![]()
|
||||||
|
Dư Âm Ngày Cũ Nguyễn Thanh Ty
Phần 12: Thương Nhớ Một Mình C ó người nói: Tuổi trẻ sống với tương lai, tuổi già sống với quá khứ. Đối với ai thì tôi không dám xác quyết, nhưng riêng với tôi thì câu này đúng một trăm phần trăm. "Xăng buộc xăng".Tôi đã bước qua cái tuổi sáu mươi gần ba năm tròn. Thời gian đã trôi theo từng ngày mặt trời mọc rồi lặn. Trăng tròn rồi khuyết. Cái hệ quả tất yếu thứ tư của luật tạo hóa mỗi ngày một gần. Bụi thời gian cũng năng nổ làm công việc tất nhiên của nó là xóa dần tất cả những hỉ, nộ, ái, ố -lục dục, thất tình trong não bộ của con người, để con người dọn mình trở lại thanh khiết như lúc mới chào đời, để chuẩn bị trở về nơi xuất phát. T ôi ra tù cải tạo sau gần sáu năm với tấm thân tàn tạ đã chịu đựng với bao điều gian khổ, đọa đày, với bao nỗi nhục nhằn, cay đắng. Lòng đầy ứ nỗi căm thù uất hận. Ra khỏi cổng trại, quyết không ngoảnh mặt lại chốn địa ngục trần gian, hạ quyết tâm "thù này phải trả". Món nợ "đòn thù" này phải trả từ gốc tới ngọn. Phải quét sạch lũ bạo tàn, man dã. Từ đám chóp bu cho tới tên tài xế xe hàng gian ác, dâm ô. Lũ tài xế vô lương tâm khốn kiếp này đã lợi dụng thời buổi sâu bọ lên làm người, nước đục thả câu, trực tiếp nhúng tay vào tội ác, làm cho nhiều gia đình tan nát. Con mất mẹ. Chồng mất vợ. Gia đình tôi là một trong muôn ngàn thảm cảnh ấy.Thế mà ... Bụi thời gian và tuổi già đã cùng nhau ngày ngày, từng giây, từng phút "hiệp đồng" xói mòn chí lớn của kẻ mài kiếm dưới trăng. Than ôi! Mới đó mà đã gần ba mươi năm qua. Một phần ba thế kỷ. Những hận thù trong tôi đã theo giòng nước chảy, theo áng mây trôi mà phai nhạt, tan loãng dần đi. Câu kinh nhà Phật "Lấy ơn báo oán, oán ấy tiêu tan - lấy oán báo oán, oán ấy chập chùng" như tiếng chuông chùa sớm sớm, chiều chiều vẫn văng vẵng bên tai. Câu kinh ấy đã giúp tôi quên đi gần hết cái quá khứ đau thương ngày cũ. Tôi cũng quên đi gần hết những chuyện thị phi ngày hôm qua. Cái gánh nặng hận thù trên lưng tôi đã theo dòng thời gian mà nhẹ bớt. Cái lẽ huyền vi cửa Phật sắc sắc, không không, đâm chồi, nẩy lộc trong tôi, mỗi ngày mỗi lớn. Tâm hồn tôi nhiều khi trống rỗng. Có lúc tôi cứ lẫn lộn giữa mơ và thực. Mình đang mơ hay là thực? Mình đang sống trên cõi đời này hay là đang nằm mơ thấy mình lạc trên cõi đời này. Cái quãng đường còn lại trước mắt tôi rất ngắn. Tôi không thể nào lôi kéo lại được khoảng thời gian mười lăm năm bị tước đoạt và bị đọa đày một cách tàn nhẫn. Cái khoảng thời gian đó rất quí báu với tôi. Vì đó là lúc tuổi thanh xuân của tôi đang tràn trề nhựa sống. Cuộc sống của tôi đang tốt đẹp biết bao. Tôi đang đem hết nhiệt huyết và niềm tin phục vụ cho quê hương. Bỗng trong một "Sát na", một cuộc đổi đời đã làm cho hằng triệu triệu người rơi xuống địa ngục trần gian, mà những kẻ bạo hành chủ trương nó, cứ nhắm mắt gọi là thiên đường. Quả thật là một "thiên đường mù". Từ đó tôi mất tất cả. Một tương lai đang tươi đẹp phơi phới bỗng tối sầm, sụp đổ một cách tức tưởi, nghẹn ngào. ...Cuối cùng, tôi phải bỏ nước ra đi để được sống còn và để được hít thở bầu không khí tự do, thanh khiết. Tôi đã chấp nhận sự lưu vong. Đã lưu vong thì có nghĩa là không còn gì ngoài nổi khắc khoải thương đau của con chim cuốc ngày