Trang Thơ & Truyện: Lê Lai            |                 www.ninh-hoa.com




Quê Nội: Vĩnh Phú
Quê Ngoại: Thuận Lợi

Cựu học sinh trường
Trung học
Trần Bình Trọng, Ninh Hòa
Niên khóa: 1965 - 1969
(Đệ Thất 1- Đệ Tứ 1).



Hiện cư ngụ tại
Huntington Beach, CA, US
E-mail:
ylaile@yahoo.com

 

 

 

 

 


Nước Mắt Nụ Cười…

Ninh Hòa Ngày Trở Lại
Q Khứ Bốn Mươi Năm

Lê Lai
 

(Kỳ 1- Đường Về Quê Mẹ)

(Kỳ 2-  Hội Ngộ Bạn Hữu ninh-hoa.com Sài Gòn)

(Kỳ 3-  Quá Khứ Bốn Mươi Năm)


Sài-gòn bây giờ trời mưa hay nắng

Sài-gòn bây giờ ai khóc thương ai

Sài-gòn giới nghiêm che kín đêm dài

Sài-gòn khói bay, Sài-gòn nắng đổ ...

 

         Trở lại Việt Nam, giấc ngủ dường như ngắn lại nhưng sao không thấy mệt lắm, chúng tôi thức dậy từ bốn giờ sáng để chuẩn bị làm lễ di quan đưa mẹ về an nghỉ ở Ninh Hòa. Sài Gòn bây giờ không còn giới nghiêm như thời chúng tôi ra đi. Thành phố dường như thức trắng đêm, tiếng xe cộ qua lại không ngừng nghỉ. Sài Gòn khói vẫn bay nhưng mù mịt hơn xưa, có lẽ muốn vĩnh viễn che mờ tất cả những thứ mà tôi muốn tìm. Tôi chợt thèm một ly cà phê nóng bên vỉa hè, ngồi nghe vài tiếng xe xích lô máy, xe lam, xe ba gác trong một buổi sáng rất xa xôi nào đó của Sài Gòn nhưng tất cả chỉ là ký ức. Sài Gòn còn chăng là những cơn nắng đổ hay mưa rào và chỉ có nắng mưa mới cho tôi chút cảm giác của những gì đã trở về hoặc ít nhất còn sót lại từ quá khứ, để rồi trong cái quá khứ xa thẳm mong manh đó tôi lặng lẽ khóc thương cho những điều đã mất.

 

Bùng Binh Saigon Trước 75

(Photo courtesy of a Yahoo Blog)

 

         Hai chiếc xe tang rời nhà quàn từ đường An Dương Vương, chạy trên đại lộ Trần Hưng Đạo, qua Cộng Hòa Nancy, Hàm Nghi, bến Bạch Đằng, Cường Để, quẹo Phan Thanh Giản rồi thẳng ra xa lộ hướng về miền trung. Hẳn nhiên có nhiều con đường ngày nay đã thay tên nhưng không hiểu sao tôi vẫn thích những cái tên cũ, có lẽ chúng giúp tôi định phương hướng dễ dàng hơn và làm đầu óc tôi cảm thấy đỡ bị dị ứng khi mường tượng lại hình ảnh của ngày xưa. Bánh xe trải dài theo Thủ Đức, rồi Biên Hòa, Hố Nai, Long Khánh, Phan Thiết, Mũi Né, Phan Rang… bao nhiêu địa danh là bấy nhiêu kỷ niệm ngun ngút gợi về. Không gian thay đổi rất nhiều, người người chen chúc qua lại, nhà nhà mọc lên san sát hai bên đường. Cảm giác thật khó tả, trong tôi dường như có cái gì đó chút lạ chút quen. Lạ vì bối cảnh nhìn thấy trước mặt đã làm sai đi rất nhiều những gì từng tưởng tượng ở trong đầu. Quen thì đâu đó vẫn còn những cánh đồng xanh mượt, lúa vẫn lả lơi theo các ngọn gió đưa, vài vũng nước đọng vẫn lăn tăn gợn sóng, xa xa chim cò vẫn bay lượn trên bầu trời và bên triền núi vẫn còn bò trâu đang gặm cỏ. Tôi chợt nghe lòng se sắt, vài bức tranh quê hương nguyên thủy còn sót lại, rải rác trên đất nước biết sẽ tồn tại được bao lâu trước những tiến hóa vô cảm của thời đại. Sự xâm lấn nhân tạo, lối phẳng cây trồng, xi măng tô trét, sơn phết lòe loẹt liệu có sánh bằng nét đẹp đơn sơ, dịu dàng thuần túy của thiên nhiên!

