|
|
MỘT
THUỞ
DẠI
KHỜ:
Cái
Cặp
Táp
Lạ
Đời
!
Nguyễn
Thanh
Ty


B ọn
con nít xóm tôi đông hàng hà sa số. Xóm tôi, đàn bà ai cũng mắn đẻ và đẻ
sai nữa ḱa. Nghe người ta " b́nh lựng" rằng những xóm ở gần đường xe lửa
là những hảng chuyên sản xuất con nít hàng lô, hàng lốc. Không biết tại
sao ở gần đường rầy đàn bà lại hay đẻ? Đẻ ṣn ṣn năm một. Có lẽ cái âm
thanh "x́nh xịch" của xe lửa mỗi "chuyến đi về sáng” đồng thanh cộng hưởng
với độ rung của cái giường ngủ giúp cho những đứa trẻ hăng hái ra nh́n đời
chăng ?
Hay cái tiếng kin kít nghiến lên đường rày của tiếng
bánh xe đánh thức những cặp vợ chồng trẻ “nửa đêm về sáng” thức dậy bất
ngờ rồi không ngủ lại được nữa, bèn đem bàn cờ của bà Xuân Hương ra đánh
một ván chơi ? Cứ mỗi ván cờ là có một khán giả bất đắc dĩ tḥ ra để chứng
kiến cuộc cờ ?
Nhưng xóm tôi là xóm chài. Ba bề bốn phía là nước. Đâu
có dính dáng ǵ tới xe lửa đâu, sao con nít cứ mỗi năm mỗi đông ? Vậy
chúng từ trong nách nhảy ra hay sao ? Nếu thế th́ chúng sẽ giống bà Ê Và
được Đức Bời Lời làm ra từ cái xương sườn thứ sáu của ông A Đam và sẽ
không có lỗ rún. Nhưng bọn chúng, trai gái, phần đông đứa nào cũng có cái
rún lồi trước bụng to bằng ngón tay cái kia mà ! Thật không hiểu được!
Muốn biết con nít xóm tôi đông cỡ nào cứ nh́n những lúc các ông Cố, bà Cố
người Tây đi xuống xóm rao giảng đạo th́ rơ. Các ông, bà truyền giáo mắt
xanh mũi lơ đi trước. Đám con nít, đứa quần đùi, đứa ở truồng, rồng rắn
theo sau, dài hơn mấy " goong" xe lửa. Không cách nào đếm được. Bọn nó có
chịu đứng yên đâu mà đếm.
R iêng
nội nhà tôi thôi, lúc đó đă bảy anh em rồi. Ai ai trong làng cũng nói một
rập như nhau:
- Trời sinh voi, sinh cỏ. Ông bà cho bao nhiêu nuôi bấy nhiêu.
- Người ta th́ giàu hào của! Ḿnh giàu hào con!
Cha tôi cũng nói y như vậy, khi ông thấy bầy heo con của ông mỗi bữa ăn,
quay quần xung quanh cái mâm cơm làm bằng nhôm đă có vài chỗ nứt bể sứt
sẹo.
Nhưng trong cái đám con nít đông hàng hà như cát biển
ấy, số được cặp sách đến trường th́ mười ngón tay chưa đếm hết. Từ đuôi
cồn cho đến đầu cồn, e chừng mới hơn tám đứa. Gạo không có đủ ăn nói ǵ
đến chuyện sách vở ? Mà học th́ nên ông nghè, ông cống ǵ ?
- Đó ! Học cho giỏi như Chín Ú, như Bảy Dẹo đó rồi thành khùng, thành điên
chớ ích lợi ǵ!
Đa số người làng tôi luôn đưa hai nhân vật này ra như những nhân chứng tệ
hại để nại lư do không cho con cái đi học. Nhất là con gái lại càng không
được.
- Con gái đi học biết chữ chỉ tổ viết thơ cho trai chớ lợi lộc ǵ ! Năm
tôi được mười tuổi th́ đă biết hai người này, chú Chín Ú và anh Bảy Dẹo là
người học giỏi nhất làng rồi. (Xin đọc H́nh bóng nhạt nḥa để biết rơ về
hai nhân vật này)
K hông cần
phải là thầy địa lư Tả Ao mới có thể biết rằng làng tôi khó mà phát lên
được trước các lập luận đầy tự ti này.
