|
Sài-gòn bây giờ trời mưa hay nắng
Sài-gòn bây giờ ai khóc thương ai
Sài-gòn giới nghiêm che kín đêm dài
Sài-gòn khói bay, Sài-gòn nắng đổ ...
Trở
lại Việt Nam, giấc ngủ dường như ngắn lại nhưng sao không thấy mệt lắm,
chúng tôi thức dậy từ bốn giờ sáng để chuẩn bị làm lễ di quan đưa mẹ về
an nghỉ ở Ninh Hòa. Sài Gòn bây giờ không còn giới nghiêm như thời chúng
tôi ra đi. Thành phố dường như thức trắng đêm, tiếng xe cộ qua lại không
ngừng nghỉ. Sài Gòn khói vẫn bay nhưng mù mịt hơn xưa, có lẽ muốn vĩnh
viễn che mờ tất cả những thứ mà tôi muốn tìm. Tôi chợt thèm một ly cà
phê nóng bên vỉa hè, ngồi nghe vài tiếng xe xích lô máy, xe lam, xe ba
gác trong một buổi sáng rất xa xôi nào đó của Sài Gòn nhưng tất cả chỉ
là ký ức. Sài Gòn còn chăng là những cơn nắng đổ hay mưa rào và chỉ có
nắng mưa mới cho tôi chút cảm giác của những gì đã trở về hoặc ít nhất
còn sót lại từ quá khứ, để rồi trong cái quá khứ xa thẳm mong manh đó
tôi lặng lẽ khóc thương cho những điều đã mất.

Bùng Binh
Saigon Trước 75
(Photo
courtesy of a Yahoo Blog)
Hai
chiếc xe tang rời nhà quàn từ đường An Dương Vương, chạy trên đại lộ
Trần Hưng Đạo, qua Cộng Hòa Nancy, Hàm Nghi, bến Bạch Đằng, Cường Để,
quẹo Phan Thanh Giản rồi thẳng ra xa lộ hướng về miền trung. Hẳn nhiên
có nhiều con đường ngày nay đã thay tên nhưng không hiểu sao tôi vẫn
thích những cái tên cũ, có lẽ chúng giúp tôi định phương hướng dễ dàng
hơn và làm đầu óc tôi cảm thấy đỡ bị dị ứng khi mường tượng lại hình ảnh
của ngày xưa. Bánh xe trải dài theo Thủ Đức, rồi Biên Hòa, Hố Nai, Long
Khánh, Phan Thiết, Mũi Né, Phan Rang… bao nhiêu địa danh là bấy nhiêu kỷ
niệm ngun ngút gợi về. Không gian thay đổi rất nhiều, người người chen
chúc qua lại, nhà nhà mọc lên san sát hai bên đường. Cảm giác thật khó
tả, trong tôi dường như có cái gì đó chút lạ chút quen. Lạ vì bối cảnh
nhìn thấy trước mặt đã làm sai đi rất nhiều những gì từng tưởng tượng ở
trong đầu. Quen thì đâu đó vẫn còn những cánh đồng xanh mượt, lúa vẫn lả
lơi theo các ngọn gió đưa, vài vũng nước đọng vẫn lăn tăn gợn sóng, xa
xa chim cò vẫn bay lượn trên bầu trời và bên triền núi vẫn còn bò trâu
đang gặm cỏ. Tôi chợt nghe lòng se sắt, vài bức tranh quê hương nguyên
thủy còn sót lại, rải rác trên đất nước biết sẽ tồn tại được bao lâu
trước những tiến hóa vô cảm của thời đại. Sự xâm lấn nhân tạo, lối phẳng
cây trồng, xi măng tô trét, sơn phết lòe loẹt liệu có sánh bằng nét đẹp
đơn sơ, dịu dàng thuần túy của thiên nhiên!