 

         Xe vừa qua khỏi thành phố Nha Trang thân quen lòng tôi đã nôn nao. Mặc dù không có người tình trong cánh tay trên bãi đêm hoang vắng để lãng mạn như Nha Trang Ngày Về của Phạm Duy trong một bản nhạc xưa buồn vời vợi, nhưng tôi cũng có riêng những nỗi sầu của mình. Nỗi sầu của một con người triền miên xa xứ, nỗi sầu của những nhớ thương về một vùng quê hương bỏ lại sau lưng, nỗi sầu hun hút như những lỗ bọt còn lưu trên cát bởi những cơn sóng vô tình rút vội ra biển, những lỗ cát tuy nhỏ bé nhưng sâu thẳm đến đổi suốt kiếp dã tràng cũng không bao giờ lắp được cho vơi.

 


Cảnh biển trên đường từ SG về Ninh Hòa (June 2008)

 

         Tôi nhớ lại Hòn Chồng một lần du ngoạn năm 1969 với trường Trần Bình Trọng, lúc ấy lớp Tứ 1 chúng tôi do cô Túy Sen hướng dẫn. Thoáng một cái mà đã bốn mươi năm. Bốn mươi năm tang thương, bốn mươi năm biến đổi, bốn mươi năm núi Cô Tiên vẫn xỏa tóc dịu dàng, bốn mươi năm đá Hòn Chồng vẫn in dấu bàn tay năm ngón, bốn mươi năm trời biển vẫn bao la và giờ đây có thấu chăng tâm hồn người về từ ngàn dặm đang thắm thía ngậm ngùi mấy câu thơ của thi sĩ Vũ Đình Liên.

 

Những ngươi muôn năm cũ

Hồn bây giờ ở đâu

 

         Không ngờ sau lần vui chơi dạo ấy tôi thật sự giã biệt Ninh Hòa và có những người muôn năm cũ mãi đến bây giờ tôi không hề gặp lại. Ở đời mấy ai biết trước được bao giờ là lần gặp gỡ cuối cùng, bao giờ là lần xa nhau vĩnh viễn.

 

 
Tứ 1 TBT du ngoạn Hòn Chồng 1969
(Photo courtesy of Đoàn Trung)

 

         Và nếu đời không phải là những giấc chiêm bao thì bốn mươi năm sau, tôi thật bất ngờ gặp lại cô Túy Sen trên đất Mỹ, cô và trò lại là cư dân trong cùng một thành phố, ở cách nhau chưa đến 10 phút lái xe. Gần mà xa, xa mà gần, nếu đúng là những wormholes* của vũ trụ thì tôi xin chân thành cám ơn cái huyền diệu của không gian và thời gian đã cho tôi còn có cơ hội được gặp lại cô thầy và bạn học ngày xưa.

 

 

    

 Cô Túy Sen (Hòn Chồng 1969) Cô Túy Sen và Lê Lai

 Photo courtesy of Đoàn Trung (Little Saigon , Cali 2009)

 

         Tôi liên lạc được với các bạn Tứ 1, H. Sáng San Diego, D.V. Lý nam Cali, K.Th. Phụng Washington DC, Trần Thị Nghệ Atlanta, Đ.Trung Việt Nam, V. Q. Thinh Tennessee, rồi V. Văn và Phù Vĩnh Sơn ở Úc Đại Lợi…. Trần Thị Nghệ Phù Vĩnh Sơn bây giờ đều là những cây viết dễ thương của trang web Ninh Hòa.