Chúng tôi chỉ có vài móng loe ngoe được ôm cặp đến
trường với sự cố gắng vượt bực của cha mẹ. “Chạy ăn từng bữa toát mồ hôi”
như gia cảnh cụ Tú Xương thuở xưa thật đă là phờ râu tôm rồi. Cho nên, cái
việc chúng tôi được ôm cặp đến trường là một điều quá sức rồi. C̣n cái
chuyện học được hay không, giỏi hay dốt là cha mẹ phú cho Trời. Có ai biết
chữ đâu mà kèm cặp thêm cho con cái ? Có giờ giấc rảnh đâu mà ngó nh́n đến
cái vở, cuốn tập của thằng con ?
Chúng tôi đi học giống như những con ngựa hoang ngoài
đồng nội, như những con chim chiền chiện trên rừng, như những con cá lạc
bầy dưới biển. Hôm nào thích th́ vào trường. Hôm nào ham vui theo tiếng
gọi " thiêng liêng" tức là mùa trái rừng bắt đầu chín tới là dấu cặp trong
bụi rậm, trốn học đi hoang trong những băi ma dương, dũ dẻ, chùm bao, nhăn
rừng... Ôi ! Thời gian đi học là cả một thiên đường thần tiên cho tuổi trẻ
chúng tôi !
T hật sự đi
học là cả một chuyện khó nhọc cho chúng tôi chứ chẳng dễ dàng ǵ ! Anh em
thằng Bụi, thằng Bờ con bác Sáu Chúc nói cũng có lư của nó:
- Đi học khổ chết cha! Ở nhà đi qua lồ sướng hơn, lại có tiền ăn hàng nữa!
Chúng tôi khổ cả về mặt vật chất lẫn tinh thần. Quần áo
th́ chỉ một bộ duy nhất v́ bị bắt buộc của nhà trường mới có: quần soọc
xanh, áo sơ mi trắng. Mặc suốt một tuần, giặt một lần ngày chủ nhật, sáng
thứ hai mặc tiếp. Ba năm quần sờn đít, bạc màu. Áo bục ra từng măng sau
lưng. Mới may bộ khác. Năm năm ở tiểu học tôi được cha mẹ may cho ba bộ.
Về nhà là đánh trần với cái quần đùi may bằng vải ú đen. Vở th́ bao b́a
bằng bao giấy xi măng. Cái nhăn vở làm bằng tờ giấy học tṛ cắt ra theo
cái mẫu "ê ti két" có vẽ hoa lá chung quanh của mấy đứa trên Đầm, mua ở
tiệm tạp hóa Vĩnh An Thành đường Phan bội Châu.
G áy mấy
cuốn vở lâu ngày bị mồ hôi tay ôm mỗi ngày, sờn ra, rách ḷi lưng cái b́a
vở thấp thoáng in bảng cửu chương bên trong. Cây viết th́ đút túi. Chạy
nhảy, nô đùa một hồi, ngó lại, nó đă rớt mất ở đâu rồi. T́m cả ngày không
ra. Đành phải lấy tre vót thành cái cán rồi xin ng̣i viết lá tre cũ đă bị
rè của thằng bạn vất ra, cột vào, xài đỡ. Ng̣i viết lá tre rẻ nhất. Năm
cắc ba cái. Ng̣i viết dẹp năm cắc hai cái. Đắt nhứt là ng̣i viết bầu. Một
đồng hai cái. Mất viết là chuyện dài dài. Đâu thể mỗi tuần xin tiền mua
viết một lần v́ tội ham chơi làm mất. B́nh mực th́ lấy giây nhợ cột ṭng
teng ở cổ b́nh, đeo bên hông. Nhảy một hồi, nắp bung ra, mực chảy tá lă
xuống quần, xuống lưng, ṛng ṛng theo ống cẳng. Ngó lại mực trong b́nh
c̣n chút xíu không đủ ngập một phần tư ng̣i viết. Đổ nước thêm vào cho đủ
chấm. Lúc viết bài, mực lạt nhách chỉ thấy mờ mờ. Xin thằng bạn kế bên một
chút pha vào cho thêm độ đậm. Ai ngờ mực nó loại khác, pha vào chống nhau,
mực bị thúi, không ra màu ǵ cả. Giơ b́nh lên trời soi, thấy nước trong
veo, c̣n mực th́ đóng cục lợn cợn những hột li ti. Phải đem đi đổ, súc
b́nh cho sạch, mới bỏ mực khác vào. Nay mực xanh. Mai mực tím. Xin được
mực nào viết mực ấy. Hóa ra cuốn vở đủ màu. Một màu dơ dáy. Chữ viết lẫn
lộn lung tung như gà bới rác.
