Phần 2:
ĐÔI D̉ NG
LỊCH SỬ:
Năm 1690, Chúa Nghĩa
Nguyễn Phúc Trăn (1687-1691), lập phủ Chúa ở Phú Xuân, đổi tên phủ
Thái Khang thành phủ B́nh Khang.
Năm 1742 Chúa Nguyễn Phúc Khoát (Vơ Vương) đổi tên Diên Ninh
thành Diên Khánh.
Từ khi Nguyễn Hoàng vào trấn thủ đất Thuận Hóa (1558) cho đến
năm 1744, đời Chúa Nguyễn Phúc Khoát (làm Chúa từ 1738-1765) là
186 năm, tuy làm Chúa một phương nhưng vẫn dùng niên hiệu nhà Lê
và theo chế độ phương Bắc.
Năm 1744, Chúa Nguyễn Phúc Khoát xưng vương hiệu, sửa chế độ,
định triều nghi thành một nước tự chủ, (nhưng chưa có quốc hiệu
nên người ngoại quốc vẫn quen gọi là Quảng Nam quốc), chia nước
thành 12 dinh trong đó có dinh B́nh Khang gồm 2 phủ Diên Khánh và
B́nh Khang (Ninh Ḥa) cùng 5 huyện. Từ sông Phan Rang trở vô thuộc
dinh B́nh Thuận.
12 dinh là:
Chính dinh (Phú Xuân), Cựu dinh (Ái Tử), Quảng B́nh
dinh, Vũ Xá dinh, Bố Chính dinh, Quảng nam dinh, Phú Yên dinh,
B́nh Khang dinh, B́nh Thuận dinh, Trấn Biên dinh, Phiên Trấn dinh,
và Long Hồ dinh.
Lỵ sở của quan Trấn thủ dinh B́nh Khang (tỉnh trưởng Khánh Ḥa)
vẫn đóng tại địa hạt phủ B́nh Khang (Ninh Ḥa) bên bờ Bắc sông
Dinh như thời quan Thái thú.
M ỗi dinh, ngoài quan
Trấn thủ có quan Cai bạ, quan Kư lục để coi việc cai trị.
Từ 1653 đến 1765 trải qua 112 năm đất Khánh Ḥa xưa không xảy
ra một biến cố ǵ quan trọng, nhưng từ khi Chúa Nguyễn Phúc Thuần
kế nghiệp th́ trong nước sinh loạn lạc, phần th́ bọn tham quan ô
lại bóc lột, phần th́ giặc cướp quấy nhiễu nên nhân dân đồ thán.
Năm 1771 Tây Sơn khởi nghĩa ở Qui Nhơn dựng nên nghiệp lớn.
Năm 1774 Chúa Nguyễn bỏ thành Phú Xuân chạy vào Gia Định, vùng
đất từ Quảng Nam đến B́nh Thuận thuộc nhà Tây Sơn. Ít lâu sau quan
Lưu trấn đất Long Hồ là Tống Phúc Hợp đem quân từ miền Nam ra đánh
lấy lại 3 phủ B́nh Thuận, Diên Khánh, B́nh Khang, nhưng Nguyễn
Nhạc lập mưu đem quân từ Qui Nhơn vào chiếm lại. Gần 20 năm dinh
B́nh Khang dưới quyền cai trị nhà Tây Sơn được yên ổn.
Năm 1793, Nguyễn Ánh sai tướng Lê Văn Quân đem binh từ Nam ra
đánh chiếm dinh B́nh Thuận, dinh B́nh Khang, rồi cho xây thành đào
hào kiên cố tại phủ lỵ Diên Khánh để làm tổng hành dinh giao cho
Nguyễn Văn Thành trấn thủ, sau Hoàng Tử Cảnh và Bá Đa Lộc ra tăng
cường, kế đó Vơ Tánh ra thay.
T ừ đó Ninh Ḥa không
c̣n là nơi đặt dinh quan Trấn thủ nữa.
Năm 1794 và 1795 Trần Quang Diệu vào đánh Thành Diên Khánh 2
lần, nhưng không hạ được, từ đó dinh B́nh Khang vĩnh viễn thuộc về
nhà Nguyễn.