ngày kêu lên tiếng bi thương nhớ nước, nhớ nhà... Tôi cứ tưởng tôi sẽ sống những ngày còn lại một cách vô vị và nhạt nhẽo. Nhưng may thay cho tôi, mấy năm gần đây, cái dĩ vãng êm đềm tuổi thơ của tôi lại đột nhiên bừng bừng sống lại. Nó như một làn hơi ấm áp, đem lại cho tôi sự hồi sinh. Tôi có cảm giác như mình đang sống lại một thời. Bỗng chốc tôi nhớ lại một quá khứ xa xăm mà tôi hầu như quên bẵng đi hơn năm mươi năm. Thời gian gần đây nó trổi dậy mãnh liệt. Nó hiện về ngày càng rõ nét. Nó sống dậy trong tôi mỗi buổi sáng sớm tinh mơ, khi dạo vườn rau với ly trà nóng trong tay. Nó cuồn cuộn trong lòng tôi mỗi buổi chiều khi cầm bình sen tưới nước mấy luống vườn. Mỗi cây cà, mỗi bụi ớt là mỗi nỗi nhớ. Mỗi mùi é quế, mỗi mùi rau răm, mùi lá tía tô... là mỗi nỗi day dứt khôn nguôi. Tôi đã trôi nổi xứ người gần mười ba năm đằng đẵng. Mười ba mùa tuyết lạnh ở miền Đông Bắc Hoa Kỳ. Mười ba mùa đông đầy băng giá và cô đơn, quạnh quẽ. Mười ba năm là với hơn bốn ngàn sáu trăm ngày bắt đầu lại cuộc đời với hai bàn tay trắng, với biết bao tranh đấu để sống còn và tồn tại. Vật lộn với bao nỗi khó khăn chồng chất để vươn lên. Thế mà bây giờ, hồi tưởng lại, từ cái ngày đầu tiên đặt chân lên cái đất nước xa lạ này cho đến ngày hôm nay, tôi không có được một hình ảnh nào rõ nét để mà nhớ, mà thương cho kỹ niệm. Trong khi đó, tôi lại nhớ về những dấu ấn xa xưa... T ôi nhớ về những hình ảnh đã chìm khuất trong bụi thời gian quá khứ xa xăm. Tự nhiên, tôi nhớ lại tất cả những bạn bè. Tôi nhớ rất rõ khuôn mặt thằng Phát học lớp ba, sau tôi hai lớp, có cặp mắt toét đầy lông cặm, lúc nào cũng đỏ hoe, đầy ghèn. Thằng So trọc, cái đầu tóc luôn luôn cạo trọc lốc giống cái bụng tròn chang bang của nó. Thằng Cò Ù (tên nó là Thừa, rất mập, giống ông Cò Xương, nên chúng tôi gán cho nó cái hỗn danh là Cò Ù) với dáng đi phục phịch. Hai anh em thằng Giảng (Jean), thằng Ri (Jie) con nuôi Ông Tư Yersin, lanh như sóc, tụi nó cùng học một lớp và sau tôi một lớp. Còn người chị và anh nó nữa là Jolie và Jack. Đồng trang, đồng lớp với tôi còn có những thằng Lía từ quê Thành, Phú Lộc, theo mẹ xuống xóm tôi trọ học. Thằng Cạch, tuy con nhà nghèo như chúng tôi mà bao giờ cũng mặc áo quần do tiệm giặt và ủi láng coóng. Thằng Đàn, con ông Hương bộ xã Xương Huân, mới mười mấy tuổi đầu mà đã giống cha, có cái đầu sói... Bây giờ ai cũng đã là ông nội, ông ngoại. Lớp chết, lớp lang thang đói khổ tại quê nhà, lớp lạc lõng bơ vơ xứ người...Ôi! Một cuộc bể dâu ! Chẳng biết từ lúc nào, cuộn phim dĩ vãng trở về trong tôi như dòng sông Cái Nha-Trang, êm đềm trôi chảy từ lạch nguồn cho đến cửa biển đại dương, mỗi ngày một rõ rệt. Những hình ảnh mù mờ trong miền sâu thẳm của tâm thức bỗng sống động ngời ngời trở lại. Hình như nó mới xảy ra hôm qua hay sáng nay. Thời gian đó, chúng tôi một lũ trẻ con, nhóc tì, quần chằm áo vá, mặt mũi lem luốc, lôi thôi, lếch thếch ôm cặp đến trường ê a bài học vỡ lòng. Ngôi trường thân yêu đầu đời của tôi mà suốt đời tôi không bao giờ quên được. Đó là trường Nam Tiểu Học Nha Trang. Ngôi trường đó có Ông Đốc Thành lúc nào cũng quần "sọoc", áo sơ mi ngắn tay trắng. Với dáng thấp, đậm người, tròn lẵn, hồng hào. Bao giờ ông cũng uy nghi, bệ vệ như một vị thần linh