|
UNG
THƯ VÚ
Bác Sĩ NGUYỄN VĨ LIỆT
Người Cầu Gỗ, Ninh Ḥa
_____________________________
(Bài này được viết vào năm
1993 và cập nhật hóa tài liệu vào năm 2003 và 2004)

Trong
những năm gần đây, hệ thống thông tin và báo chí đề cập đến
một vấn đề y-học đă làm cho giới phụ nữ tại Canada và Mỹ lo
lắng. Đó là ung thư vú.
Một trong những nguyên do tử vong
cao nhất của các loại ung thư ở phụ nữ. Ung thư vú ở đàn ông
rất là hiếm và cũng rất là độc. Ngoài việc giết chết người
bệnh, ung thư vú c̣n làm mất vẻ hấp dẫn của người phụ nữ sau
khi được chữa trị lành mạnh. Là một y sĩ, tôi muốn chia
xẻ
kiến thức của ḿnh để giới phụ nữ hiểu rơ vấn đề và pḥng
bệnh hữu hiệu.
Ai là người sẽ bị ung thư vú?:
Vào khoảng 175 ngàn người phụ nữ Mỹ được
chẩn đoán có ung thư vú trong năm 1991. Có nghĩa là có 17
ngàn trường hợp ung thư vú tại Canada trong cùng năm đó. Số
người mắc bệnh gia tăng rất chậm từ xưa đến 1980, số bệnh
nhân gia tăng thật nhanh, khoảng 32% từ 1980 cho đến 1987.
Có lẽ do nhiều nguyên do, và sự phát triển kỹ thuật về quang
tuyến X (mammogram) có lẽ là nguyên do chính của sự chẩn
đoán gia tăng nhanh. Mỗi 9 người phụ nữ ở Canada hay Mỹ có 1
người sẽ bị ung thư vú trong cuộc đời của họ; hay nói một
cách khác là 11% phụ nữ tại xứ sở này sẽ có ung thư vú. Cho
đến năm 1997, tỉ lệ vẫn không thay đổi. Cơ hội một phụ nữ
mắc bệnh tăng nhanh với tuổi tác.
-
1 trong 19.608 người phụ nữ bị mắc bệnh
ở lứa tuổi 25
-
Vào lứa tuổi 30, 1 trong 2.525 người
phụ nữ bị mắc bệnh ung thư vú.
-
Và tỉ lệ tăng nhanh lên đến 1 trong 50
người phụ nữ ở lứa tuổi 50
-
Tỉ lệ này lên đến 1 trong 8 người ở lứa
tuổi 85 bị mắc bệnh ung thư vú.
Vậy ai sẽ là người mắc bệnh?
Theo những quan sát của các nhà chuyên
môn về bệnh này, những phụ nữ có một hay nhiều điều kiện sau
đây có nhiều cơ hội mắc phải bệnh (không có nghĩa là những
người này sẽ hoặc đang có bệnh):
-
Tỉ lệ người phụ nữ mắc bệnh càng nhiều
khi tuổi càng cao.
-
Những người có chị em ruột hay mẹ có
ung thư vú.
-
Phụ nữ có những sang thương ở vú có thể
biến thành ung thư.
-
Có con đầu ḷng khi tuổi đă ngoài 30.
-
Những người lớn tuổi và chưa bao giờ
sanh đẻ.
Tôi xin nói rơ hơn là những phụ nữ có chị
em gái hoặc mẹ bị ung thư vú, có thể có ung thư vú trước 65
tuổi. Nếu sau tuổi này th́ được sắp vào loại đầu tiên. Ung
thư vú có liên quan đến số lượng kích thích tố sinh dục nữ
(estrogen). Nhưng trên thực tế, estrogen dùng để điều trị
chứng loảng xương (osteosporosis) và triệu chứng tắt kinh
(menopause) ở phụ nữ lớn tuổi vẫn không gây ra bệnh, v́ số
lượng estrogen dùng để trị liệu rất thấp. Chúng ta đă bàn
qua ai là người mắc bệnh.
Vậy ung thư độc hại như thế nào ?
Vào năm 1991, có 300 đàn ông và 44.500
phụ nữ ở Mỹ chết v́ ung thư vú. Có nghĩa là khoảng 30 nam
giới và 4.500 nữ giới chết v́ bệnh này tại Canada trong cùng
năm đó. Tỉ lệ tử vong của bệnh này chiếm 18% của tổng số các
tử vong ở tất cả các loại ung thư. Có nghĩa là cứ 100 người
phụ nữ chết v́ các loại ung thư th́ có 18 người đă mắc bệnh
ung thư vú. So với các loại ung thư cả hai phái, nó chiếm 9%
tử vong. Cứ 100 người cả nam lẩn nữ chết v́ ung thư vú, có 9
người phụ nữ đă mắc bệnh ung thư vú. Những con số này gây
một ấn tượng sợ hăi cho giới phụ nữ. Nhưng sợ hăi có trị
được bệnh không ?
