|
|
Albert
Einstein
(1879-1955)
Nguyễn Đ́nh Đại Lộc
Đ ể một
phần bày tỏ sự ngưỡng mộ của chính cá nhân đến những đóng góp vĩ đại cho
nhân loại của các bậc tiền nhân, tôi xin cùng được chia xẻ những nhận
thức của ḿnh cùng với vài thu thập về đại vật lư gia của thế kỷ 20, nhà
triết học uyên thâm, và cũng là nhà chính trị luôn hướng đến sự an b́nh
của nhân loại.
Đ ây, tôi
muốn nói đến Albert Einstein.
Tháng sáu năm này là đúng 100 năm (1905-2005) ngày
Einstein cho ra đời cái “Thuyết Tương Đối”. Thuyết này đă là một sự ngạc
nhiên cho thế giới trong sự thay đổi thế giới quan và nhân sinh quan của
hầu hết giới học gia lúc đương thời và hiện tại; thuyết cũng này đă và
đang ngự trị trong rất nhiều lănh vực khác nhau góp phần hoàn mỹ ngày
càng hữu hiệu hơn đời sống của nhân loại. Tháng Tư vừa qua cũng là kỷ
niệm 50 năm (1955-2005) ngày mất của Einstein. Chính do những đóng góp
vĩ đại đó, năm 2005 đă được thế giới (Đại hội đồng Liên Hợp Quốc) chọn
là Năm quốc tế về Vật Lư và nước Đức chọn năm 2005 là Năm Einstein.
Albert Einstein sinh ngày 14 tháng 3 năm 1879 tại Ulm,
Wurttemberg, Đức quốc, từ một gia đ́nh người Do thái. Ông mất vào ngày
18 tháng Tư năm 1955 tại Princeton, New Jersey, Hoa Kỳ. Einstein không
nói thành thạo cho đến lúc ông được 12 tuổi. Bạn bè trong lớp thường
diễu cợt ông v́ đầu tóc rối bùi, quần áo xốc xếch. Ông thường làm những
tiếng chó sủa và kh́n khịt như tiếng heo; Cho nên, bọn họ thường gọi ông
là "chó-heo" (tiếng Đức: Schweinhund). Hơn nữa, ông rất ngỗ nghịch v́
những tṛ chơi quái gở (thả dơi, chồn hôi trong khi học, thổi đạn giấy
vào đầu của bạn học) không những ở trong lớp mà cả ngoài phố. Bọn trẻ ở
phố Rotterdam gọi ông là "thứ rác rưới của phố Rotterdam (the Rotterdam
Rotter). Môn vật lư đến với ông khi thích thú quan sát đường bay của
viên đạn giấy mà ông thổi vào đầu của một người bạn. Ông bị các giáo
viên trường Rotterdam đuổi học v́ không thể kiên nhẫn được nữa với sự
liên tục nghịch phá bất kỷ cương của Einstein (v/v thả chồn hôi).
Năm 1895, ông thi rớt trường Đại Học Bách Khoa ở
Zurich. Một năm sau, ông được trúng tuyển vào trường Swiss National
Polytechnic in Zurich. Chính v́ không thích lối dạy học của trường này
nên ông thường cúp cua để tự học vật lư và chơi vĩ cầm. ông đă trở thành
một tay vĩ cầm kỳ thú và cao hứng. Rốt cuộc ông cũng tốt nghiệp trường
này nhờ vào vở của một bạn học. Năm 1902, ông được bổ nhiệm làm giám
định cho văn pḥng bảo vệ bằng sáng chế ở Bern. Đây chính là lúc ông có
rất nhiều thời gian để nghiên cứu về quang điện, điện động.
Một thế kỷ trước, đúng vào năm 1905, với 5 bài báo
liên tiếp, ông đă tạo nên cuộc cách mạng trong lĩnh vực vật lư, đưa ra
những quan niệm mới lạ và quan trọng về không gian, thời gian, vật chất,
năng lượng. Trong bài đầu, Einstein giải thích bản chất ánh sáng trong
đó có hiệu ứng quang điện nổi tiếng, và với phát minh này ông đoạt giải
Nobel vào năm 1921. Bài báo thứ hai chứng minh rằng các nguyên tử hiện
hữu thật sự. Bài thứ ba làm thay đổi thế giới với lư thuyết mới về không
gian và thời gian, về sau gọi là "thuyết tương đối". Bài thứ tư và thứ
năm nói về "điện động lực học của các vật thể di chuyển".