 

         Cái “tên” Phù Vĩnh Sơn, người bạn học ngày xưa thư sinh bạch diện, điển trai nhưng nhát gái, người Hoa gốc… phố chợ vậy mà bây giờ thơ văn tiếng Việt lai láng trữ tình, lãng mạn không thua gì dòng sông Dinh, chắc hẳn đã có nhiều em Ninh Hòa đọc thơ hắn mà không sao tránh khỏi mơ lòng thầm thương trộm nhớ. Nhát gái mà lại đa tình, nghe đâu thời trung học đệ nhị cấp hắn đã phải lòng một cô nữ sinh áo trắng xinh đẹp gốc Dục Mỹ, lớp Đệ Tam C thì phải, ngày ngày đến trường đều cố tìm nhìn lén bóng “em” từ phía sau lưng rồi mới vô lớp học. Thật là tội nghiệp cho một mối tình câm, tưởng là chỉ lẩn quất trong sân trường TBT, không ngờ bốn chục năm sau vẫn còn vương vấn đến tận mãi khung trời Úc Đại Lợi.

 

         Xưa nay tôi vốn hay thương cảm những mối tình đơn phương, từ anh chàng Thụy Nguyên nhỏ lụy bên chân Cầu Sắt, bây giờ lại thêm một Phù Vĩnh Sơn âm thầm đếm lá sân trường TBT… Ôi thiện tai! thiện tai! Tình bạn chân thành tôi cầu mong hiền thê của hắn là người rộng lượng, may ra cho hắn chút tự do dùng thơ văn mà gửi tâm tình lên trang web hầu “vớt vát” lại phần nào những nuối tiếc thuở thiếu thời.

 


Hòn Chồng 1969
(Photo courtesy of Đoàn Trung)

 

         Rồi tôi nhớ Núi Sạn một lần cắm trại với đoàn hướng đạo Trần Quốc Toản do anh Bảo Lân (thầy Bảo Lân trường Đức Linh thì đúng hơn, nhưng trong hướng đạo phải gọi là anh) làm trưởng đoàn và anh Nguyễn Mỹ Trúc (lớn hơn tôi 2 lớp TBT, hiện định cư ở Florida) làm đoàn phó, tại sân sau nhà riêng của anh Bảo Lân bên chân núi. Ánh lửa trại đêm hôm đó dường như bập bùng trở lại trong tôi. Từ một mồi lửa nhỏ treo trên ngọn dừa, lửa chạy dài xuôi theo sợi dây kẽm rồi phừng lên theo đám củi khô tẩm dầu chất sẵn trên đất, lửa đêm hòa lẫn với nhưng bài hát hướng đạo sinh và văn nghệ vui nhộn rộn ràng. Lê Tiên người Bến Đò, một anh trong bộ tứ T (Hà Thái, Nguyễn Mỹ Trúc, Lê Tiên, Võ Thưa, ban Pháp Văn niên khóa 1963-1967), trầm ấm giọng với bài hát Kẻ Ở Miền Xa của nhạc sĩ Trúc Phương

Tôi ở miền xa

Trời quen đất lạ

Nhiều đông lắm hạ

Nối tiếp đi qua…

Ngoài kia súng nổ

Đốt lửa đêm đen…

         Bốn mươi năm qua đi, giọng hát anh hình như vẫn còn văng vẳng nhưng những đốm lửa đêm đen thì đã liệm tắt tự bao giờ, trời đất vẫn vừa lạ vừa quen, đông hạ vẫn thản nhiên nối tiếp đi qua... và tuổi trẻ vui chơi một thời, anh em hướng đạo chúng tôi nào ngờ bây giờ đều trở thành kẻ ở miền xa, tan tác y như những kiếp bohemienne. Sau này định cư ở Hoa Kỳ, thỉnh thoảng tôi có đi trại (camping) tại các công viên quốc gia (national park) như Zion, Yosemite, Sequoia, v.v…, cũng nhìn trăng sao treo trên lá cành xuyên qua lều vải, nhưng không hiểu sao tiếng dế rừng ở đây nghe não nuột quá, có lẽ lá cành trăng sao không giống như của bầu trời quê cũ.