Nếu
chúng ta hiểu được nguyên do của bệnh th́ hi vọng ta có thể
tránh được bệnh. Trước khi bàn luận về bệnh, tôi muốn tŕnh
bày rơ về cơ cấu và sự phát triển của một cái vú lành mạnh.
Vú hay nhũ hoa là một cơ quan sinh sản ở hai bên lồng ngực
của loài người và chứa đựng tuyến vú bài tiết ra sữa. Tuyến
vú phát nguồn từ tuyến mồ hôi. Bên ngoài là núm vú được bao
bọc bởi một lớp da sậm màu hơn (pigmented areola). Trên bề
mặt, có những tuyến tiết ra chất nhờn để núm vú khỏi bị khô
và nứt khi người đàn bà cho con bú. Trước tuổi dậy th́, trai
lẫn gái đều có cơ cấu của vú giống nhau. Ở nam giới, sự phát
triển của vú rất có giới hạn ở tuổi dậy th́ (puberty). Ngược
lại, vú của phụ nữ phát triển rất nhanh chóng dưới sự ảnh
hưởng của kích thích tố sinh dục nữ (estrogen và
progesterone) ở tuổi dậy th́. Sự phát triểnnày được kích
thích bởi sự tăng và giăm của những kích thích tố này trong
chu kỳ kinh nguyệt (menstrual cycle) và mỡ tích tụ (fat
deposit) ở ngực phụ nữ là lư do tại sao vú của phụ nữ lớn
hơn nam giới nhiều. Trong suốt thời kỳ mang thai, vú phụ nữ
phát triển nhiều hơn nửa và thực sự ạo ra sữa để nuôi con.

Ở
mỗi phụ nữ, tuyến vú có từ 15-20 nan (lobes) nằm trong một
lớp mỡ dày. Chính lớp mỡ này tạo ra h́nh dạng của vú. Mỗi
nan tuyến vú có h́nh tháp và định hướng về núm vú và có một
ống dẫn sữa. Ống dẫn sữa này ph́nh lớn dưới núm vú để chứa
đựng sữa được tiết ra. Sự phát triển của vú trong thời kỳ
mang thai được kích thích bởi estrogen tiết ra từ cái nhau
(placenta). Ngoài ra, một kích thích tố sinh dục khác,
progesterone cũng phụ vào việc phát triển này. Cùng lúc đó,
mỡ cũng tích tụ nhiều hơn ở vú và làm cho vú của phụ nữ chảy
xệ.
Tại sao có ung thư vú ? Ung thư là ǵ?
Ung thư là một bệnh mà sự phát triển
của những tế bào trong một cơ quan không theo thứ tự và sự
kềm chế của cơ thể. Những tế bào bất thường này lan rộng và
xâm nhập vào các cơ quan khác trong cơ thể, làm xáo trộn và
bế tắc sự hoạt động của những cơ quan này.
Sự thay đổi từ
tế bào b́nh thường thành tế bào ung thư không đơn giản như
tắt và mở đèn. Sự thay đổi trải qua 2 giai đoạn.
-
Giai đoạn đầu (Initiation phase) là sự
thay đổi về đặc tính di truyền của tế bào (spontaneous
mutation of the cellular DNA). Sự thay đổi này có tính
cách vĩnh viễn và không trở lại như xưa được.
-
Giai đoạn sau (Promotion phase), tế bào
tiếp xúc với chất gây ra ung thư (carcinogen). Hậu quả là
gia tăng sự tổng hợp của nhân di truyền (gene DNA). Tế bào
ung thư sanh sản lẹ. Giai đoạn thứ 2 mất nhiều năm để hoàn
tất.
Hầu hết (90%) các loại ung thư vú là sự
đột biến về thể chất (somatic mutation) xảy ra ở vú (breast
tissue) sau khi người phụ nữ đă ra đời. Sự thay đổi này có
tính cách lẻ tẻ (sporadic). 10% c̣n lại là do sự di truyền (germline
mutation). Sự đột biến (mutation) xảy ra từ người mẹ hay
người cha. Điều này chứng tỏ rằng những người phụ nữ không
có người thân bị ung thư vú cũng có cơ hội bị ung thư vú.