trước mắt lũ chúng tôi. Còn có cả thầy Lộc bụng phệ, thầy Ẩn với hàm râu cá chốt, thầy Thanh xuề xòa, đôn hậu, thầy Tuy hiền lành, nhỏ nhẹ, thầy Ngộ tướng dữ mà hiền, thích đá gà... Còn có cô Mai, hè nào cũng mang bầu, đến ngày tựu trường thì nghỉ đẻ; học trò chúng tôi không có giáo viên, lại được nghỉ học thả dàn. Cô Lệ ốm cao, dáng người Huế quí phái với mái tóc giả bọc trong lưới, có vẻ mặt lúc nào cũng buồn buồn. Có phải cô luôn ngẫm nghĩ về một quá khứ cung đình vàng son nơi xứ Thần kinh? Còn nhiều Thầy, Cô nữa... Nhưng lũ chúng tôi đặc biệt nhớ, thương và sợ nhất là hai ông cai trường. Ông Đốc Thành cũng khéo chọn hai ông cai: Một ông ù, một ông ốm. Chúng tôi cứ gọi là Cai Ù, Cai Ốm, riết thành chết cái tên. Ông Cai Ốm rất hiền. Ông thương học trò lắm, nên học trò cũng thương ông lại. Ngược lại chúng tôi rất sợ ông Cai Ù. Ông Cai Ù còn một tên khác nữa là Cai Kềm. Bên cạnh ngón tay cái bàn tay phải ông, mọc thêm một ngón nữa. Nó tạo thành hình giống như cái kềm. Chú học trò nhỏ nào giờ ra chơi mà cứ lãng vãng trên thềm các lớp học thì ông Cai Kềm bắt giải giao lên ông Đốc. Ông kẹp cổ tay thằng nhóc bằng cái kềm trời cho của ông, cứng như sắt, không tài nào giựt ra được để trốn chạy. Tôi cũng đã một lần được thưởng thức cái đau thấu trời của cái kềm ấy vì nghịch ngợm, nhảy lên đánh cái trống chầu đang giờ nghỉ giải lao. May mà có ông Cai Ốm xin giùm. Nếu không thì bị giải lên văn phòng ông Đốc, lãnh cái bạt tai trời giáng, nổ đôm đốm con mắt, thêm một cái "rờ ve" nháng lửa, són đái trong quần. Có bạn nào trong khoảng thời gian đó được hưởng cái "ân huệ" này chưa ? Sau mé dãy bên phải của trường là hai ngôi nhà lá của hai ông cai trú ngụ. Hai bà vợ các ông mở quán bán quà cho học trò. Chúng tôi mê nhất là hai món chả ram ăn với rau đắng và món cơm dừa già, trắng nõn nà, ăn với muối ớt đỏ au, cay thấu trời. Vừa ăn vừa chảy nước mắt, hít hà. Chả ram năm xu một cuốn. Cùi dừa một cắc một miếng, hình tam giác cân, to bằng bàn tay nhỏ xíu của tôi. Đó là những món rẻ tiền dành cho con nhà nghèo. Một cuốn chả ram, chúng tôi ngốn thêm một tô rau đắng, chan nước mắm tỏi ớt, chua chua, ngọt ngọt. Ngon dàn trời! Túi tiền chỉ đủ ăn được một cuốn. Ăn xong, thần khẩu vẫn còn thòm thèm. Cùi dừa già càng nhai càng béo. Thủ trong túi vào lớp, canh lúc thầy quay lưng lên bảng, lén gặm một miếng, nhai tóp tép, ngon ơi là ngon. N gôi trường thân yêu của tôi trong suốt thời gian năm năm, mài mòn đít biết bao cái quần sọoc xanh, từ lớp Năm lớn đến lớp Nhứt, ngoài những kỷ niệm tình cảm giữa thầy với trò, trò với trò, còn có những kỷ niệm khác tưởng chừng như vô tri, vô giác, nhưng khi sắp lìa xa nó thì mới hay nó cũng có linh hồn. Nó cũng biết ngậm ngùi, buồn bã lúc chia tay. Đó là những cái bàn học. Mỗi năm khi nghỉ hè, chúng tôi sắp sửa lên thêm một lớp, chúng tôi bịn rịn khắc tên mình lên bàn bằng mảnh gương vỡ. Đó là những gốc cây bàng to tướng bằng cả người ôm, vỏ nứt nẻ, xù xì. Rễ mọc trồi lên cả mặt đất, ngoằn ngoèo như những con trăn. Nơi đó, những buổi trưa nắng, chúng tôi ngồi hóng mát và cũng tẩn mẩn khắc tên mình vào gốc cây. Chắc lúc đó nghĩ rằng sẽ có dịp trở về nhìn lại tên mình trên gốc cây năm xưa để bắt chước ông Cạc-Nô, khi trở thành đại tướng