 

         Theo chân đoàn hướng đạo do anh Bảo Lân hướng dẫn, phải nói thêm là có cả thầy hiệu trưởng Trần Chu Đức TBT cũng tham gia, chúng tôi, Nguyễn Mỹ Trúc, Lê Thuận, Trần Chí Liên, Hà Thái, Sơn Đại Hàn, Nguyễn Kim Tuấn (tiệm đồng hồ Kim Quang), Lê Tiên, Trần Phu (Phước Đa), Thái Văn Thành, v.v... và nhiều nhiều bạn nữa, sinh hoạt từ trò chơi lớn trên đỉnh Núi Sạn, đến lần cắm trại trên đảo Hòn Tre, rồi từ hòn Núi Đất Ninh Hòa, đến Phong Thạnh bên kia chân đèo Rọ Tượng, hoặc đi Phong Ấp tình nguyện dọn dẹp những căn nhà dân nghèo bị cháy do nằm giữa hai lằn đạn chiến tranh. Có lần chúng tôi xuống tận Cầu Xóm Bóng Nha Trang đi chợ mua rau cá. Tôi rất thích ăn cơm hướng đạo, những hạt cơm cạy từ bên hông các nồi đất nồi đồng đượm thơm mùi khói nấu từ củi rừng, quả thật mãi mãi là chọn lựa ưu tiên của tôi nếu phải so sánh với những bữa cơm thịnh soạn. Nói đến nấu ăn, các chị các cô nữ sinh trường Đức Linh chắc sẽ nhớ lại năm đó anh Bảo Lân định thành lập thêm một đội nữ hướng đạo Ninh Hòa. Ngày đầu tiên sinh hoạt thử, các chị các cô chưa kịp may đồng phục đã cùng chúng tôi đi trại trong một khu rừng thưa ở Cây Số 6 trên Quốc Lộ 13 đường lên Dục Mỹ. Hào hứng nhất cho buổi sinh hoạt hôm ấy là cuộc thi nấu ăn trưa. Cứ ngỡ là các chị các cô sẽ thắng nhưng không ngờ phần thưởng lại được trao cho đám con trai chúng tôi. Lẩm rẩm mà con trai Ninh Hòa… giỏi thiệt.

 

         Mãi miên man về quá khứ thì xe đến Ngọc Hải và đột nhiên nghe bà xã đập nhẹ vào vai tôi, mắt liếc nhìn như muốn nhắc nhở lại một điều gì. Ngọc Hải trời biển nên thơ, bãi cát mịn màng có lần in dấu một kỷ niệm tình yêu “lơ tơ mơ” thời con trai mới lớn mà tôi đã từng kể lại hay đúng hơn là “bạch hóa” cho bà xã nghe cách đây mấy chục năm. Cái muốn quên mà đã lỡ bị nhắc thì đành phải nhớ vậy.

 

         Chuyện là năm ấy tôi có “cua” một em Ninh Hòa (xin dấu tên). Một hôm mượn được chiếc Honda của người anh họ, tôi đưa em vòng vòng… hóng mát và gió chiều lãng mạn đã thổi chúng tôi chạy đến Ngọc Hải. Khi buồn thì cảnh có vui đâu bao giờ nhưng khi yêu thì gì cảnh nào cũng đẹp, nhất là cảnh Ngọc Hải thì vẻ đẹp thiên nhiên càng tăng lên gấp bội. Hương đồng hòa lẫn hương tình yêu ngây ngất, em đề nghị tôi dừng xe để ra ngồi ngắm biển chiều. Dĩ nhiên là tôi không dám… từ chối. Chúng tôi dắt xe len lỏi theo con đường mòn xuyên qua mấy lùm cây và vài mỏm đá là đến bãi cát. Dựng xe phía sau lưng và hai đứa ngồi bên nhau cùng hướng nhìn ra biển. Hồi đó khi nghe kể đến đây bà xã tôi đã không dằn được hiếu kỳ nên cứ hỏi tiếp “rồi sao nữa…”. Thật tình lẫn vô tình tôi bảo rằng thời gian lúc ấy như ngừng trôi và không gian rất hoang vắng, chỉ có hai chúng tôi và vài chiếc thuyền thấp thoáng xa xa trên làn nước bạc phản chiếu bởi các tia nắng yếu ớt xuyên qua những áng mây chiều tuyệt đẹp. Bà xã tôi lại hỏi dồn “rồi sao nữa, rồi sao nữa…”. Tôi thản nhiên tiếp rằng biển hôm ấy đã đẹp nhưng tóc bay quyện trên chiếc cổ trắng và đôi môi hồng của em Ninh Hòa còn đẹp hơn nhiều, trong khi đó thì tôi vẫn ngồi hiền từ buông chuyện vu vơ và mãi đến khi mặt trời thơ mộng lặn về phía sau lưng, tôi mới lặng lẽ dắt xe cùng em ra về. Một cái choàng vai cũng không dám, một nụ hôn cũng không, tưởng là bà xã tôi sẽ rất mừng vì nghĩ tôi còn “nguyên si” chưa có “ọ ẹ” gì, nhưng không ngờ thay vì thở phào nhẹ nhỏm lại buông tiếng thở dài… “Trời ơi sao mà anh khờ dữ vậy!”. Chê tôi “khờ” kể ra cũng còn hơi nhẹ, nhưng thà là như vậy chứ chắc chắn không bao giờ bà xã tôi dám thả cái “không khờ” hiện tại của tôi đi lang thang… hóng gió hay ngắm biển như buổi chiều hôm ấy đâu!