Các
nhà khoa học đă t́m được 2 loại nhân di truyền về ung thư vú:
BRCA 1 và BRCA 2 (breast cancer 1 & breast cancer 2). Các
nhân di truyền này có nhiệm vụ ngăn chận sự phát triển ung
thư vú. Cho nên khi 2 nhân di truyền này bị đột biến sẽ mất
đi chức năng này. Hay nói một cách nôm na là 2 người cảnh
sát canh chừng trộm cướp mất vũ khí. Kẻ cướp sẽ hoành hành
không nể nang ai. Khi 2 nhân di truyền kể trên bị đột biến,
có thể người phụ nữ c̣n có cơ hội bị ung thư buồn trứng
(ovarian cancer). Người ta t́m ra nhân di truyền BRCA 1 trên
chromosome 17 vào năm 1994 và nhân di truyền BRCA 2 trên
chromosome 13 vào năm 1995. Ung thư vú ở đàn ông tạo ra bởi
nhân di truyền BRCA 2 bị đột biến. Nhân di truyền BRCA 1 c̣n
tạo ra ung thư ở tiền liệt tuyến (prostate cancer). Đôi khi
những người mang nhân di truyền bị đột biến này lại không
phát ra bệnh. Ngoài ra, các nhà khoa học c̣n t́m ra những
nhân di truyền khác tạo ra ung thư vú và c̣n đang được
nghiên cứu chắc chắn trước khi đưa vào sách vở.
Vậy
ai cần được thử ?
Nhiều bác sĩ trên thế giới tin rằng: không ai cần được thử
nghiệm về các nhân di truyền nói trên. Nếu không t́m được
những nhân di truyền nói trên không có nghĩa là sẽ không mắc
bệnh, v́ 90% sự đột biến xảy ra sau khi người bệnh đă ra đời.
Tôi tin rằng không thử th́ tốt hơn. V́ thử nghiệm này tạo ra
nhiều lo lắng hơn là ích lợi !
Nh́n qua sự
phát triển của ung thư vú, chúng ta nhận ra một điều là ung
thư có thể là di truyền hay tự trong cơ thể của người bệnh
xảy ra chứ không truyền nhiễm hoặc lây lan từ một người sang
người khác không cùng máu mủ.
Hầu hết, chúng ta đều biết mỡ làm người
ta mập ra và gây ra bệnh tim mạch, nhung hầu hết chúng ta
không nghĩ đến mỡ gây ra ung thư ruột già (đại tràng-colon)
và ung thư vú. Một trong những chất gây ra ung thư vú là
những loại mỡ (saturated & polyunsaturated fats). Có những
bằng chứng mỡ gây ra ung thư được ghi nhận trong những
nghiên cứu ở những người đàn bà Nhật sống tại nước Mỹ. Theo
thống kê, cứ 100 ngàn người đàn bà Nhật sống tại nước Nhật
(Japan) có 33 người bị ung thư vú. Và cứ 100 ngàn người đàn
bà Nhật sống tại Mỹ có 187 người bị ung thư vú. Tỉ lệ ung
thư vú ở người đàn bà Nhật sống tại Mỹ tăng lên 6 lần sau
khi họ di cư sang Mỹ. Trung b́nh người Mỹ ăn nhiều hơn người
Nhật là 1 ngàn calories mỗi ngày. Thực phẩm của Mỹ và Canada
chứa vào khoảng 35-50% mỡ.
Làm sao để biết là có ung thư vú ?
Thường
người phụ nữ phát giác có một chỗ khác thường (lump), hoặc
được phát hiện bởi bác sĩ gia đ́nh trong lúc khám tổng quát
(general check-up). Chụp quang tuyến X (mammogram) cho biết
rơ hơn về tính chất và vị trí của bướu. Sau đó, bác
sĩ giải
phẩu dùng kim chích và hút một ít bướu ra để xác định trước
khi làm trị liệu. Có những dấu hiệu báo cho ta biết là có
thể có ung thư vú trên người phụ nữ:
Có
chất bài tiết từ đầu núm vú (nipple discharge) không ở
giai đoạn có thai hay cho con bú :
Khi vú chảy sữa trong lúc không mang
thai hoặc cho con bú làm nguời phụ nữ hoảng sợ. Không phải
thấy dấu hiệu này, ta kết luận ngay là ung thư vú. Nếu
chất bài tiết ra từ nhiều ống dẫn sữa ở đầu núm vú, thường
là do bệnh chảy sữa (galactorrhea) tạo ra bởi sự gia tăng
kích thích tố prolactin bài tiết từ năo thùy (hypophyse).
Nếu chất bài tiết từ 1 ống dẫn sữa có màu hồng hay
máu, thường có thể là ung thư. Nhưng nếu
khám và chụp quang tuyến X (mammogram) mà không t́m được
bướu th́ được coi là không có ung thư. Đó có thể là bướu
lành (solitary intraductal papilloma).
Đau vú (breast pain)
Thường do bướu lành như u-nang (cyst) hoặc u-nang-sơ
(fibrocystic changes) hay do kinh nguyệt bất thường ở
người đàn bà c̣n trẻ, hoặc do uống nhiều chất caffein (cà-phê,
trà, coke, pepsi...), hoặc hút thuốc nhiều (nicotine),
hoặc uống nhiều thuốc chống dị ứng (antihistamine). Ung
thư vú hiếm khi bị đau ngoại trừ ung thư vú với phản ứng
viêm sưng hay đến giai đoạn cuối (inflammatory carcinoma).