nước Pháp, trở về trường làng, thăm thầy cũ và vòng tay cúi đầu trước thầy giáo cũ nay đã già mà thưa rằng: "Thưa thầy, con là Cạc-Nô xưa đây". Còn có hàng điệp (gọi văn hoa là phượng vĩ) trước cổng trường cứ đến hè là nở hoa đỏ rực như lửa, quyến rũ lũ ve sầu tụ về ca hát, kêu than rền rĩ ngày đêm, nghe buồn thúi ruột.Năm thi Tiểu Học xong, tôi trở lại thăm ngôi trường lần chót trong những ngày cuối hè để giã từ nó, chuẩn bị bước lên trung học với một ngôi trường khác xa lạ hơn và nhiều bạn mới hơn. Tôi ngậm ngùi áp mặt vào khung cửa kính lớp học khóa chặt để cố nhìn lần chót cái bàn có khắc tên mình trên đó. Trường vắng lặng. Ánh sáng trong lớp mờ mờ. Dấu phấn, bảng đen, hai dãy bàn ghế im lìm. Những câu cách ngôn treo trên tường: "Tiên học lễ, hậu học văn", "Trọng thầy mới được làm thầy"... chúng tôi đã cắt dán trong giờ thủ công, đang nằm ngủ mơ màng bên cạnh những bình hoa bằng sành, hình con cá chép hóa rồng đang há miệng ngậm mấy giây trường sanh chúng tôi đã cắm vào, nay đã khô nước. Lá đã vàng héo buồn thảm. Tôi thẫn thờ đi quanh mấy hàng điệp. Hoa đỏ rụng tả tơi đầy mặt đất. Những trái điệp già, đập lấy hột ăn là món ăn trưa thường xuyên của lũ chúng tôi, nay đã trở thành khô đen, lòng thòng trên cây, vì không còn bàn tay nào hái nữa. Lòng tôi thổn thức, bồi hồi. Có ai chia sẻ với tôi nỗi niềm lưu luyến này? Có chăng chỉ là lũ ve sầu tiễn đưa tôi với bản tình ca muôn thuở bằng điệu nhạc trầm buồn, rền rĩ, miên man bất tận! Tôi lại nhớ đến hai ông Chà Và gác dan. Một ông ở Lầu Ông Tư Yersin, đầu làng Xóm Cồn tôi. Một ông ở Sở Thuốc, nay gọi là Viện Pasteur. Thuở nhỏ tôi cứ thắc mắc tự hỏi: "Tại sao người ta lại mướn mấy ông Chà Và làm người gác dan?" Rồi tự trả lời: "Có lẽ mấy ông Chà Và mặt mày đen thui, dữ tợn, tướng tá to như ông Hộ Pháp vẽ hình trong các đình chùa chăng?" Nhưng nghĩ lại cũng không đúng. Chúng tôi đâu có sợ mấy ông Chà Và đó. Họ đứng gác trong cổng. Chúng tôi lũ học trò, đứng hàng thứ ba sau quỉ và ma mà: "Nhất quỉ-nhì ma-thứ ba học trò", mỗi lần đi ngang cổng thì cùng nhau hò rống lên bài ca: "Chà Và Ma Ní tí te, cái bụng thè lè, con mắt ốc bưu, cái miệng tu hú, cái vú dài thoòng... " rồi cười ré lên bỏ chạy. Không biết mấy ông đó có hiểu tiếng Việt không. Chỉ thấy mỗi lần như vậy mấy ổng trợn mắt, bặm môi giơ nắm tay lên dọa. Chúng tôi vừa chạy tán loạn, vừa cười ngặt nghẽo. Thời gian lên trung học, chúng lại nghịch hơn, không biết do ai xúi bậy, nói rằng người Chà Và thờ con heo, họ rất tôn kính con heo và không ăn thịt heo. Rồi bày chúng tôi muốn trêu tức họ chỉ cần giả vờ cầm cái góc của tà áo khum lại giống cái lỗ tai heo và lấy ngón tay búng búng vào. Thế là mỗi lần đi ngang mấy ông Chà Và, ngoài hai ông ở lầu Ông Tư Yersin và Sở Thuốc ra, bây giờ chúng tôi còn có hai ông ở hai tiệm bán vải ở đường Độc Lập nữa là Phạm thị Một và Phạm thị Hai, chúng tôi tha hồ chọc ghẹo. Hậu quả trông thấy rõ. Chúng tôi bị rượt chạy trối chết. Cái chuyện chạy không thành vấn đề. Cái nguy hại và xấu hổ cho tôi kéo dài suốt bốn năm ở hai trường Trung Học Tương Lai và Văn Hóa là tôi không dám nhìn tận mặt hai người bạn gái học cùng chung lớp là Phạm thị Mót và Phạm thị Mười. Hai cô này chính là hai cô con gái của hai ông Chà Và