gia tăng số lượng
phân.
Thuốc
làm phân mềm: như
Bisacodyl, Docusate sodium làm phân mềm bằng cách giữ nước
lại trong phân không cho tiểu tràng hay đại tràng hút hết đi.
V́ thế, thuốc này được các bác sĩ ưa chuộng nhất v́ chúng
giúp cho bệnh nhân tránh rặn khi đi tiêu.
Thuốc
làm cho trơn ruột (Lubricants):
như chất paraffin làm cho ruột trơn, phân dễ di
chuyển trong ruột. Biến chứng phụ của thuốc này làm bệnh
nhân dễ bị đi tiêu trong quần, ngứa hậu môn, và làm thức ăn
không hấp thụ vào máu. Thường những chất này được pha trộn
với thuốc kích thích đại tràng co thắt (stimulant laxatives)
như phenolphthalein (Agarol). Mọi người nên tránh loại này
ngoại trừ thuốc này được kê toa bởi các bác sĩ chuyên môn về
đường tiêu hóa.
Thuốc
làm tăng áp lực phân tử trong ruột (osmotic laxatives):
loại thuốc này trở nên rất phổ biến trong việc điều trị bệnh
táo bón kinh niên. Và chúng được coi như là thuốc chính dùng
để trị bệnh táo bón. Chúng là những chất Lactulose, Sorbitol,
mannitol, Glycerol, Polyethylene glycol (Colyte), Magnesium
sulphate, Magnesium phosphates.
Những thuốc này làm tăng lượng nước trong
đại tràng và tăng sự di chuyển của phân trong đại tràng đi
lên từ phía trái của bụng. Thuốc này dùng để trị bệnh táo
bón kinh niên (măn tính) ở người cao niên rất tốt.
Những
thuốc làm kích thích ruột già (secretagogues):
là những loại kích thích đại tràng co thắt và bài tiết nước
như phenolphthalein, bisacodyl, castor oil, anthraquinone (senna
& cascara sagrada). Dùng nhiều loại này gây ra xáo trộn chất
điện giải và không hấp thụ được mỡ và các loại vitamins A,
D, E, và K vào trong máu. Chính v́ vậy những người cao niên
không nên tự ư xử dụng những thuốc này mà không hỏi ư kiến
của bác sĩ.
Ngoài ra
những người cao niên xử dụng thuốc xổ thường xuyên đưa đến
nhiều biến chứngvề đường ruột. V́ thế trong bài này, tôi
tŕnh bày nhiều về đặc tính của các loại thuốc xổ. Tốt nhất
là nên hỏi ư kiến của bác sĩ cách xử dụng thuốc và xử dụng
trong bao lâu.
8/ Cách ngừa bệnh táo bón:
Như
tôi đă tŕnh bày ở phần đầu về các yếu tố ảnh hưởng đến vấn
đề đi tiêu, đó là thực phẩm nhiều chất sợi, uống nhiều nước,
thể dục thể thao, và thói quen đi tiêu mỗi ngày.
Vấn đề ăn: chất sợi là
thành phần quan trọng trong thực phẩm để ngừa táo bón. Chất
sợi chứa các chất cellulose, hemicellulose, pectins, lignins,
sáp (waxes) từ thành (walls) của tế bào thực vật. Các chất
này không hấp thu vào máu được. Cái ǵ ở trong ruột không
vào máu sẽ ra "ngả sau". Mỗi ngày, ta phải ăn ít nhất là
30-35 grams chất sợi. 10 grams chất sợi tương đương với 4
lát bánh ḿ nâu (whole grain bread) hay 3 oz lúa ḿ xay
nhuyễn. Đa số chất sợi ta ăn hàng ngày từ cơm gạo, bột, lúa
ḿ, lúa mạch, rau, và trái cây.
Chất methylcellulose và psyllium không có
trong thực phẩm nhưng ở dưới dạng thuốc cũng tốt cho việc
tiêu hóa. Nếu ta ăn nhiều chất sợi quá th́ cũng dễ bị đầy
hơi (bloating), x́ hơi (đánh giấm/passing gases) nhiều hơn
15 lần mỗi ngày và tức bụng. Đôi khi làm cho khó đi tiêu.
Vấn đề uống nước: Trung
b́nh một người phải uống nước (các loại) 1,5 lít mỗi ngày.