Da của vú bị lơm vào hay móp (skin dimpling)
do sẹo h́nh ngôi sao (radial scar) bên trong của vú kéo
xuống. Dấu hiệu này có thể là do sẹo thuần túy (benign
scar) hoặc do ung thư. Thấy dấu hiệu này, người bệnh nên
đi gặp bác sĩ càng sớm càng tốt.

Da của vú bị lơm vào
Sưng phù (edema) và da vú đỏ :
Đó là dấu hiệu của ung thư vú viêm sưng (inflammatory
carcinoma). Dấu hiệu này dễ lầm lẫn giữa ung thư vú và
viêm vú cấp tính (acute mastitis). Ai có dấu hiệu này, tự
họ cũng đi gặp bác sĩ v́ đau đớn.

Đầu núm vú bị lơm vào (nipple retraction):
B́nh thường đầu núm vú lồi lên. Nếu tự nhiên đầu núm vú bị
lơm vào 1 bên từ 1 tuần cho đến vài tháng, có thể gây bởi
ung thư. Trường hợp ngoại lệ: sự lơm vào cả 2 đầu núm vú
và đă nhiều năm th́ đây là sự hóa sợi (fibrosis) bên dưới
núm vú. Và đây không phải là ung thư.

Núm vú bị ngứa và lỡ, ướt hay khô, đóng vảy và có thể
lan rộng đến phần màu da đậm của vú (areola):
Cũng có thể do ung thư vú c̣n được gọi là Bệnh của ông
Paget (Paget’s disease), đặt tên theo người khám phá ra
bệnh này, Sir James Paget 1874. Ung thư này phát ra từ
phần ống dẫn sữa nở rộng ra dưới đầu núm vú. Nó lan lên
lớp b́ (dermis) rồi đến biểu b́ (epidermis) của đầu núm vú.
Nếu chỗ ngứa và lỡ phát xuất từ phần màu da đậm (areola)
của vú rồi lan đến đầu núm vú sau.
Đó không phải là ung thư.

Đầu núm vú co lại

Da của vú thay đổi như da của trái cam
có thể là ung thư.
Đường cong chung quanh vú thay đổi:
Người phụ nữ chống tay lên bàn trước gương và chồm về phía
trước. Nếu thấy đường cong của vú bị thay đổi hay bị méo
đi, phải đi gặp bác sĩ ngay.

Đầu núm vú bị lở
Da vú như da cam
Nếu có ung thư, trị liệu sẽ như thế nào ?
Thường bệnh này chia ra làm 4 thời kỳ.
Thời kỳ 1-2 có nhiều hy vọng sống sót hơn thời kỳ 3-4. Khi
bác sĩ chẩn đoán ung thư th́ tế bào ung thư đă đi vào trong
máu và mạch bạch huyết. Nếu những tế bào này đă phát triển
trong các cơ quan khác th́ hy vọng sống mỏng manh hơn. Ở
thời kỳ 1-2, các tế bào này chưa phát triển hoặc phát triển
rất ít ở ngoài vú và tỉ lệ sống sót khá hơn nhiều.
-
Thời kỳ 1 : bướu nhỏ hơn 2 cm, không
lan tới da và không có hạch ở nách.
-
Thời kỳ 2 : bướu nhỏ hơn 2 cm và có
hạch ở nách ; hoặc bướu lớn hơn 2-5 cm và không có hạch ở
nách.
-
Thời kỳ 3 : bướu lớn hơn 5 cm hay khác
thường hơn nữa.
-
Thời kỳ 4 : bướu đă lan qua các cơ quan
khác.
Sự phân loại này dựa vào kích thước của
bướu (Tumor), hạch ở nách (Node
of lymph), và di căn của ung thư (Metastases).
Ngoài ra ung thư vú có nhiều loại khác nhau. Có loại dữ
nhiều và có loại hại ít hơn. Tôi cũng không muốn đi sâu hơn
nữa, v́ chẳng giúp được nhiều cho mọi người.
Trị liệu tùy thuộc mỗi thời kỳ của bệnh.
Tuy nhiên, trên phương diện tổng quát, cắt bỏ ung thư và trị
bằng thuốc hay quang tuyến trị liệu (radiotherapy), kích
thích tố trị liệu (hormonotherapy), và trị bằng thuốc
(chemotherapy). Cắt hết vú (mastectomy, radical mastectomy)
hay chỉ cắt bỏ phần ung thư (lumpectomy) là đề tài đang bàn
căi giữa các bác sĩ chuyên môn về ung thư vú. Hiện nay,
phương pháp cắt bỏ phần ung thư theo sau bởi các trị liệu
khác đang thịnh hành tại Canada. Hi vọng di truyền học trong
tương lai sẽ hiệu quả hơn và người phụ nữ không mặc căm là
mất đi phần quan trọng của ḿnh.