Ông tham gia chính trị v́ bản chất một con người luôn
gắn bó khắn khít với số phận của dân tộc, đất nước ḿnh và của nhân loại
qua việc tham gia chủ nghĩa phục quốc Do thái và trở thành phát ngôn
viên nổi tiếng của ḍng Do thái. Năm 1933, Hitler lên cầm quyền cùng với
những áp lực khác, ông tuyên bố không về nước nữa. Ở Mỹ, ông cũng thường
lên tiếng công kích chủ nghĩa Phát xít, và sự phân biệt chủng tộc. Có
khoảng gần 1.400 trang hồ sơ về ông ở Cục điều tra liên bang Mỹ.
Năm 1939, ông có gởi một bức thư đến Tổng thống
Roosevelt về việc cấp thiết chế tạo bom nguyên tử, trong khi chính ông
lúc đương thời cũng chưa biết cách chế tạo loại bom này. Khoảng giữa
thập niên 40 Ông phát minh công thức rất tột cùng vĩ đại E=MC2,
với bằng chứng khiếp đảm qua sự hủy diệt tàn khốc hàng trăm ngàn sanh
linh ở Nhật. Ông đă rất ân hận về việc nhúng tay vào "Manhattan
Project". Và sự ân hận này đè nén từng phút giây c̣n lại của cuộc đời
ông. Đến năm 1946, ông được cử làm Chủ tịch ủy ban khẩn cấp của các nhà
khoa học nguyên tử. Và năm 1955, ông kư một bản tuyên ngôn băi bỏ việc
sử dụng vũ khí hạt nhân. Ông cũng đă từng dạy tại trường đại học
Berkeley, và cũng được đề nghị làm Tổng thống của của nước Do thái.
Theo Einstein, chính trị và những chính sách quan hệ
chỉ là những phương cách đối trị tạm thời. Vượt xa hơn hết, công thức
hóa để miêu tả và giải thích hiện tượng tự nhiên ḥng hữu ích cho nhân
loại chính thực mục tiêu cao thượng hơn. " Phương
tŕnh quan trọng hơn đối với tôi, v́ chính trị là giành cho hiện tại,
c̣n phương tŕnh là giành cho vĩnh cửu",
Albert Eintein.
Sự tương hợp ngẫu nhiên giữa vật lư gia Einstein và
họa sĩ lừng danh Picasso làm kinh ngạc cả hoàn cầu cho đến nay. Einstein
hoàn thành phần bảo vệ phát minh của ḿnh về điện động lực học các vật
thể chuyển động vào tháng 5/1905. Tháng 7/1907, Pablo Picasso, đại diện
cho trường phái tranh lập thể (Cubism), hoàn thành nét vẻ cuối cùng của
ḿnh trên bức tranh " Gái
thanh lâu đường Avignon"
(Les Demoiselles d'Avignon). Cả hai hội họp nhau thứ nhất trong sự đồng
thời: về thời gian đối với Einstein và về không gian đối với Picasso.
Thứ đến, cả hai đều t́m thấy sự tương đối khi quan sát hay miêu tả sự
thể. Ở đây, cả hai đều có quan điểm ngược lại với hội họa và vật lư cổ
điển. Họ đều cho rằng đường nét, vị trí, tốc độ, thời gian của một vật
thể phụ thuộc vào góc nh́n của người quan sát. Chính v́ trói buộc chúng
ta vào những mức đo đầy chấp trước về không gian và thời gian, chung ta
cứ loanh quanh măi không tiếp thu được ánh sáng trí tuệ mà dường như
trong chúng ta ai cũng đă có. Chính lúc cái định kiến về cái tôi khi mỗi
chúng ta nhận ra chính là lúc chúng ta mất dần đi ánh sáng của trí tuệ.