Năm1802, Vua Gia Long thống nhất sơn hà, đặt tên nước là Việt
Nam, chia nước thành 4 doanh, 23 trấn.
Năm 1803, dinh B́nh Khang đổi thành dinh B́nh Ḥa. Phủ B́nh
Khang đổi thành phủ B́nh Ḥa. Dinh quan trấn thủ vẫn đóng tại
Thành Diên Khánh.
Năm 1808, dinh B́nh Ḥa đổi thành trấn Binh Ḥa
Năm 1831,Vua Minh Mạng đổi trấn B́nh Ḥa thành tỉnh Khánh Ḥa,
Diên Khánh vẫn được dùng làm tỉnh lỵ. Phủ B́nh Ḥa đổi thành phủ
Ninh Ḥa, sáp nhập huyện Ḥa Châu vào huyện Phước Điền, tỉnh Khánh
Ḥa có 2 phủ, 4 huyện. Quan Tuần Vũ coi 2 tỉnh Khánh Ḥa, B́nh
Thuận gọi là Thuận Khánh Tuần Vũ, Ty Bố có quan Bố Chánh Sứ, Ty Án
có quan Án Sát Sứ giúp việc. Ở phủ, huyện có quan Tri phủ,Tri
huyện.
Từ năm Vua Gia Long lên ngôi đến khi Vua Tự Đức băng hà là 81
năm (1802 - 1883) Khánh Ḥa được an cư lạc nghiệp, nhưng từ khi
giặc Pháp xâm lăng, tỉnh Khánh Ḥa bất ổn, liên tục xảy ra đổ máu.
Năm 1885 Kinh thành Huế thất thủ, Vua Hàm Nghi chạy ra Quảng Trị
xuống chiếu Cần Vương, các sĩ phu và nhân dân Khánh Ḥa nhiệt liệt
hưởng ứng. Tại Vạn Ninh có nhóm nghĩa binh của ông Trần Đường. Ba
anh em Ô. Nguyễn Khanh, Nguyễn Dị, Nguyễn Lương cố thủ thành Diên
Khánh. Ở vùng Ḥn Khói có quân của ông Trịnh Phong, tục danh là Đề
Phong. Nhưng v́ thế yếu các bậc Văn Thân cuối cùng thất bại đành
phải tuẫn tiết để nêu cao gương dũng liệt ngh́n thu. Nhân dân
Khánh Ḥa nằm dưới 2 ách cai trị của Pháp và Nam Triều. Cấp chỉ
huy tỉnh thuộc Nam Triều có Tuần Vũ, Án Sát, Lănh Binh. Lỵ sở đóng
tại Diên Khánh. Cơ quan lănh đạo Pháp có Chánh Sứ, Phó Sứ, Giám
Binh đóng tại Nha Trang.
Năm 1888, Vua Đồng Khánh tách huyện An Phước cùng 7 xă của
huyện Tuy Phong và 2 tổng của huyện Ḥa Đa ra khỏi tỉnh B́nh Thuận
nhập vào huyện Vĩnh Xương, Năm 1901, thời Vua Thành Thái, các phần
đất cắt trên đây lại trở về Ninh Thuận để đổi phủ Ninh Thuận thành
đạo Ninh Thuận.Tỉnh Khánh Ḥa có 2 phủ, 4 huyện. Phủ Ninh Ḥa có 2
huyện Quảng Phước, Tân Định; phủ Diên Khánh có 2 huyện Phước Điền,
Vĩnh Xương.
T hời vua Duy Tân cắt
1 phần đất huyện Vĩnh Xương lập huyện Cam Lâm, bỏ huyện Phước Điền
giao phủ Diên Khánh kiêm lư, bỏ huyện Quảng Phước giao phủ Ninh
Ḥa kiêm lư. Tỉnh Khánh Ḥa chỉ c̣n 2 phủ là Ninh Ḥa, Diên Khánh
và 3 huyện là Cam Lâm, Vĩnh Xương, Tân Định. Tên Quảng Phước mất
từ đó.