N ói đến
sách học “thêm" th́ càng khổ hơn nữa. Đầu năm, thầy giáo cho biết một số
sách cần phải mua để tự học thêm ở nhà. Quan trọng nhất là sách toán pháp.
Tṛ nào muốn mua th́ góp tiền cho lớp trưởng gom lại, Thầy sẽ gửi nhà sách
mua dùm một lần cho rẽ hơn giá bán từng cuốn. Năm tôi học lớp Ba với thầy
Phạm văn Thanh, cuốn sách toán pháp chỉ có ba đồng, mà tôi vẫn không có
nổi để góp mua. Năm ấy, thầy đă xuống tận nhà tôi, tặng cho tôi cuốn sách
đó trong lúc tôi đang xây bột nếp để Má tôi nấu chè sôi nước bán.
Thầy chép miệng:
- Con thiệt là nghèo cháy túi !
Suốt đời tôi không bao giờ quên được cái ngày này. Ngày lịch sử trọng đại
nhất đời tôi.
Tập vở cũng là vật che mưa che nắng. Ngày nắng chang
chang th́ đội vở lên đầu mà đi. Ngày mưa phùn, mưa lai rai cũng dùng vở
che đầu thay cho nón lá. Gặp ngày mưa to hay mưa dông th́ đút vở trong
bụng mà chạy thục mạng. Loi ngoi lóp ngóp. Tập vở bèm hem, nhàu nát. Chữ
nghĩa quanh ŕa lem nhem loang lỗ như bức tranh mây chó.
Đâu có đứa nào có cặp, dù là cái cặp nhựa một ngăn của
Ba Tàu sản xuất, in h́nh mấy đứa trẻ Tàu mặt mũi ngô nghê, màu sắc loè
loẹt, cũng đang mang cặp trên lưng đến trường. Tôi mơ ước có một cái cặp
táp làm bằng da ḅ màu vàng, có ba ngăn. Thằng Trụ ngồi bên cạnh, có một
cái mới "keng". Ngày ngày nó xách cặp táp đi học. Nh́n cách nó cầm cái
quai cặp táp da ḅ đi vào lớp, bộ điệu chững chạc như người lớn, tôi thèm
thuồng và kính nể nó biết bao. Sách vở nó lúc nào cũng tinh tươm sạch sẽ.
Nó lại học giỏi nữa. Tôi định bụng nó học giỏi một phần cũng nhờ vào cái
cặp táp này. Nếu tôi có được một cái như nó nhỉ ! Lúc ấy tôi cũng sẽ học
giỏi, biết chừng c̣n hơn nó nữa là đằng khác.
N hưng suốt
thời gian đi học, tôi không bao giờ có được một cái cặp táp như trong ước
mơ. Dù rằng sau này lên trung học, những cái cặp làm bằng da thuộc, màu
đen, lớn hơn, có nhiều ngăn hơn, oai vệ hơn càng làm tăng thêm cái thèm
thuồng ước muốn của tôi.