Xe
vừa qua khỏi thành phố Nha Trang thân quen lòng tôi đã nôn nao. Mặc dù
không có người tình trong cánh tay trên bãi đêm hoang vắng để lãng mạn
như Nha Trang Ngày Về của Phạm Duy trong một bản nhạc xưa buồn
vời vợi, nhưng tôi cũng có riêng những nỗi sầu của mình. Nỗi sầu của một
con người triền miên xa xứ, nỗi sầu của những nhớ thương về một vùng quê
hương bỏ lại sau lưng, nỗi sầu hun hút như những lỗ bọt còn lưu trên cát
bởi những cơn sóng vô tình rút vội ra biển, những lỗ cát tuy nhỏ bé
nhưng sâu thẳm đến đổi suốt kiếp dã tràng cũng không bao giờ lắp được
cho vơi.

Cảnh biển
trên đường từ SG về Ninh Hòa (June 2008)
Tôi
nhớ lại Hòn Chồng một lần du ngoạn năm 1969 với trường Trần Bình Trọng,
lúc ấy lớp Tứ 1 chúng tôi do cô Túy Sen hướng dẫn. Thoáng một cái mà đã
bốn mươi năm. Bốn mươi năm tang thương, bốn mươi năm biến đổi, bốn mươi
năm núi Cô Tiên vẫn xỏa tóc dịu dàng, bốn mươi năm đá Hòn Chồng vẫn in
dấu bàn tay năm ngón, bốn mươi năm trời biển vẫn bao la và giờ đây có
thấu chăng tâm hồn người về từ ngàn dặm đang thắm thía ngậm ngùi mấy câu
thơ của thi sĩ Vũ Đình Liên.
Những ngươi muôn năm cũ
Hồn bây giờ ở đâu
Không ngờ sau lần vui chơi dạo ấy tôi thật sự giã biệt Ninh Hòa và có
những người muôn năm cũ mãi đến bây giờ tôi không hề gặp lại. Ở đời
mấy ai biết trước được bao giờ là lần gặp gỡ cuối cùng, bao giờ là lần
xa nhau vĩnh viễn.

Tứ 1 TBT
du ngoạn Hòn Chồng 1969
(Photo courtesy of Đoàn Trung)
Và
nếu đời không phải là những giấc chiêm bao thì bốn mươi năm sau, tôi
thật bất ngờ gặp lại cô Túy Sen trên đất Mỹ, cô và trò lại là cư dân
trong cùng một thành phố, ở cách nhau chưa đến 10 phút lái xe. Gần mà xa,
xa mà gần, nếu đúng là những
wormholes* của vũ trụ thì tôi xin chân thành cám ơn cái huyền
diệu của không gian và thời gian đã cho tôi còn có cơ hội được gặp lại
cô thầy và bạn học ngày xưa.

Cô Túy
Sen (Hòn Chồng 1969) Cô Túy Sen và Lê Lai
Photo
courtesy of Đoàn Trung (Little Saigon , Cali 2009)
Tôi
liên lạc được với các bạn Tứ 1, H. Sáng San Diego, D.V. Lý nam Cali,
K.Th. Phụng Washington DC, Trần Thị Nghệ Atlanta, Đ.Trung Việt Nam, V.
Q. Thinh Tennessee, rồi V. Văn và Phù Vĩnh Sơn ở Úc Đại Lợi….
Trần Thị Nghệ và
Phù Vĩnh Sơn bây giờ đều là những cây viết dễ thương của trang web
Ninh Hòa.
Cái
“tên” Phù Vĩnh Sơn, người bạn học ngày xưa thư sinh bạch diện, điển trai
nhưng nhát gái, người Hoa gốc… phố chợ vậy mà bây giờ thơ văn
tiếng Việt lai láng trữ tình, lãng mạn không thua gì dòng sông Dinh,
chắc hẳn đã có nhiều em Ninh Hòa đọc thơ hắn mà không sao tránh
khỏi mơ lòng thầm thương trộm nhớ. Nhát gái mà lại đa tình, nghe đâu
thời trung học đệ nhị cấp hắn đã phải lòng một cô nữ sinh áo trắng xinh
đẹp gốc Dục Mỹ, lớp Đệ Tam C thì phải, ngày ngày đến trường đều cố tìm
nhìn lén bóng “em” từ phía sau lưng rồi mới vô lớp học. Thật là tội
nghiệp cho một mối tình câm, tưởng là chỉ lẩn quất trong sân trường TBT,
không ngờ bốn chục năm sau vẫn còn vương vấn đến tận mãi khung trời Úc
Đại Lợi.