Năm 1908, nhà chí sĩ Trần Quư Cáp phát động phong trào canh tân
bị bọn quan lại Nam Triều kết án tử h́nh hành quyết tại G̣ Sông
Cạn, Diên Khánh, nhân dân tiếc thương lập đền thờ đặt tên đường để
nhớ ơn. Đường Trần Quư Cáp là con đường chính tại Nha Trang và Thị
trấn Ninh Ḥa.
Năm 1924, vua Bảo Đại ra Dụ thiết lập Thị xă Nha Trang, ṭa
công sứ Pháp và các ty sở đều đóng tại đây, nhưng quan Nam triều
vẫn đóng tại Thành.
Khoảng năm 1930-1931 sau khi quốc lộ 21 hoàn thành việc buôn
bán tại huyện Tân Định (địa phận Ninh Ḥa bây giờ) trở nên phồn
thịnh, lại thêm vùng Ḥn Khói sản xuất muối phát triển ghe thuyền
ra vào tấp nập, huyện Tân Định đổi thành phủ Ninh Ḥa (tức Ninh
Ḥa bây giờ), c̣n phủ Ninh Ḥa củ th́ đổi là huyện Vạn Ninh, tên Tân
Định từ đó mất hẳn.
Năm 1945, sau khi Nhật đảo chánh Pháp, tỉnh lỵ Khánh Ḥa dời
xuống Nha Trang đóng tại Ṭa Sứ cũ.
Ngày 19-8-1945 Việt Minh nắm quyền được 2 tháng th́ Pháp đổ bộ
lên Nha Trang chiếm lại Khánh Ḥa.
Năm 1946 chiến tranh Việt Pháp lan tràn khắp tỉnh, chính phủ
Pháp cắt 1 phần đất thuộc phủ Diên Khánh đặt 1 cơ quan đại diện
tại hạt Suối Dầu để bảo vệ quyền lợi thực dân tại các vườn cao su,
ở đây đặt 1 viên sĩ quan Pháp có 1 viên bang tá người Việt phụ lực.
Nha Bang Tá Suối Dầu trực thuộc Ṭa Công sứ Pháp tại Nha Trang.
Năm 1949, Ṭa Công Sứ Pháp bị băi bỏ được thay thế bằng 1 cơ
quan đại diện Chính phủ Quốc gia Việt Nam đứng đầu là 1 vị Tỉnh
trưởng, có Phó Tỉnh trưởng, trụ sở đóng tại Nha Trang, c̣n Thành
dùng làm trụ sở quận Diên Khánh. Từ đó các danh từ phủ huyện đều
bỏ thay bằng danh từ quận, đứng đầu có viên quận trưởng. Huyện Cam
Lâm gọi là Nha Kiêm Lư Bang Tá trực thuộc Ṭa Tỉnh Trưởng tại Nha
Trang.
Đến tháng 12/1954
hai Nha Bang Tá Suối Dầu và Cam Lâm gọi chung là Nha Đại Diện Hành
Chánh.
Tháng 7/ 1958 Nha Đại Diện Hành Chánh Suối Dầu bải bỏ nhập vào
Cam Lâm thành quận mới gọi là quận Cam Lâm.
Tháng 5/1959, 2 tổng Krong Jing và Krong Kinh gồm 5 xă 30 thôn
của tỉnh Đắc Lắc rộng độ
1.000km2
sáp nhập vào quận Ninh Ḥa gọi
là Cơ Sở Hành Chánh Khánh Dương.
Tháng 4/ 1960, 12 thôn quận Cam Lâm nhập vào quận Du Long mới
thành lập của tỉnh Ninh Thuận, Khánh Ḥa bị mất 290km2.
Tháng 12/1960 Cơ Sở Hành Chánh Khánh Dương cải thiết thành quận
Khánh Dương có 5 xă, quận lỵ đóng tại Khánh Chỉ (M Drak, xă Ea
Ksung trên Quốc lộ 21). Từ Ninh Ḥa lên Khánh Dương vượt qua nhiều
đèo như đèo 24, đèo Phụng Hoàng, đèo Giốc Đất, đèo Mà Rạc.