Một ngày kia, không biết cha tôi mua hay xin được ở đâu
đó một miếng bạt vải bố nhà binh màu xám xanh cứt ngựa, rất to, bằng chiếc
chiếu đôi. Tôi thấy ông lấy dây thước thợ may đo dọc, đo ngang miếng vải
bố nhiều lần rồi lẫm nhẩm tính toán. Một lúc, ông lại bảo tôi cho ông mượn
cuốn vở. Ông dùng cuốn vở tôi làm ni, đo tới, đo lui. Ông dùng cục than
bếp và cái đ̣n gánh má tôi làm thước, gạch một đường dài theo chiều ngang
tấm bố. Ông lại dùng dao rọc cho đứt rời ra làm hai mănh. Mănh nhỏ bề
ngang lớn hơn cuốn tập một chút, ông cuốn tṛn lại dựng ở sau tủ thờ.
Miếng lớn ông làm cho má tôi tấm phên che nắng, che mưa ngồi bán hàng,
thay cho tấm phên làm bằng lá dừa nặng trịch, di chuyển khó khăn. Mấy hôm
sau, ông đem về một cái dùi, một cuộn dây cước mănh, loại tôi hay dùng để
câu cá sơn ḷng tong và một cây kim to, loại kim thiến heo. Ông đem miếng
vải bố ra, vừa dùi lỗ, vừa xỏ kim, may may, cột cột.
T ôi ṭ ṃ
không biết ông làm cái ǵ. Dần dần nó thành h́nh cái túi dết, giống như
cái túi đặt trên lưng lừa, thồ vật dụng. Túi dết có hai ngăn. Ngăn bên
trái, ngăn bên phải. Gấp đôi lại, hai túi nằm bên trong.
A ! Tôi biết rồi! Cha tôi may cho tôi một cái cặp táp
để cho tôi đựng vở và viết cùng những thứ linh tinh như gôm, bút màu, bút
ch́...
T ôi sung
sướng nh́n cha tôi, ḷng thầm cám ơn ông. Ông đă quan tâm tới chuyện học
hành của tôi từ lâu mà tôi không biết. Cha tôi không biết chữ nên ông
không cách nào giúp ǵ được cho tôi trong việc học hành. Ngày ngày ông chỉ
có la rầy là tôi ham chơi và một câu duy nhất ông nói với tôi như vừa nhắc
nhở vừa hăm he:
- Bữa nay học bài thuộc chưa ?
Dĩ nhiên, trăm lần như một tôi đều trả lời như máy:
- Dạ ! Thưa cha ! Thuộc rồi.
Hai ngày sau cái cặp táp hoàn tất. Ông xin dầu rái
trong của ông ngoại tôi phết lên lớp bố. Lớp này vừa khô, ông phết lớp
khác lên. Nhiều lần như vậy, tuần sau tôi có chiếc cặp cứng cáp, bóng
lưỡng, ngon lành. Tôi dồn hết mọi thứ vô hai ngăn. Hai ngăn đầy sách vở
phồng lên giống như bụng con lừa có chửa. Cha tôi quên, không may cái quai
xách. Bây giờ có may cũng hết vải bố rồi!
N gày đầu
tiên tôi ôm cái cặp táp vải bố hăng hăng mùi dầu rái đi học, bọn trong xóm
đứa nào cũng trầm trồ, chạy theo coi. Tôi hănh diện vô cùng. Tám đứa học
tṛ trong làng chỉ có mỗi ḿnh tôi có cặp. Ôi chao ôi ! C̣n niềm hănh diện
nào bằng!
Tôi sẽ học giỏi vượt bực nhờ cái cặp này ! Tôi sẽ làm
toán dễ dàng cũng sẽ nhờ cái cặp này. Nghĩa là nhờ cái cặp này, ngày mai
cuộc đời đứa học tṛ dốt toán, ít khi thuộc bài của tôi sẽ đổi khác. Cứ ôm
cái cặp trong ḷng là mọi sự sẽ như phép lạ của bà Tiên, đều tốt đẹp hết.
Tôi sẽ bằng rồi qua mặt thằng Trụ một cái vù. Nó sẽ há hốc miệng ra và tha
hồ mà ngạc nhiên. Tôi vừa đi vừa miên man nghĩ bao điều thú vị trong đầu.
Bất giác cười thành tiếng.