Từ khi ông c̣n là một cậu bé, triết học của Kant,
Schopenhauer và Spinoza cùng với những người khác đă ảnh hhưỡng lớn đến
lập tŕnh suy diển của ông. Nó dạy cho ông cách suy nghĩ độc lập và trừu
tượng hóa về không gian và thời gian, và điều đó xảy ra không lâu trước
khi chính ông trở thành một nhà triết học.
" Nhân
loại là một phần của cái mà chúng ta gọi là vũ trụ, cái phần hữu hạn bởi
thời gian và không gian. Chúng ta nhận thấy chính ḿnh, những cảm nghĩ
và cảm giác của ḿnh như là những ǵ khác biệt với thế giới khách quan.
Đây là ư thức ảo tưởng. Sự ảo tưởng này ràng buộc khác vọng cá nhân và
ngăn cản sự ảnh hưởng của những cá nhân lân cận. Chúng ta phải phá bỏ
những xiềng xích đó bằng cách mở rộng ṿng tay từ bi và nhân ái đến tất
cả các chúng sanh và vạn vật. Giá trị thật sự của sự sống làm người được
thẩm định bằng sự giải thoát từ cái tôi. Để nhân loại được tồn tại,
chúng ta cần phải có một lối suy nghĩ thật mới lạ."
Einstein.
Phật giáo đóng vai tṛ rất lớn trong lối suy nghĩ và
cách hành của Einstein. Einstein đă kiến thụ và chứng minh được một phần
cái ánh sáng trí tuệ tột bực vượt không gian và thời gian của Phật giáo.
Chúng ta có thể nhận thức được những điểm này qua các thuyết vật lư đề
đạt bởi Einstein cùng với quan điểm triết lư của ông qua những ngôn từ
bất diệt.
Cái tánh "Không" của Phật giáo cũng đă được Einstein
đem vào trong thuyết tương đối. Trong Phật giáo, “ nếu
chỉ có khoảng hư không mà không có mặt trời và những hành tinh, khoảng
không ấy mất đi cái tánh hoàn hảo của nó".
Bát Nhă Tâm Kinh có đoạn "...Sắc
bất dị Không, Không bất dị Sắc; Sắc tức thị Không, Không tức thị Sắc...".
Theo Einstein: "According to general relativity, concept of space
detached from any physical content does not exist".
Theo vật lư lượng tử và
nghịch biện EPR (Einstein Podolsky Rosen Paradox): "Basically, what
quantum theory says is that fundamental particles are empty of inherent
existence and exist in an undefined state of potentialities. They have
no inherent existence from their own side and do not become ‘real’ until
a mind interacts with them and gives them meaning. Whenever and wherever
there is no mind there is no meaning and no reality…"
Bị trói buộc bởi những định kiến hủ lậu hằng huân tập
trong đời sống buôn thả không chánh niệm, gói ép bản thân trong không
gian chật hẹp và thời gian hữu hạn, chúng sanh chỉ sống như những tù
nhân của cái tôi cùng những dục vọng khoáng hậu. Tất cả những ư niệm về
nhân, quả, cho đến tiểu lượng tố, tất cả những nguyên tố căn bản chỉ là
ảo vọng của sự tưởng tượng và sự biểu thị của tâm. Theo Einstein: " Physical
concepts are free creations of the human mind, and are not, however it
may seem, uniquely determined by the external world."
Trong Đạo Phật, chính bị buộc chặc vào danh và sắc,
không cảm thấy được chúng chỉ là sản phẩm do tâm tạo, lổi lầm vi phạm và
con đường giải thoát bị tắt nghẽn. Einstein cũng nhận được rằng: “ Time
and again the passion for understanding has led to the illusion that man
is able to comprehend the objective world rationally by pure thought
without any empirical foundation short, by meta physics."
Và một trong những câu nói nổi tiếng khác của ông về
Phật giáo, triết học và khoa học duy lư:
"…tôn
giáo của tương lai phải vượt qua hẳn thần thánh cá nhân và tránh xa các
giáo lư và thần học. Nó phải bao gồm cả phạm trù tự nhiên và tâm linh từ
kinh nghiệm… Đạo Phật thỏa măn những phạm trù này. Nếu có một tôn giáo
nào mà đương đầu với những nhu cầu của khoa học, đó chính là đạo Phật.”