Một
trị liệu không kém phần quan trọng là trị liệu về phương
diện tinh thần. Người phụ nữ bị ung thư vú trải qua khủng
hoảng của tinh thần. Đó là đối diện cái chết và mặc cảm nếu
c̣n sống sót. Do đó, sự an ủi tinh thần và giúp đỡ của chồng
con hay người t́nh và những người thân thuộc rất là quan
trọng. Một người bị trầm căm hay suy nhược thần kinh
(depression) có hệ thống pḥng thủ (immunity) của cơ thể suy
giảm đi. Trong cơ thể của mỗi người có khả năng trấn áp
những tế bào ung thư. Nếu cơ thể mạnh th́ sự lan tràn của
ung thư khó khăn hơn, và cơ hội sống sót sẽ cao hơn.
Tôi
có một bệnh nhân bị ung thư tuyến tụy (pancreatic cancer)
lúc 25 tuổi. Không ăn không ngủ, anh ta nằm liệt giường. Tôi
khuyến khích anh ta thực hiện nguyện vọng cuối cùng là nh́n
thấy băi cát trắng của Florida. Trong thời gian 2 tuần lễ
nghỉ mát, anh ta ăn ngủ thoải mái, lái xe đi đây đó và lên
cân, 15 cân Anh (lbs.). Nhưng khi anh ta trở lại Canada, anh
ta lại đi nằm bệnh viện trở lại và chết sau đó 1 tháng.
Trong giấy khai tử (death certificate), tôi đă ghi :
bệnh
nhân chết v́ trầm căm (depression) và ung thư tuyến tụy.
Trường hợp này đă chứng tỏ sự quan trọng của trị liệu về
tinh thần. Trong vấn đề trị liệu này, chúng ta tránh nói dối
bệnh nhân và giúp họ chấp nhận thực tại. Sống với những cái
ǵ đang có hơn là đi t́m cái hoàn mỹ. Giúp họ thụ hưởng
những giây phút c̣n lại trong đời rất là quan trọng trong
việc trị liệu ung thư. Khi người bệnh đương đầu với cái chết,
họ muốn thấy những người thân thuộc mạnh dạn và sẵn sàng
đương đầu với mọi khó khăn. Có như vậy, người bệnh vừa là
người phụ nữ mới yên tâm mà dưỡng bệnh.
Tóm
lại, vai tṛ của người thân thuộc là sự hiện diện và mạnh
dạn (Be there and be strong).
Mục
đích chính của tôi là mọi người hiểu rơ về ung thư vú và
pḥng bệnh hơn chữa trị. Pḥng bệnh có 2 loại, phát hiện
bệnh sớm và đừng để bệnh xảy ra. Phát hiện bệnh sớm có nhiều
cơ hội sống sót hơn. Trong phần này có 3 phương pháp khác
nhau.
Người phụ nữ tự khám vú của ḿnh (self breast
examination) :
Phương
pháp này đơn giản và không tốn kém. Nếu người phụ nữ được
hướng dẫn nhiều lần phương pháp này có hiệu quả hơn, nhưng
tự nó có nhiều giới hạn. Xưa kia, khi chưa có sự khám sức
khỏe hàng năm và quang tuyến X (mammogram), phương pháp này
phát hiện 90% các trường hợp ung thư vú. Nhưng thường là ung
thư vú đă lan ra khỏi vú rồi, và có tỉ lệ tử vong cao. Những
nghiên cứu mới đây cho thấy phương pháp tự khám vú không làm
giảm tỉ lệ tử vong. Tuy nhiên, nếu được huấn luyện kỹ càng,
người phụ nữ có thể phát hiện 20% số ung thư vú.
Và trong số
ung thư được phát hiện bằng phương pháp này, 35% ung thư ở
giai đoạn 1 và 2. Có 2 điều hại của tự khám là:
Cho nên phương pháp
này chỉ có giá trị cho những người có trách nhiệm đối với
sức khỏe của bản thân họ. Nhưng về phương diện cho mọi người,
nó không phải là một phương pháp tốt. Làm thế nào để tự khám
ḿnh, xin qúi vị hỏi bác sĩ gia đ́nh của ḿnh. Hàng năm, các
cô và các bà nên thực tập cách khám nghiệm với bác sỉ của
ḿnh để được chính xác hơn.
Khám nghiệm bởi bác sĩ gia đ́nh hay bác sĩ
chuyên khoa (clinical breast examination):
Phương pháp này phổ
biến nhất trong việc khám phá ung thư vú (cancer screening).