Xưa
nay tôi vốn hay thương cảm những mối tình đơn phương, từ anh chàng
Thụy Nguyên nhỏ lụy
bên chân Cầu Sắt,
bây giờ lại thêm một Phù Vĩnh Sơn âm thầm đếm lá sân trường TBT… Ôi
thiện tai! thiện tai! Tình bạn chân thành tôi cầu mong hiền thê của hắn
là người rộng lượng, may ra cho hắn chút tự do dùng thơ văn mà gửi tâm
tình lên trang web hầu “vớt vát” lại phần nào những nuối tiếc thuở thiếu
thời.

Hòn Chồng
1969
(Photo courtesy of Đoàn Trung)
Rồi
tôi nhớ Núi Sạn một lần cắm trại với đoàn hướng đạo Trần Quốc Toản do
anh Bảo Lân (thầy Bảo Lân trường
Đức Linh thì đúng hơn, nhưng trong hướng đạo phải gọi là anh) làm
trưởng đoàn và anh Nguyễn Mỹ Trúc (lớn hơn tôi 2 lớp
TBT, hiện định cư ở Florida) làm đoàn phó, tại sân sau nhà riêng của
anh Bảo Lân bên chân núi. Ánh lửa trại đêm hôm đó dường như bập bùng trở
lại trong tôi. Từ một mồi lửa nhỏ treo trên ngọn dừa, lửa chạy dài xuôi
theo sợi dây kẽm rồi phừng lên theo đám củi khô tẩm dầu chất sẵn trên
đất, lửa đêm hòa lẫn với nhưng bài hát hướng đạo sinh và văn nghệ vui
nhộn rộn ràng. Lê Tiên người Bến Đò, một anh trong bộ tứ T (Hà Thái,
Nguyễn Mỹ Trúc, Lê Tiên, Võ Thưa,
ban Pháp Văn niên khóa 1963-1967), trầm ấm giọng với bài hát Kẻ Ở
Miền Xa của nhạc sĩ Trúc Phương
Tôi ở miền xa
Trời quen đất lạ
Nhiều đông lắm hạ
Nối tiếp đi qua…
Ngoài kia súng nổ
Đốt lửa đêm đen…
Bốn
mươi năm qua đi, giọng hát anh hình như vẫn còn văng vẳng nhưng những
đốm lửa đêm đen thì đã liệm tắt tự bao giờ, trời đất vẫn vừa lạ vừa quen,
đông hạ vẫn thản nhiên nối tiếp đi qua... và tuổi trẻ vui chơi một thời,
anh em hướng đạo chúng tôi nào ngờ bây giờ đều trở thành kẻ ở miền xa,
tan tác y như những kiếp bohemienne. Sau này định cư ở Hoa Kỳ,
thỉnh thoảng tôi có đi trại (camping) tại các công viên quốc gia
(national park) như Zion, Yosemite, Sequoia, v.v…, cũng nhìn trăng sao
treo trên lá cành xuyên qua lều vải, nhưng không hiểu sao tiếng dế rừng
ở đây nghe não nuột quá, có lẽ lá cành trăng sao không giống như của bầu
trời quê cũ.