bán vải đó. Sau nhiều lần nghịch, quậy, tôi mới khám phá ra sự việc tối ư hệ trọng, cái tội tày trời này, do một tình cờ biết được, khi bất ngờ trông thấy hai cô phụ gia đình đứng bán vải. Đã quá trễ khi bọn tôi đã hùa nhau búng tai heo trước mắt hai cô. Tôi còn nhớ như in ánh mắt đầy hờn oán của hai cô. Thôi rồi! Suốt đời tôi sẽ không có cơ hội để được gần gũi hai cô hòng ngõ lời xin lỗi hoặc thả lời ong bướm. Tội nặng thật đáng chết! Thuở Tiểu Học tôi còn hai kỷ niệm để đời nữa. Một của ông Chà Và Sở Thuốc và một của ông Tây chủ nhà hàng Frégate. X in kể chuyện ông Tây trước. Hằng ngày, bọn trẻ chúng tôi đi đến trường Nam Tiểu Học bằng con đường tắt. Từ làng Xóm Cồn, chúng tôi đi qua khỏi Lầu Ông Tư, hết một đoạn đường chừng năm trăm thước, bên phải là bờ sông Cái, sát mé đường là một vực thẳm từ trên nhìn xuống, mọc đầy dây hoa nho mà có người gọi là hoa Ti Gôn, dầy bịt bùng, um tùm lúc nào cũng tối om om. Cái vực thẳm tối om om đó đã tạo nên những chuyện ma, quỉ khủng khiếp trong tâm hồn bé thơ của chúng tôi. Chúng tôi lạnh xương sống, mỗi lần đi ngang đó một mình. Trong đó có nhiều chuyện thuộc về loại "ma da" chuyên môn rình bắt trẻ con trấn nước chết để thế thân cho mình đi đầu thai kiếp khác. Có dịp sẽ kể hầu các bạn về những câu chuyện hoang đường này mà đã một thời chúng tôi bị ám ảnh ghê gớm! Bên trái là tường thành vây quanh Tòa Tỉnh Nha Trang. Đối diện với nhà anh Lâm "sụt sịt" là một cổng phụ phía sau của Toà Tỉnh. Chúng tôi xin mấy anh lính gác cửa để đi xuyên qua Tòa Tỉnh. Nếu không, chúng tôi phải đi đường chính cho đến tận ngã ba, ở đó có cây bàng đôi cao thấu trời xanh. Tàng lá um tùm che kín, phủ bóng mát cả một vùng rộng lớn. Gọi là cây bàng đôi vì gốc cây bàng tự nhiên chẻ ra thành hai thân, mọc song song với nhau. Thân nào cũng to bằng hai vòng tay ôm của chúng tôi. Cây bàng đôi này giống như cây dầu đôi ở trên Thành. Có lẽ tuổi đời của hai cây không thua kém gì nhau. Từ ngã ba cây bàng đôi chúng tôi đi ngang qua Ty Kiểm Lâm, Ty Điền Địa, rồi tới Sở Lục Lộ (bây giờ gọi là Công Chánh) rồi mới tới nhà hàng Frégate. Như thế thật là xa. Chúng tôi đi ngõ tắt, xuyên qua Tòa Tỉnh, đoạn đường ngắn được hai phần ba. Ra khỏi Tòa Tỉnh là Ty Bưu Điện. Đối diện Ty Bưu Điện là nhà hàng Frégate. Bên cạnh nhà hàng là sân Tennis dành do quí ông, quí bà thượng lưu mặc quần sọoc trắng, ngắn tới bẹn, áo thun trắng hở nách đầy lông, chơi banh mỗi buổi sáng, buổi chiều. Sân Tennis nằm giữa ngôi trường thân yêu của tôi: Trường Nam Tiểu Học Nha Trang và Sở Thuốc. Trước khi đi vào chuyện ông Tây nhà hàng, xin lướt qua một chút về cái tên anh "Lâm sụt sịt" nghe buồn cười và thô lậu quá phải không các bạn? Chúng tôi không biết anh Lâm từ đâu tới làng tôi, thuê một căn nhà nhỏ trên bờ sông, đối diện với cổng phụ Tòa Tỉnh. Con đường từ "Lầu Ông Tư" đến chợ Đầm hồi xưa chưa có tên. Mãi về sau, dân tứ xứ tụ tập về làm nhà dọc theo bờ sông rất đông. Tỉnh mới đặt cho cái tên là đường Nguyễn Bỉnh Khiêm. Sáng sáng, chiều chiều anh Lâm vác chiếc kèn lính ra trước cửa ngồi thổi. Anh ở trong đội lính kèn của Tỉnh. Chiếc kèn rất kỳ dị. Nó chỉ gồm có hai ống dài. Đầu này anh thổi. Đầu kia là cái loa kèn. Chúng tôi rất thích thú bu quanh anh để nghe anh thổi