("The religion of the future will be a cosmic religion. It should be
transcend a personal God and avoid dogmas and theology. Covering both
natual and spiritual, it should be based on a religious sense arising
from the experience of all things, natural and spiritual and a
meaningful unity. Buddhism answers this description. If there is any
religion that would cope with modern scientific needs, it would be
Buddhism." Einstein)
Các thuyết của Einstein đă và đang được triển khai
rất rộng răi trong các ứng dụng thường nhật như hệ thống điện toán, kỹ
nghệ vệ tinh, truyền thông, tia lasers, ti-vi, năng lượng hạt nhân,….
Hơn nữa, dù đă qua gần trọn một thế kỹ, các thuyết của Einstein đến nay
vẫn c̣n đang được thử nghiệm và khai thác trong nhiều lănh vực khác nhau.
Einstein, h́nh tượng của một thiên tài với bộ tóc bạc
dựng đứng cùng với hàm râu quặp, thường không quan tâm lắm đến h́nh thức
ăn mặc, và rất trầm tư khi đang nghi vấn. Rất ít đồng sự ũng hộ những
giả thuyết của Ông. Không phải v́ những phương tŕnh toán hóc búa đầy
trắc ẩn mà v́ họ không thoát khỏi được những ràng buộc, định kiến mà họ
thu thập được. Những lư thuyết của Einstein chỉ cần rất tối thiểu vài
định đề cần thiết hổ trợ cho những bằng chứng thực tiển. Chính sự đơn
giản này làm các đồng sự của Ông khó tiếp thu được cái then chốt của vấn
đề. Ông thường cảm thấy sự cô đơn bám ấy Ông hết trọn cuộc đời. Có lần
Ông bạch rằng: ” Những
vật lư gia nói tôi là nhà toán học, c̣n những nhà toán học lại nói tôi
là nhà vật lư gia. Tôi thật sự cô lập, mặc dù rất nhiều người biết đến
tôi, nhưng chỉ có một vài người biết rơ tôi là ai."
Ông là người có đầu óc rất khôi hài, đă để lại một
bức h́nh mà các nhà hí hoạ rất thích: h́nh Ông lè lưởi ra trước các
nhiếp ảnh gia. Có lần ông giải thích Thuyết Tương đối: “ Bỏ
bàn tay vào ḷ lửa nóng khoảng một phút, dường như lâu như đă cả tiếng
đồng hồ. Nếu ngồi tán gẩu với một cô gái đẹp, cả tiếng đồng hồ qua rồi
mà dường như chỉ mới vài phút thôi."
Với tôi, sự " Thành,
Tựu, Hoại, Diệt"
chỉ giải thích một giai đoạn rất nhỏ trong tiến tŕnh luân chuyển.
Einstein “mất đi”, chỉ là sự hoại diệt của cái sắc tạm thời mà thôi. Có
ai trong chúng ta thấy được h́nh sắc của Ông ta trong giây phút hiện tại
không? Từ môt cậu bé ngổ nghịch cho đến trưởng thành thành một vị "thần
đồng" của nhân loại qua vô số kể những cống hiến hữu ích cho sự sinh tồn
và phát triển của nhân sinh trên toàn cầu. Những đóng góp đó, những công
tŕnh đó chính là cuộc đời của Einstein, chính là những tiếp nối không
hạn định của cuộc đời Ông. Cuộc đời Ông quả thực bội sanh, bội nở và
nhân chũng đa dạng, được toàn thể nhân loại ngưỡng ngộ và khâm phục,
chính là quả tối ưu cho những nhân lành mà Ông đă trọn vẹn hiến dâng. Đó
đích thực là cuộc đời của Einstein mà tất cả chúng ta ai cũng có thể
tiếp cận được: Einstein đă và đang có mặt với chúng ta. Trong ta đă có
Ông ấy.
Tôi tự hỏi: " Chúng
ta đă học được những ǵ và cống hiến được những ǵ cho nhân loại, cho
cộng đồng?"
|