Năm 1965, 1 phần đất của quận Cam Lâm bị cắt để thiết lập Thị
Xă Cam Ranh. Thời gian này tỉnh Khánh Ḥa có 6 quận: Vạn Ninh,
Ninh Ḥa, Vĩnh Xương, Diên Khánh, Cam Lâm và Khánh Dương.
Nh́n chung, suốt "100 năm đô hộ giặc
Tây, 20 năm nội chiến từng ngày" Khánh Ḥa vẫn là xứ hiền ḥa,
ít xảy ra cảnh máu đổ thịt rơi khủng khiếp như ở các tỉnh từ Đèo
Cả trở ra.
T heo bảng thống kê
năm 1966:
Quận Vạn Ninh có 34
thôn, 9 xă, diện tích 618km2.
Quận Ninh Ḥa có 112 thôn,
20 xă, diện tích 1049.2km2.
Quận Khánh Dương có 30
thôn (buôn), 5 xă, 2 tổng, diện tích 1384.1km2.
Từ đó tính ra diện tích của phủ Thái Khang có khoảng
2.051 km2
gần bằng phân nửa diện tích tỉnh Khánh Ḥa (4949.8 km2) đă trừ
1000km2
của Đắc Lắc và cộng 290km2
bị cắt giao Ninh Thuận.
Như vậy, Ninh Ḥa xưa tức phủ Thái Khang bao gồm 2 huyện Vạn
Ninh, Ninh Ḥa và một phần huyện Khánh Dương ngày nay.
T rở lại thời kỳ đầu từ năm 1653 đến 1699 trong ṿng 46 năm,
dinh Thái Khang (đến năm 1690 đổi là dinh B́nh Khang) đă ổn định
vững chắc về mọi mặt, có những sự kiện lịch sử quan trọng như sau:
Năm 1674, nước Chân Lạp có Nặc Ông Đài đi cầu viện Tiêm La để
đánh Nặc Ông Nộn. Sách Việt Nam Sử Lược viết: "Nặc Ông Nộn
bỏ chạy sang cầu cứu ở dinh Thái Khang (nay là Khánh Ḥa).
Chúa Hiền bèn sai cai-cơ đạo Nha-trang là là Nguyễn Dương Lâm cùng
với Nguyễn Đ́nh Phái làm tham mưu đem binh chia ra hai đạo sang
đánh Nặc Ông Đài, phá được đồn Sài-g̣n rồi tiến quân lên vây thành
Nam-vang. Nặc Ông Đài phải bỏ thành chạy vào chết ở trong rừng.
Nặc Ông Thu ra hàng. Nặc Ông Thu là chính ḍng con trưởng cho nên
lại lập làm chánh quốc vương đóng ở Long-úc, đẻ Nặc Ong Nộn lèm đệ
nhị phó vương, đóng ở Sài-g̣n, bắt hằng năm phải triều cống."
Năm 1693, Chúa Nguyễn Phúc Chu sai quan Tổng-binh Nguyễn Hữu
Kính đem binh đánh bắt được Vua Chiêm là Bà Tranh và bọn thần tử
là Tả Trà Viên, Kế Bà Tử cùng thân thuộc là là Bà Ân đem về Phú
Xuân, đổi đất Chiêm Thành làm Thuận phủ cho Tả Trà Viên, Kế Bà Tử
làm Khám Lư và 3 người con của Bà Ân làm Đề Đốc giữ Thuận-phủ ,
bắt phải đổi y phục như người Việt để phủ dụ dân Chiêm. Qua năm
sau đổi Thuận-phủ ra Thuận-Thành-trấn cho Kế Bà Tử làm Tả Đô Đốc.
Năm 1697 đặt phủ B́nh-thuận, lấy đất Phan-lư (Phan Rí) Phan-lang (Phan
Rang) làm 2 huyện Yên-phước, Ḥa-đa, từ đó nước Chiêm Thành mất
hẳn. Sách Sài G̣n 300 năm cũ chép: "V́ có công b́nh định Chiêm
Thành, Nguyễn Hữu Cảnh (Kính) được thăng Chưởng Cơ, trấn thủ
B́nh Khang (B́nh Khương), sau này quận Ninh Ḥa thuộc tỉnh Khánh
Ḥa."