kèn và nhất là xem cái miệng anh phùng ra thổi. Cổ anh nổi những sợi gân to bằng chiếc đũa. Tay trái cầm kèn, tay phải anh cầm hai thanh đứng, giữa cây kèn, sụt tới, sịt lui hai ống kèn mà phát ra những tiếng khác nhau tạo thành những bài nhạc rất hay. Chúng tôi tò mò hỏi tên cái kèn, anh nói tên bằng tiếng Tây. Chúng tôi không nói được tiếng Tây nên cứ gọi là cái kèn sụt sịt. Từ đó mỗi khi nói về anh Lâm, chúng tôi cứ nói "anh Lâm sụt sịt". Đố các bạn có biết anh Lâm sụt sịt thuở ấu thời của chúng tôi là ai không? Chắc các bạn không tài nào đoán ra đâu! Mấy năm sau tôi lên trung học, Má tôi thưởng cho tôi cây đờn "Măng-đô-lin", ngày nào tôi cũng từng, tứng, tưng. Do vậy tôi mới có cơ hội lò dò vô làng văn nghệ, văn gừng. Một hôm tôi mua một bản nhạc mới ra, khá nổi tiếng thời bấy giờ. Bây giờ thì tôi quên tên bản nhạc rồi. Khi lật bìa sau thì: "Chèng ơi! Anh Lâm của chúng tôi đây mà!" Hình anh được để cạnh hình nữ ca sĩ lừng danh một thời: Ca Sĩ Kim Tước. Tóc cô phi dê dợn sóng cao, hai bên kẹp nhiều cái kẹp tóc. Cặp môi cô tô son đậm. Hình đen trắng nên thấy đen thui. Còn hình anh Lâm, rất bảnh trai. Anh có cái tên khác kêu rất hay: "Nhạc sĩ Minh Kỳ" . Từ đó tôi càng thích anh Lâm, càng yêu anh Lâm nhiều hơn. Nhưng anh không còn ở trong đội kèn Tòa Tỉnh nữa. Sáng sáng, chiều chiều, chúng tôi không còn nghe tiếng kèn anh thổi nữa. Anh đã thuyên chuyển Saigòn. Thay thế vào đó, làng tôi xuất hiện một nhạc sĩ khác. Đó là nhạc sĩ Thanh Châu. Bản nhạc của anh được ban Tâm Lý Chiến thời bấy giờ tuyên truyền rộng rãi trên Đài Phát Thanh, để kêu gọi lòng yêu nước của thanh niên, tình nguyện nhập ngũ, đi dẹp giặc bạo tàn. Đó là bản "Bức thư tâm tình". Tuy lời nhạc bình dân mà được nhiều người biết tiếng hơn là bài "Anh đi chiến dịch" của Phạm Đình Chương. Bài nhạc được mở đầu bằng hai câu thơ lục bát, được ngâm như sau:Đêm qua nằm ngủ mà mơ, Rồi mới bắt đầu vô nhạc: "Vài hàng gửi anh trìu mến. Vừa rồi làng có truyền tin. Nói rằng nước non đang cần. Đi quân dịch là thương nòi giống... " Lũ nhóc con chúng tôi lại tinh nghịch đổi lời bản nhạc thành bậy bạ để chọc ghẹo anh chơi. Chẳng là nhà anh cách nhà tôi một căn. Anh tên thật là Mân Thiệu, anh trai của Mân Thị Dưỡng, một trong những người đẹp nổi tiếng khóa I Sư Phạm Qui Nhơn, Giáo Học Bổ túc năm 1962-1964. Chúng tôi đổi lời thơ và nhạc của anh thành: Đêm qua nằm ngủ mà mơ, Rồi chúng tôi hát ong ỏng lên: "Vài hàng gửi anh.... Đến câu "đi quân dịch là thương nòi giống" chúng tôi đổi thành "đi quân dịch là sưng hòn dái". Hát xong lấy làm khoái chí, cùng cười lên hô hố. Nhưng anh Thiệu rất hiền. Anh chỉ đứng trên bậc thềm nhà, nhe răng cười với chúng tôi thôi. Trở lại chuyện ông Tây nhà hàng Frégate. Mỗi sáng, có lẽ đã chơi xong Tennis, ông mặc đồ thể thao từ giầy đến mũ đều trắng, đứng trên tam cấp nhà hàng. Chúng tôi đi ngang qua ông, ông xoa xoa cái đầu hớt "ca rê" chúng tôi và nói: - "Bông rua! Mông pơ tí sơ vơ noa!" (1) Chúng tôi sung sướng trả lời lí nhí trong miệng: - "Bông rua Mông xừ! Mẹc xi Mông xừ!" (2) Ông Tây cũng vui vẻ, cười ha hả đáp lại: - "Biên! Biên! Tre biên!" (3) Cho đến một hôm, không biết ông thần nước mặn nào
chơi trác chúng tôi, bày thêm cho mấy chữ nữa để nói cho oai, cho ngon.