Có một thí nghiệm dùng vú giả bằng silicone, các bác
sĩ khám
phá ra 87% các cục bướu lớn hơn 1 cm. Nhưng họ chỉ khám phá
13% các bướu lớn hơn 0.3 cm. Khám nghiệm lâm sàng rất hữu
ích cho phụ nữ dưới 40 tuổi, v́ tuổi này mammogram thường
cho kết quả sai lầm (false negative). Trong những năm vừa
qua, báo chí thường đề cập đến những việc làm bậy bạ của một
thiểu số bác sĩ đă gây những nghi ngờ của bệnh nhân và sự
quá cẩn thận của một số bác sĩ, đă làm cho phương pháp này
giảm sự chính xác. Đă có những nghiên cứu vai tṛ của phương
pháp này của chính phủ Canada trong sự giảm chi tiêu của hệ
thống y tế. Nhưng kết quả cho thấy phương pháp này tiết kiệm
được nhiều tiền cho chính phủ và không kém phần chính xác
khi kết hợp với quang tuyến X khi cần thiết. 90% trường hợp
ung thư vú được phát hiện bởi 2 phương pháp vừa đề cập trên.

Chụp quang tuyến X (mammogram):
Là
phương pháp có thể t́m thấy ung thư trước khi bác sĩ và bệnh
nhân có thể phát hiện. Có nghĩa là ung thư nhỏ hơn 1 cm
thường được chẩn đoán bằng phương pháp này. Như tôi đă đề
cập, ung thư càng nhỏ càng dễ điều trị.
Có nghi vấn là
quang tuyến X cũng gây ra ung thư và phương pháp này có an
toàn không? Tôi xin thưa là rất an toàn v́ những lư do sau.
Kỹ thuật hiện nay rất là tiến bộ nên những máy chụp quang
tuyến X hiếm khi gây ra tai hại cho bệnh nhân. Vả lại, thời
gian tiếp xúc với quang tuyến X chỉ có vài phần trăm của một
tích tắc và số lượng phóng xạ của máy chụp h́nh quá thấp
(0.2-0.3 rads) để gây ra thiệt hại cho cơ thể.
Nhưng dùng những máy tối tân
này vú của người phụ nữ phải bị đè nén (breast compression)
và gây ra cảm giác khó chịu cho nhiều người. Khó chịu một
chút nhưng an toàn hơn.
Tôi
có thể tóm tắc như sau:
-
Mỗi phụ nữ từ 15 đến 75 tuổi nên tự
khám vú của ḿnh mỗi tháng một lần. Khám như thế nào, các
cô và bà nên học và hỏi ở bác sĩ của ḿnh để làm cho đúng
cách.
-
Theo hội Bác Sĩ Gia Đ́nh của Mỹ
(American Family Physician College), các bà, các cô trên
40 tuổi nên có khám nghiệm lâm sàng (clinical breast
examination) của vú trong lúc khám sức khỏe tổng quát hàng
năm
-
American College of Physicians đề nghị
các bà trên 50 tuổi nên chụp quang tuyến X của vú
(mammogram) hàng năm.
-
Theo ư kiến của tôi, các bà và các cô
nên hỏi ư kiến của bác sĩ gia đ́nh của ḿnh để có một
chương tŕnh chính xác cho trường hợp của ḿnh. Mỗi người
một vẻ, nhưng mười phân phải vẹn mười như cụ Nguyễn Du đă
viết.
Phát
hiện bệnh sớm vẫn chưa phải là phương pháp pḥng bệnh hoàn
hảo. Khi nói đến pḥng bệnh, mọi người nghĩ đến cách làm sao
để bệnh đừng xảy ra. Tôi xin đi xa hơn nữa và bàn đến cách
đừng để bệnh xảy ra.
Tạo hóa sinh ra loài người và cũng cho
loài người một môi trường để sinh sống và tồn tại. Chúng ta
có tay chân để chạy nhảy và hoạt động. Và chúng ta không
hoạt động, chúng ta sẽ ốm yếu và không đi đứng vững. Chúng
ta nghịch với thiên nhiên, thay đổi môi sinh và gặt hái kết
quả là bệnh đau. Ung thư vú cũng là sự mất quân b́nh trong
môi sinh và cơ thể của người phụ nữ. Chúng ta có thể ngừa
được bệnh bằng cách giữ quân b́nh những ǵ chúng ta có được.
Đó là vấn đề ăn uống và những hoạt động.
Trước hết tôi bàn đến vấn đề dinh dưỡng.
Như chúng ta đă biết qua mỡ, phóng xạ nguyên tử, và hóa chất
giúp cho tế bào biến hóa về di truyền, phát triển ung thư
trong giai đoạn thứ 2 của sự tạo ra ung thư vú. Phóng xạ
nguyên tử và hóa chất, chúng ta dễ tránh, nhưng mỡ có trong
hầu hết các thực phẩm th́ làm sao tránh được?