Theo
chân đoàn hướng đạo do anh Bảo Lân hướng dẫn, phải nói thêm là có cả
thầy hiệu trưởng Trần Chu Đức TBT cũng tham gia, chúng tôi, Nguyễn Mỹ
Trúc, Lê Thuận, Trần Chí Liên, Hà Thái, Sơn Đại Hàn, Nguyễn Kim Tuấn (tiệm
đồng hồ Kim Quang), Lê Tiên, Trần Phu (Phước Đa), Thái Văn Thành, v.v...
và nhiều nhiều bạn nữa, sinh hoạt từ trò chơi lớn trên đỉnh Núi Sạn, đến
lần cắm trại trên đảo Hòn Tre, rồi từ hòn Núi Đất Ninh Hòa, đến Phong
Thạnh bên kia chân đèo Rọ Tượng, hoặc đi Phong Ấp tình nguyện dọn dẹp
những căn nhà dân nghèo bị cháy do nằm giữa hai lằn đạn chiến tranh. Có
lần chúng tôi xuống tận Cầu Xóm Bóng Nha Trang đi chợ mua rau cá. Tôi
rất thích ăn cơm hướng đạo, những hạt cơm cạy từ bên hông các nồi đất
nồi đồng đượm thơm mùi khói nấu từ củi rừng, quả thật mãi mãi là chọn
lựa ưu tiên của tôi nếu phải so sánh với những bữa cơm thịnh soạn. Nói
đến nấu ăn, các chị các cô nữ sinh trường Đức Linh chắc sẽ nhớ lại năm
đó anh Bảo Lân định thành lập thêm một đội nữ hướng đạo Ninh Hòa. Ngày
đầu tiên sinh hoạt thử, các chị các cô chưa kịp may đồng phục đã cùng
chúng tôi đi trại trong một khu rừng thưa ở Cây Số 6 trên Quốc Lộ 13
đường lên Dục Mỹ. Hào hứng nhất cho buổi sinh hoạt hôm ấy là cuộc thi
nấu ăn trưa. Cứ ngỡ là các chị các cô sẽ thắng nhưng không ngờ phần
thưởng lại được trao cho đám con trai chúng tôi. Lẩm rẩm mà con trai
Ninh Hòa… giỏi thiệt.
Mãi
miên man về quá khứ thì xe đến Ngọc Hải và đột nhiên nghe bà xã đập nhẹ
vào vai tôi, mắt liếc nhìn như muốn nhắc nhở lại một điều gì. Ngọc Hải
trời biển nên thơ, bãi cát mịn màng có lần in dấu một kỷ niệm tình yêu
“lơ tơ mơ” thời con trai mới lớn mà tôi đã từng kể lại hay đúng hơn là
“bạch hóa” cho bà xã nghe cách đây mấy chục năm. Cái muốn quên mà đã lỡ
bị nhắc thì đành phải nhớ vậy.
Chuyện
là năm ấy tôi có “cua” một em Ninh Hòa (xin dấu tên). Một hôm mượn được
chiếc Honda của người anh họ, tôi đưa em vòng vòng… hóng mát và gió
chiều lãng mạn đã thổi chúng tôi chạy đến Ngọc Hải. Khi buồn thì cảnh
có vui đâu bao giờ nhưng khi yêu thì gì cảnh nào cũng đẹp, nhất là
cảnh Ngọc Hải thì vẻ đẹp thiên nhiên càng tăng lên gấp bội. Hương đồng
hòa lẫn hương tình yêu ngây ngất, em đề nghị tôi dừng xe để ra ngồi ngắm
biển chiều. Dĩ nhiên là tôi không dám… từ chối. Chúng tôi dắt xe len lỏi
theo con đường mòn xuyên qua mấy lùm cây và vài mỏm đá là đến bãi cát.
Dựng xe phía sau lưng và hai đứa ngồi bên nhau cùng hướng nhìn ra biển.