Cũng như hằng ngày, ông Tây vẫn xoa đầu chúng tôi và nói câu thường lệ.
Lần này chúng tôi đều rập lên một lần, kính cẩn hô to để tỏ lòng kính
trọng ông Tây đã đối xử tốt với lũ con nít chúng tôi: Hô xong, chúng tôi toét miệng ra cười, chờ ông ban thưởng cho chữ "Biên" và "Tre biên". Nào ngờ nghe xong, mặt ông đang hồng hào đột nhiên trở nên tái ngắt rồi chuyển sang tím bầm. Ông phóng xuống tam cấp, quơ cây ba toong, rượt chúng tôi đến tận cổng trường. Chúng tôi lẫn vào đám đông học trò và biến mất. Ông Tây hùng hùng, hổ hổ đi thẳng đến văn phòng ông Đốc. Thôi chết phen này rồi! T iếng trống trường báo hiệu giờ vào lớp hôm nay tôi có cảm tưởng to hơn mọi khi và có lẽ nó đập vỡ cả lồng ngực tôi ra nữa. Đứng xếp hàng trước lớp, chờ thầy ra hiệu vào lớp, tôi lấm lét nhìn về phía văn phòng. Tôi vốn nhỏ con thường đứng hàng đầu, nay trụt ra sau vẫn thấy thân thể mình to ra, cao lớn hơn mỗi ngày, tay chân dài thoòng, nổi bật lồ lộ trong đám bạn đứng xung quanh. Phải chi lúc này có phép biến thân như Tề Thiên Đại Thánh thì hay biết mấy. Ông Tây theo sau ông Đốc, mặt hầm hầm, đưa đôi mắt giận dữ rà soát từng lớp một, tìm cho ra những thằng ôn con nào đã ăn nói hổn xược, bậy bạ với ông. Đi khắp một lượt, ông chẳng tìm được thằng ôn dịch nào. Mặc dù lúc ông đi ngang qua tôi, trái tim tôi đánh lớn hơn tiếng trống chầu hát bội ở rạp Thạnh Xương mỗi buổi tối, mà ông chẳng nghe thấy gì. Thật là hú vía một phen. Suốt cả tháng sau, chúng tôi không dám đi ngang nhà hàng Frégate nữa mà phải đánh vòng qua Tòa Án và qua căn nhà Tây nó kêu là "boọc đền". Trong đó thường có rất đông các cô gái phấn son loè loẹt đứng xếp hàng chờ khám bệnh. Mấy đứa ranh con xầm xì với nhau: "Nhà đĩ đó mầy!" Trước đó, chúng tôi hay lượm trong thùng rác của nhà này những cái bong bóng màu trắng đục, cuộn tròn, mỏng te, đựng trong những cái hộp xinh xắn để thổi chơi và chứa nước chọi nhau. Những cái bong bóng đó bở rẹt rất mau rách. Sau lớn lên, tôi mới hay rằng đó là những cái "ca bốt" (5) dành cho mấy ông đi chơi bời khỏi bị bệnh lậu. Vậy mà hồi đó chúng tôi đâu biết cứ tưởng là bong bóng nên thổi chơi một cách khoái chí! Rồi chúng tôi phải chạy băng thật mau qua một toà nhà sáu cạnh được bao quanh bởi dây thép gai kín mít. Nhà này là "đơ dèm buya rô" (6) của Pháp chuyên giam giữ và tra tấn người. Người ta đồn rằng, đêm khuya nghe có tiếng than khóc nỉ non, thê thảm của oan hồn người chết trong nhà vẵng ra.Mãi khi lên lớp Nhứt, tôi mới biết chữ "măng giê caca" là "ăn kít". Thiệt là bậy bạ hết chỗ nói! Một kỷ niệm "ngu" để nhớ đời! Cái kỷ niệm thứ hai cũng khó quên trong đời là ông Chà Và gác dan Sở Thuốc. T rong vòng tường rào bằng gạch xây, cao chừng hai thước của Sở Thuốc là chỗ nuôi ngựa của ông