Đây là trọng
tâm vấn đề, tôi phải bàn luận sâu sắc hơn. Không phải thực
phẩm nào cũng gây ra ung thư. Không phải mỡ nào cũng nguy
hiểm.
-
Mỡ động vật chứa nhiều saturated và
polyunsaturated fats. Linoleic fatty acid là một
unsaturated fatty acid cần bàn đến, có tên là
Omega-6-fatty acid. Nó là nguyên nhân tạo ra ung thư vú.
Các nhà khoa học nhận thầy rằng có sự gia tăng ung thư vú
nếu có sự gia tăng loại mỡ này trong thực phẩm của chúng.
Nếu omega-6-fatty acid tăng lên đến 4%, dù chúng ta tăng
polysaturated và saturated fats vào trong thực phẩm của
những con vật thí nghiệm, tỉ lệ ung thư vú của những con
vật này cũng gia tăng. Ngược lại, ung thư vú giảm đi khi
có sự gia tăng của omega-3-fatty acid. Loại mỡ này có
nhiều trong mỡ của các loài cá. Theo sự nghiên cứu, tỉ lệ
omega-3-fatty acid/omega-6-fatty bằng 1 là tốt nhất, và tỉ
lệ ung thư vú thấp nhất. Nói một cách khác chúng ta ăn
nhiều cá hơn thịt tốt nhất.
Có người sẽ hỏi uống dầu cá có tốt không?
Câu trả lời một cách rơ ràng là không,
ngoại trừ người bệnh thiếu
Vitamin A và D. Vitamin A có tác
dụng trong việc ngăn ngừa ung thư ở da, phổi, thực quản,
bàng quang (bọng đái), và cổ tử cung, nhưng không giúp ích
ǵ cho ung thư vú. Hiện nay các nhà khoa học nhận thấy rằng
thể tiền sinh tố A (betacarotene có trong carrot) có những
tác dụng pḥng ngừa ung thư vú. Sinh tố D không có tác dụng
trong việc ngăn ngừa ung thư nói chung.
Nếu chúng ta lạm
dụng dầu cá, chúng ta sẽ bị ngộ độc sinh tố A và D. Sự ngộ
độc này biểu hiện bằng sự gia tăng áp lực trong năo và đưa
đến ói mữa và mất cân. Ngoài ra c̣n nhiều biến chứng khác.
Tôi không chủ trương người bệnh tự chữa bệnh cho ḿnh. Thuốc
bổ hay thuốc chữa bệnh đều có cái lợi và cái hại của chúng.
Hỏi bác sĩ gia đ́nh là phương pháp tốt nhất của sự dùng
thuốc. Nếu ta ăn các loại thực phẩm khác nhau trong mỗi bữa
cơm là một phương pháp ngừa bệnh tốt nhất. Ăn một thực phẩm
nào đó nhiều cũng có vấn đề về sức khỏe. Ăn theo tổ tiên ta
chỉ dạy là một cách ngừa bệnh hay nhất. Đây là kinh nghiệm
của hơn 120 ngàn năm (từ lúc giống người Homo Sapien Sapien
xuất hiện: người Việt)!
-
Ngoài ra những chất chứa trong thực
phẩm ta ăn hàng ngày như phenol, indoles và aromatic
isothiocyanates. Phenol đă được chứng minh là ngăn cản sự
tạo thành ung thư trong cả 2 giai đoạn (mutagenesis và
promotion phases). Chúng cũng làm tăng gia lượng phân hóa
tố (enzyme) glutathione-S-transferase. Phân hóa tô này khử
độc các chất gây ra ung thư. Phenol có trong gia vị (food
addictives) gọi là butylated hydroxanisole (BHA) và
butylated hydroxytoluene (BHT). Indoles có trong rau
cải thuộc nhóm cruciferous vegetables như brussel sprout (giá),
cabbage (bắp cải), broccoli và cauliflower gia tăng sự
hoạt động của microsomal monooxygenase oxidase, một loại
phân hóa tố ngừa ung thư phổi và vú. Aromatic
isothiocynates cũng có trong các loại rau cải kể trên và
giúp gia tăng phân hóa tố glucothione-S-transferase. Chúng
giúp ngăn ngừa các loại ung thư gây ra bởi các chất
hydrocyclic aromatic hydrocarbons. Do đó, theo sự đề nghị
của Health&Welfare of Canada và National Cancer Institude
của Mỹ, chúng ta tiêu thụ mỡ ít hơn 30% của tổng số thực
phẩm mỗi ngày. Theo ư kiến của tôi, chúng ta ăn 20-25% dầu
và mỡ mỗi ngày (10% dầu thực vật+10% mỡ động vật) tốt nhất.
Tóm
lại tôi xin tóm tắc vấn đề dinh dưỡng như sau:
-
Giảm chất béo và mỡ trong thực phẩm.