Hồi đó khi nghe kể đến đây bà xã tôi đã không dằn được hiếu kỳ nên cứ
hỏi tiếp “rồi sao nữa…”. Thật tình lẫn vô tình tôi bảo rằng thời gian
lúc ấy như ngừng trôi và không gian rất hoang vắng, chỉ có hai chúng tôi
và vài chiếc thuyền thấp thoáng xa xa trên làn nước bạc phản chiếu bởi
các tia nắng yếu ớt xuyên qua những áng mây chiều tuyệt đẹp. Bà xã tôi
lại hỏi dồn “rồi sao nữa, rồi sao nữa…”. Tôi thản nhiên tiếp rằng biển
hôm ấy đã đẹp nhưng tóc bay quyện trên chiếc cổ trắng và đôi môi hồng
của em Ninh Hòa còn đẹp hơn nhiều, trong khi đó thì tôi vẫn ngồi hiền từ
buông chuyện vu vơ và mãi đến khi mặt trời thơ mộng lặn về phía sau lưng,
tôi mới lặng lẽ dắt xe cùng em ra về. Một cái choàng vai cũng không dám,
một nụ hôn cũng không, tưởng là bà xã tôi sẽ rất mừng vì nghĩ tôi còn
“nguyên si” chưa có “ọ ẹ” gì, nhưng không ngờ thay vì thở phào nhẹ nhỏm
lại buông tiếng thở dài… “Trời ơi sao mà anh khờ dữ vậy!”. Chê tôi “khờ”
kể ra cũng còn hơi nhẹ, nhưng thà là như vậy chứ chắc chắn không bao giờ
bà xã tôi dám thả cái “không khờ” hiện tại của tôi đi lang thang… hóng
gió hay ngắm biển như buổi chiều hôm ấy đâu!
Thời
gian sẽ ở lại VN không tới 10 ngày, có lẽ vì vậy mà trên từng bước đường
về, đầu óc tôi cứ cố hồi tưởng thật nhiều kỷ niệm với Ninh Hòa. Giống
như một
blackhole* trong không gian, tôi muốn cuốn hút mọi thứ, mọi hình
ảnh thời quá khứ.
Có
người bảo không nên sống nhiều với quá khứ nhưng thử hỏi mấy ai ra đi và
khi trở lại mà không nghĩ về quá khứ. Người ta thường bảo quá khứ là
lịch sử, tương lai là điều bí ẩn, hiện tại là một món quà (past is
history, future is a mystery, present is a gift), có lẽ vì vậy mà trong
tiếng Anh, chữ present đã chuyên chở hai ý nghĩa, vừa là hiện tại
vừa là món quà. Một vài người bạn Mỹ chơi khá thân, mỗi khi thấy tôi có
chuyện buồn thường khuyên rằng đừng nhìn lại quá khứ, hãy ngó về
tương lai (don’t look back, look to the future). Quả thật nghe theo
lời khuyên này tôi cảm thấy dễ chịu hơn rất nhiều vì quá khứ sẽ không
bao giờ thay đổi được nữa và tương lai thì lúc nào cũng mở ngõ cho những
niềm hy vọng. Tuy nhiên nếu chỉ sống cho hiện tại và chỉ mơ ước về tương
lai (live the present, dream the future) mà phải quên đi quá khứ thì
cũng còn tùy. Những quá khứ đau buồn tủi nhục của một thời đóng cửa u mê,
thực phẩm khẩu phần, cơm độn bo bo, con người thì lúc nào cũng rình rập
để đấu tố giết hại lẫn nhau, có khi vô luân đến độ máu mủ ruột thịt,
đồng hương đồng loại cũng không chút nhân tính, những quá khứ như thế
thì người ta cũng nên quên phức nó đi để khỏi phải nhớ rằng có một quãng
nào đó trong đời họ đã phải bất hạnh trải qua một giai đoạn đen tối của
lịch sử. Chứ còn những quá khứ êm đềm về tình yêu, tình bạn, tình quê,
tình học trò… thì chúng ta phải nên ôm ấp trìu mến bởi những thứ tình đó
bao giờ cũng thăng hoa cho cái cao quý của tình người….
Ghi chú:

*
Wormholes: tạm dịch những con đường tắt
(shortcut) của
không gian và thời gian trong vũ trụ

Blackhole: tạm dịch lỗ đen trong không gian
với từ trường khổng lồ
cuốn hút mọi thứ, kể cả ánh sáng cũng không thoát được.
Còn
tiếp…
|