 

         Thời gian sẽ ở lại VN không tới 10 ngày, có lẽ vì vậy mà trên từng bước đường về, đầu óc tôi cứ cố hồi tưởng thật nhiều kỷ niệm với Ninh Hòa. Giống như một blackhole* trong không gian, tôi muốn cuốn hút mọi thứ, mọi hình ảnh thời quá khứ.

 

         Có người bảo không nên sống nhiều với quá khứ nhưng thử hỏi mấy ai ra đi và khi trở lại mà không nghĩ về quá khứ. Người ta thường bảo quá khứ là lịch sử, tương lai là điều bí ẩn, hiện tại là một món quà (past is history, future is a mystery, present is a gift), có lẽ vì vậy mà trong tiếng Anh, chữ present đã chuyên chở hai ý nghĩa, vừa là hiện tại vừa là món quà. Một vài người bạn Mỹ chơi khá thân, mỗi khi thấy tôi có chuyện buồn thường khuyên rằng đừng nhìn lại quá khứ, hãy ngó về tương lai (don’t look back, look to the future). Quả thật nghe theo lời khuyên này tôi cảm thấy dễ chịu hơn rất nhiều vì quá khứ sẽ không bao giờ thay đổi được nữa và tương lai thì lúc nào cũng mở ngõ cho những niềm hy vọng. Tuy nhiên nếu chỉ sống cho hiện tại và chỉ mơ ước về tương lai (live the present, dream the future) mà phải quên đi quá khứ thì cũng còn tùy. Những quá khứ đau buồn tủi nhục của một thời đóng cửa u mê, thực phẩm khẩu phần, cơm độn bo bo, con người thì lúc nào cũng rình rập để đấu tố giết hại lẫn nhau, có khi vô luân đến độ máu mủ ruột thịt, đồng hương đồng loại cũng không chút nhân tính, những quá khứ như thế thì người ta cũng nên quên phức nó đi để khỏi phải nhớ rằng có một quãng nào đó trong đời họ đã phải bất hạnh trải qua một giai đoạn đen tối của lịch sử. Chứ còn những quá khứ êm đềm về tình yêu, tình bạn, tình quê, tình học trò… thì chúng ta phải nên ôm ấp trìu mến bởi những thứ tình đó bao giờ cũng thăng hoa cho cái cao quý của tình người….

 

Ghi chú

 
* Wormholes: tạm dịch những con đường tắt (shortcut) của
không gian và thời gian trong vũ trụ
 

 
Blackhole: tạm dịch lỗ đen trong không gian với từ trường khổng lồ
 cuốn hút mọi thứ, kể cả ánh sáng cũng không thoát được.

 

Còn tiếp…

 



  q  Lê Lai  q
 

 

 

Trang Thơ & Truyện: Lê Lai                 |                 www.ninh-hoa.com