Khi tôi vừa vào đến lớp, chưa kịp khoe cái cặp mới tinh
cho mấy đứa bạn ngồi gần th́ bọn chúng đă xô tới, giằng cái cặp trong tay
tôi, chạy ṿng ṿng xung quanh dăy bàn học vừa cười hô hố, vừa banh cái
cặp làm hai ra. Sách vở bút mực, bút ch́ rơi ra tung toé trên nền xi măng.
Chúng chuyền cái cặp tôi như chuyền banh cho nhau xem rồi cười ngặt nghẽo.
Ban đầu tôi giận tím mặt. Chúng dám đem cả một công tŕnh của cha tôi ra
mà chế diễu. Tôi chạy theo giựt lại. Vừa túm được đứa này th́ nó đă tung
sang cho đứa khác. Thấy tôi càng đuổi theo chúng càng đùa dai. Chúng đem
cái cặp da ḅ của thằng Trụ so với cái cặp mới của tôi rồi ḥ lên:
- Chúng mày hăy xem cái cặp táp tân kỳ có một không hai trên đời nè!
- Cái cặp của nó bay mùi Cồn quá tụi bay ơi!
Bây giờ th́ tôi mới nhận ra rơ ràng cái cặp của cha tôi
may, nằm bên cạnh cái cặp táp da ḅ của thằng Trụ, thật quê mùa, xấu xí
quá đỗi. Trông nó trụi lũi, bóng láng một vách vô duyên như cô gái quê tập
đánh phấn lần đầu vụng về, hai g̣ má đỏ như hai khuôn dấu ịn lên vậy. Cuối
cùng th́ tṛ chơi quái ác của chúng cũng phải chấm dứt khi trống vô lớp đă
đánh thùng thùng.
T ôi bẽn lẽn
lấy lại cái cặp và thu gom sách vở xếp vào như cũ. Tôi bỏ nó vào hộc bàn
rồi ngồi thu lu buồn xo. Bao nhiêu hư hửng buổi sáng mai khi ra khỏi nhà
bây giờ tan biến hết. Thay vào đó là nổi mặc cảm tủi hổ của con nhà nghèo.
Tôi lại nhớ đến bài học thuộc ḷng :
...
Con nhà nghèo nhiều khi vất vả,
Khỏi học đường thư thả được đâu!
Khi th́ quảy nước tưới rau,
Chợ tan, đ̣n gánh theo sau mẹ già!
Việc giấy bút vẫn là đi học!
Chốn học đường khó nhọc nhường bao!...
Rồi tôi tủi thân, ngồi khóc thút thít...
Khi Thầy vào lớp thấy tôi khóc, hỏi duyên cớ, có đứa
mách câu chuyện cái cặp lạ đời của tôi cho Thầy nghe. Thầy bảo tôi đưa cho
Thầy xem. Tôi rụt rè đưa “cái vật lạ đời” cho Thầy. Thầy cầm nó đem lên
bục, ngắm nghía hồi lâu, rồi quay xuống lớp, nghiêm giọng:
-Tại sao các con lại đem cái cặp của tṛ ấy làm điều
chế diễu ? Thầy thấy đây mới đích thực là cái cặp đáng quí. Cha tṛ ấy v́
thương con nhưng nhà nghèo nên phải tự tay ḿnh may cho con một cái cặp tự
chế để con giữ ǵn sách vở với mưa nắng. Các con có cảm thấy mỗi đường may
là cả một t́nh thương ấp ủ trong đó không ?
Thầy khuyên các con không nên làm chuyện saí quấy như
vậy nữa!
Tôi càng nghe Thầy nói càng thổn thức nhiều hơn. Bây
giờ tôi khóc thực sự. Khóc không phải v́ mặc cảm xấu hổ như lúc năy mà
khóc v́ cảm động với những lời của Thầy. Lời Thầy như nước Cam Lồ chảy vào
ḷng tôi, thấm từng tế bào, thấm vào gan ruột làm cho cho cả người tôi
ngọt mềm ra với ḍng suối tràn đầy cảm xúc chan chứa ân t́nh của cha tôi.
H́nh ảnh ông ngồi g̣ lưng cặm cụi hai buổi trưa may cho tôi chiếc cặp sao
mà thương quá đổi.