Năm 1699, "Chúa Nguyễn phong Nguyễn Hữu Kính làm thống binh
cùng với hai phó tướng (...) đem quân thủy bộ từ Dinh B́nh
Khương vào Nam hợp lực với Trần Thượng Xuyên lo việc b́nh định
Chân Lạp" đă chiếm được thành Bích Đôi tức thủ đô Nam Vang bây
giờ.
T óm lại, lịch sử "Ninh
Ḥa Xưa" trải qua 351 năm gắn liền với lịch sử tỉnh Khánh Ḥa, lúc
đầu có tên là phủ Thái Khang, sau đổi thành B́nh Khang, B́nh Ḥa,
Ninh Ḥa, gồm 2 huyện Quảng Phước, Tân Định chạy dài từ Đèo Cả đến
phủ Diên Ninh có diện tích khoảng 2.051km2, bao gồm 2 huyện Vạn
Ninh, Ninh Ḥa và 1 phần huyện Khánh Dương ngày nay, gần bằng phân
nửa diện tích tỉnh Khánh Ḥa.
Dinh quan Thái Thú Thái Khang (về sau đổi là quan Trấn Thủ B́nh
Khang) đóng tại bờ Bắc sông Dinh gần khu vực cầu Dinh thuộc thôn
Vĩnh Phú ngày nay suốt 140 năm mới dời vào Thành Diên Khánh. C̣n
phủ đường của phủ Thái Khang th́ đóng tại thôn Phước Đa đến thời
Pháp thuộc mới dời về địa điểm gần Ngă Ba Bùng Binh Thị trấn Ninh
Ḥa như ngày nay.
Ninh Ḥa xưa đă từng đóng 1 vai tṛ hậu phương quan trọng trong
Phong trào Nam Tiến của Chúa Nguyễn mở mang vùng đất rộng lớn từ
Phan Rang đến mủi Cà Mau.
X in ghi lại các sự
kiện lịch sử quan trọng đáng ghi nhớ:
Năm 1653, Chúa Nguyễn
Phúc Tần lập ra phủ Thái Khang. Kéo dài đến năm 1690 là 37 năm.
Năm 1690, Chúa Nguyễn
Phúc Trăn đổi tên Phủ Thái Khang thành Phủ B́nh Khang. Kéo dài đến
năm 1803 là 113 năm.
Năm 1803,
Vua Gia Long đổi Phủ B́nh Khang thành Phủ B́nh Ḥa. Kéo dài đến
năm 1831 là 28 năm.
Năm 1831, Vua Minh
Mạng đổi tên Phủ B́nh Ḥa thành Phủ Ninh Ḥa. Kéo dài đến năm 1949
là 118 năm. (Đặc biệt, khoảng năm 1930-1931 chính phủ thực dân
Pháp đổi phủ Ninh Ḥa thành huyện Vạn Ninh, c̣n huyện Tân Định th́
đổi thành phủ Ninh Ḥa, theo Nguyễn Đ́nh Tư)
Năm 1949, phủ Ninh Ḥa
đổi thành quận Ninh Ḥa. Kéo dài đến năm 1975 là 26 năm.
Từ năm 1975 đến nay:
quận Ninh Ḥa đổi thành huyện Ninh Ḥa.
Từ khi thành lập 1653
đến năm 1793 là 140 năm, lỵ sở của Khánh Ḥa xưa đặt tại Ninh Ḥa
bên bờ Bắc sông Dinh gần khu vực Cầu Dinh thuộc thôn Vĩnh Phú,
huyện Ninh Ḥa ngày nay. C̣n phủ đường của Ninh Ḥa xưa từ khi mới
thành lập cho đến thời Pháp thuộc khoảng 230 năm đóng tại thôn
Phước Đa, huyện Ninh Ḥa bây giờ, rồi mới dời về địa điểm gần Ngă
Ba Bùng Binh Thị trấn Ninh Ḥa như ngày nay.