Nếu là mùa hè hay tập thể dục có đổ mồ hôi phải uống ít nhất
là 2 lít mỗi ngày. Ở người cao niên, cảm giác khát nước
thường bị mất nên họ uống nước ít. Cách hay nhất là để 2 lít
nước ở nơi chúng ta thường thấy (trên bàn hay đầu giường) để
dễ nhớ mà uống.
Vấn đề thể dục: Không
cần phải tập thể dục nhiều để dễ đi tiêu. Chỉ cần làm động
tác thể dục hay đi bộ nửa giờ mỗi ngày là có thể đi tiêu dễ
dàng.
Thói quen đi tiêu:
Thường vào buổi sáng vừa thức dậy hay sau mỗi bửa ăn, tiêu
hóa vận chuyển mạnh làm ta muốn đi tiêu. Chúng ta nên đi
tiêu đúng giờ và không cho ai quấy rầy. Không nên trả lời
điện thoại khi mắc đi tiêu. Dùng chỉ một nhà vệ sinh mỗi
ngày cũng giúp dễ đi tiêu. Nhà vệ sinh sạch sẽ, không hôi
hám nhiều cũng khuyến khích ta đi tiêu dễ dàng. Không dùng
chung nhà vệ sinh với người lạ hoặc nhiều người trong gia
đ́nh cũng giúp bớt táo bón. Đây là lư do tại sao các nước Âu
Mỹ có nhiều nhà vệ sinh trong cùng một căn nhà. Nếu hôm nào
không đi tiêu được cũng đừng bực bội.
Càng bực
bội càng táo bón.
Nói
tóm lại, những người cao niên khi bị táo bón phải làm những
biện pháp pḥng ngừa trước. Nếu thất bại, chỉ nên uống những
loại thuốc làm phân mềm như Metamucil hoặc Docusate sodium
thôi. Nếu c̣n thất bại nữa, đi gặp bác sĩ gia đ́nh. Khi gặp
bác sĩ gia đ́nh nên tŕnh bày chi tiết về bệnh táo bón của
ḿnh (nên sắp sẵn trong đầu hoặc ghi trên tờ giấy v́ ít có
bác sĩ có kiên nhẫn ngồi nghe những lời dài ḍng). Và nhớ
lưu ư bác sĩ là chúng ta đả làm biện pháp pḥng ngừa và uống
thuốc làm phân mềm rồi. Nếu người bệnh chỉ nói với bác sĩ là
"táo bón", các vị bác sĩ sẽ tự động cho toa thuốc làm phân
mềm và cách pḥng ngừa thôi và không t́m hiểu thêm. Nếu vị
bác sĩ nào không chú ư đến nữa, đó là lúc ta đi t́m bác sĩ
nào chú ư đến táo bón. Điều quan trọng là không nên thụt
tháo hay rửa ruột bằng nước ấm, nước muối, hoặc nước
xà-pḥng. Những phương pháp này làm khó chịu hậu môn và đại
tràng. Đôi khi làm ngộ độc nuớc v́ nước hấp thu qua đại
tràng rất dễ hoặc làm thủng ruột.
T ôi
hy vọng bài này giúp cho các vị cao niên hưởng 1 trong 4 tứ
thú của cuộc đời.
Đó là đi tiêu
dễ dàng.
Sách Báo Tham Khảo:
Motility of the Large
Intestine, : Sleisenger
& Fordtran's Gastrointestinal and Liver Disease, 7th ed.,
Copyright © 2002
Pelvic Organ Support
Study (POSST) and bowel symptoms: Straining at stool is
associated with perineal and anterior vaginal descent in a
general gynecologic population :
Margie A. Kahn, MD *, Carmen Radecki Breitkopf, PhD,
Michael T. Valley, MD, Patrick J. Woodman, DO, Amy L.
O'Boyle, MD, Deirdre I. Bland, MD, Joesph I. Schaffer, MD,
James J. Grady, DrPH, Steven E. Swift, MD.
American Journal of Obstetrics
and Gynecology
Volume 192 • Number 5 • May 2005
Copyright © 2005 Mosby, Inc.
Fecal Incontinence,
Lawrence R. Schiller, Feldman: Sleisenger & Fordtran's
Gastrointestinal and Liver Disease, 7th ed., Copyright ©
2002.
Constipation: evaluation and treatment
Satish S.C. Rao, MD, PhD, FRCP (Lon),
Department of Internal Medicine
University of Iowa Carver College of Medicine
200 Hawkins Drive
Iowa City, IA 52242, USA


Bác Sĩ Nguyễn Vĩ Liệt
|