... Tôi ôm cái cặp lạ đời đó từ lớp Ba cho đến lớp Nhất.
Bây giờ th́ nó đă quá thân thương với tôi và cũng đă quen mắt với mọi đứa
học tṛ trong trường rồi. Không ai chú ư đến nó nữa. Đến năm lớp Nhất th́
lớp dầu rái bên ngoài đă bong ra gần hết để ḷi ra loang lỗ cái màu xám
xanh cứt ngựa như xưa. Có vài chổ đă bạc màu , thấy rơ cả những sợi vải
đan chéo nhau. Bốn góc cặp cũng ṃn lĩn và một góc đă thủng một lỗ to bằng
ngón tay. Mấy cây viết cứ theo đó mà rơi ra ngoài. Cha tôi xin một miếng
rẻo vải xanh ka ki bằng bàn tay ở quán may chú Đạm, vá chằm lên để bít cái
lỗ.
Q ua bao năm
tháng, cái cặp giỡ ra, xếp vào không biết bao nhiêu lần, nay đă xếp thành
lằn ở chính giữa và ṃn dần muốn đứt ra làm hai mănh. Tôi phải ôm nó thật
cẩn thận khi đi học mỗi ngày. Nó đă từng che mưa, che nắng cho tôi như
cánh tay của cha tôi vươn ra và bảo vệ sách vở tôi chu đáo không thua ǵ
những cái cặp da ḅ đắt tiền của những đứa con nhà giàu.
Rồi ngày tàn của nó đến lúc cũng phải tới. Đó là qui
luật đất trời. Đâu có ǵ là vĩnh cữu. Nhưng nó đă tới một cách oanh liệt,
hào hùng và cảm động.
Trong trận thư hùng với bọn du côn đánh giầy năm cuối
cùng trước khi tôi rời mái trường Nam Tiểu Học thân yêu, chúng tôi đă đánh
nhau một trận kịch liệt với bọn chúng.
C hiếc cặp
đă che cho tôi khỏi bị cái thùng gỗ đánh giầy xáng vào đầu. Và tôi đă dùng
chiếc cặp như một vũ khí đánh lại chúng. Tôi vung cái cặp quay tít quanh
đầu, xông vào giáp chiến. Bọn thằng Phát, thằng Jean, thằng So, thằng Lía...
nhào vô cả tay lẫn chân đá, loi, thoi, chọt tưng bừng...Bọn đánh giầy chỉ
c̣n đưa thùng gỗ lên che mặt và tháo lui. Tôi vung trúng một cái thùng gỗ.
Hai vật chạm nhau dữ dội. Cái thùng gỗ văng ra xa. Cái cặp tôi đứt ĺa làm
hai. Một nửa bay về phía chúng. Thằng Phát nhảy tới cướp cái thùng. Bọn
chúng chộp lấy một nửa cái cặp của tôi chạy tuốt về phía chợ Đầm, mất dạng.
Tôi không bao giờ t́m được trở lại một nửa cái cái cặp
đó. Tôi thương nhớ nó vô cùng. Nó đă xa rời tôi vĩnh viễn. Một nửa hồn tôi
đă gắn liền với nó, Giờ đây chỉ c̣n lại nổi ngậm ngùi. Tôi giử một nửa c̣n
lại làm kỷ niệm cho măi đến khi học hết trung học.
Và khi rời Nha Trang, dấn thân vào chốn mưa gió cuộc
đời để dành giật miếng cơm manh áo đời thường, mỗi lần nhớ lại “cái cặp lạ
đời” với cả một quá khứ non dại, tôi không khỏi mĩm cười và bồi hồi thổn
thức.
T ôi lại nhớ
đến cha tôi, cái h́nh ảnh ông ngồi cặm cụi, vừa dùi lỗ vừa xỏ kim, may cho
tôi chiếc cặp một cách chắm chú, tẳn mẳn, tỉ mỉ, tôi càng cảm thấy câu:
Công cha như núi Thái Sơn...ư nghĩa to lớn và sâu sắc biết nhường nào !


Nguyễn
Thanh
Ty
Mùa hè, tháng 8 năm 2004
|