Năm 1793, Nguyễn Ánh
xây Thành Diên Khánh, lỵ sở Khánh Ḥa xưa được dời vào Thành (156
năm) đến năm 1949 mới dời xuống Nha Trang cho đến bây giờ.
Chữ Ninh Ḥa do Vua
Minh Mạng đặt, chữ B́nh Ḥa do Vua Gia Long đặt, chữ B́nh Khang do
Chúa Nghĩa Nguyễn Phúc Trăn đặt, chữ Thái Khang do Chúa Hiền
Nguyễn Phúc Tần đặt.
Theo tự điển, những
chữ Thái, Khang, B́nh, Ḥa, Ninh, Khánh có nghĩa như sau:
Thái: - to lớn - hanh thông, thời vận tốt, thuận lợi, may mắn,
- yên ổn không có loạn lạc chiến tranh (thái b́nh, thái ḥa).
Khang: - yên ổn (khang kiện, khang cường: yên mạnh, mạnh khỏe;
khang ninh: mạnh khỏe b́nh yên)
B́nh: - Bằng phẳng - bằng nhau (b́nh đẳng) - yên lặng vô
sự (b́nh yên, thái b́nh, ḥa b́nh) - yên ổn không có chiến
tranh loạn lạc (b́nh an)
Ḥa: - cùng ăn nhịp với nhau - vừa phải, không thái quá không
bất cập (thiên ḥa) - vui; nhân dân ai nấy đều yên vui làm
ăn thỏa thuận - không trái với ai (ḥa khí) - ḥa thuận (ḥa
hiếu) - thôi không tiến hành chiến tranh chống nhau nữa -
không có mâu thuẩn xung đột với nhau (ḥa b́nh: không có chiến
tranh, không dùng vũ lực)
Ninh: yên ổn
Khánh: - mừng; chúc mừng
Thái Khang: thuận lợi may mắn yên ổn thái b́nh.
B́nh Khang: yên ổn b́nh an thái b́nh
B́nh Ḥa: yên ổn b́nh an ḥa b́nh
Ninh Ḥa: yên ổn ḥa b́nh
Khánh Ḥa: mừng ḥa b́nh
T óm lại, Tiền nhân
đă đặt cho xứ Ninh, tức Ninh Ḥa xưa bằng 4 tên khác nhau, Thái
Khang, B́nh Khang, B́nh Ḥa, Ninh Ḥa, nhưng đều có chung một ư
nghĩa rất tốt đẹp là "Yên Ổn Thái B́nh", ăn khớp với tên
của tỉnh Khánh Ḥa là "Mừng Ḥa B́nh" và biệt danh của vị
Chúa khai nguyên là "Hiền".
Đó cũng là ước mơ, hoài băo của người dân xứ Ninh xưa nay vậy.
"Quê em biển nước hiền ḥa
Con người ngay thẳng thật thà thủy chung
Đời c̣n mưa gió băo bùng
Núi c̣n ghi tạc bóng h́nh Vọng Phu
Sông Dinh nước chảy qua cầu
Chảy từ tim Mẹ ngát màu thời gian
Cội nguồn thương quá Thái Khang!
Nghĩa t́nh c̣n đó B́nh Khang dạt dào
Sông Dinh nước chảy ḍng chao
Chở phù sa đắp bồi bao ân t́nh
Sông Dinh ra biển Thái B́nh
Ḷng mơ trở lại xứ Ninh hiền ḥa."
(Sông Dinh tơ tưởng, Đoàn Thủy Tiên)

VINH HỒ
(Orlando, Tháng 6/2004)
Tài liệu tham khảo:
Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quư Đôn.
Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim.
Lịch Sử Đ.B. Ninh Ḥa của Nguyễn Thặng.
Sài G̣n Ba Tră m
Năm Cũ của Nguyên
Hương Nguyễn Cúc.
Xứ Trầm Hương của Quách Tấn.
Non Nước Khánh Ḥa của Nguyễn Đ́nh Tư.
Các Đặc San Khánh Ḥa-Nha Trang tại: Orlando, Houston, Nam Cali,
Bắc Cali (nhiều số).
Đọc
tiếp: Lịch Sử Ninh Ḥa Xưa -
DANH
NHÂN

|