-
Ăn nhiều cá hơn thịt.
-
Ăn nhiều trái cây và rau cải, nhất là
giá, bắp cải, broccoli, và cauliflowers.
-
Ăn nhiều thực phẩm khác nhau để giữ
quân b́nh thực phẩm trong thiên nhiên.
-
Nhớ đọc nhản hiệu các loại thực phẩm để
biết các thành phần trong thực phẩm và loại thực phẩm cần
thiết cho cơ thể.
Ngoài
ra tập thể dục để giảm mỡ trong cơ thể người phụ nữ và làm
giảm cơ hội cho ung thư vú phát triển. Mới đây, có một bác
sĩ nghiên cứu và nhận thấy rằng: người phụ nữ tập thể dục 1
giờ mổi ngày giảm được ung thư vú lên đến 40%. Về vấn đề thể
dục, aerobic exercises như đi bộ, chạy, đạp xe đạp, aerobic
dance… làm giảm mỡ và tăng sức dẽo dai cho mọi người. Nhưng
chúng ta tập một cách vội vă và tập nhiều quá làm cho cơ thể
yếu đi và dễ bị cảm cúm. Ngoài ra, người phụ nữ tập tạ nhẹ
(light weight lifting) cũng giúp cho cứng xương, tăng sức
mạnh, và sự quân b́nh của cơ thể cũng rất là hữu ích, nhất
là ở những phụ nữ lớn tuổi. Nếu có thể được, mỗi người nên
có một huấn luyện viên về thể dục. Mọi người nên được khám
sức khỏe trước khi tập thể dục. Chúng ta chia 1 giờ thể dục
ra làm những phần sau đây:
- Khởi đầu với những động tác dăn gân cốt từ 1-5 phút
(warm up).
- Sau đó tập aerobic exercises 15-20 phút.
- 20-30 phút với tạ nhẹ (weight lifting)
- Và kết thúc với 15 phút aerobic exercises (cool down)
Trong khi tập, nếu
thấy mệt (tired), hay khó thở (short of breath), hay chóng
mặt (dizziness), chúng ta phải ngừng tập ngay. Có rất nhiều
phụ nữ Việt tại Canada vừa đi làm, vừa nấu nướng, vừa nuôi
con, tập thể dục cũng giúp ích rất nhiều cho sức khỏe. Tôi
hy vọng người phụ nữ Việt Nam không đi vào thống kê ung thư
vú như người phụ nữ Nhật Bản tại Bắc Mỹ này.
Chúng ta làm hết
những ǵ chúng ta biết, phần c̣n lại cứ phó mặc cho tạo hóa.
Mỗi người chúng ta đă có một số phận ghi
rơ trong di truyền
chúng ta từ lúc lọt ḷng mẹ. Sống vui, sống có ư
nghĩa sẽ
giúp sức khỏe nhiều hơn là lo lắng.
Tham Khảo:
Sabiston’s Textbook of Surgery 15th edition, Published
by Saunders in Toronto 1993
Cecil’s Textbook of Medicine 21st edition, published
by Saunders in Toronto 2002
Guyton’s Textbook of Medical Physiology 8th
edition, Published by Saunder in Toronto 1990
Anatomy and Physiology by Seely-Stephens-Tate,
Published by Times Mirror/Mosby College, Publishing in
Toronto 1989
Primary Care - Cancer Diagnosis and Treatment,
December 1992, Volume 19, Number 4, Published by Saunders
in Toronto
Primary Care-Cancer Epidemiology, Prevention and
Screening, Volume 19, Number 3, Published by Saunders in
Toronto 1992
Canada’s Food Guide to Healthy Eating of Health &
Welfare of Canada 1994
Manual Nutritional Therapeutic, David H. Alpers M.D.,
Ray E. Clouse M.D., William F. Stenson M.D., Published by
Little, Brown and Co. in Toronto
Harrison’s Principle of Internal Medicine 12th
edition, Published by McGraw Hill in Toronto 1992
Sabiston’s Textbook of Surgery, 16th
edition, Published by W. B. Saunders in Toronto 2001.
Abeloff: Clinical Oncology, 2nd edition,
2000, Published by Churchill Livingstone Inc.
Cyber Round (TM) 2003: Genetics of Breast Cancer,
Susan C. Stewart, M.D., FACP, Review Date 10/9/1997,
Release Date 18/9/1997, End Date 18/9/2000.
From Donegan WL, Spratt JS, Cancer of Breast, 3rd
Edition, Philadelphia, W.B. Saunders 1988
Advances in Breast Cancer Detection and Management,
Lisa A. Newman, M.D. and Michael Sabel, M.D., The Medical
Clinics of North America, Published by Saunders in
September 2003.
Bác Sĩ Nguyễn Vĩ Liệt
Vancouver,
April 2004
|