Yersin. Mấy dãy chuồng ngựa nằm dưới bóng mát của những cây tra tàn lá um tùm. Cậu Ba tôi làm ở phòng thí nghiệm Sở Thuốc nói là ông Tư nuôi ngựa để lấy huyết thanh của ngựa bào chế thành "Vắc Xin" chữa bệnh đậu mùa mặt rổ.Tôi nghe vậy, hay vậy chớ hồi đó đâu biết huyết thanh, "vắc xin" là cái giống gì. Chỗ nuôi ngựa này đối diện với sân tennis bên kia đường. Chúng tôi không ưa mấy cái chuồng ngựa hôi hám mùi ngựa. Chúng tôi chỉ mê mấy cây tra và trái của nó. Các bạn ở NhaTrang lâu năm đã từng thấy và biết cây tra không? Và đã có lần ăn trái tra chưa? Nếu đã thì tôi khỏi cần phải tỉ mỉ dông dài làm gì cho mất thì giờ của các bạn. Nếu chưa thì hãy đọc đoạn này để cùng tôi nhớ lại một mãng nhỏ kỷ niệm của một thời thơ ấu. Thuở còn ngồi lớp Ba, lớp Nhì, tôi đã cùng lũ bạn từng đi hái, ăn trái ma dương, trái dũ dẽ, trái chim chim, trái lồng đèn, trái cò ke... ở khu Xóm Mới thời còn là bãi cát mênh mông, đầy những mồ hoang, mã lạng và gai xương rồng bàn chải... ở bãi dương hoang vắng dưới khu sân bay và Lỗ Nước (7) Bình Tân. Nhưng chưa có trái cây nào ngon cho bằng trái tra. Cây tra thuộc loại thân mộc, da trơn láng. Lá to, tròn và dầy như tai voi. Lá tra che kín ánh nắng mặt trời. Không một tia nắng nào soi rọi xuống gốc cây được. Ngược lại với lá, trái tra nhỏ như trái sim và mọc thành từng chùm như trái chùm ruột. Trái tra mọc lòng thòng chi chít khắp các cành. Lúc còn non nó màu xanh. Khi già nó chuyển từ màu đỏ rồi sang tím bầm giống màu "tím hoa sim" của nhà thơ Hữu Loan. Đó là lúc trái tra hấp dẫn chúng tôi ngày đêm, ăn không ngon, ngủ không yên với nó. Cái vị của nó lạ lắm các bạn ạ. Nó ngọt lịm ở đầu lưỡi và bùi bùi ở cuống họng. Nó thơm lừng lựng trong mũi khi ăn. Ăn hết trái này thì cái vị chua nhè nhẹ ở kẽ răng làm ứa nước miếng, bắt phải ăn thêm trái nữa. Mà cơm, thịt nó nhiều nhỏi gì cho cam. Nó chỉ có một lớp thịt mỏng bao quanh cái hột giống như con vụ. Ăn nó phải ăn từng vốc mới khoái cái thần khẩu. Chúng tôi ngậm một lúc cả nắm. Dùng lưỡi đảo quanh trong miệng cho lớp cơm tơi ra rồi chu mỏ phun hột ra phù phù. Ấy vậy mà vừa ăn xong, cái miệng lại ngứa ngáy thèm ăn thêm nữa. Mỗi buổi trưa tan học lúc mười một giờ, chúng tôi tôi cứ rình mò dưới chân bức tường vôi Sở Thuốc. Canh chừng ông Chà Và đi hết một vòng tuần rõn là chúng tôi, đứa này đứng trên vai đứa kia để leo tường, nhảy vào bên trong. Đứa cuối cùng ở ngoài, giữ một đống cặp vở. Thân tra to lớn cả một vòng ôm của người lớn và còn trơn nữa nên rất khó trèo lên. Còn phải giữ im lặng tuyệt đối nữa. Tránh đạp nhầm lá khô kêu xào xạc dưới đất, gây tiếng động cho ông Chà Và nghe thấy. Vậy mà chúng tôi lanh như những con khỉ con, thoắt cái, mỗi đứa đã ở trên một cây. Áo sơ mi được cởi ra để bọc những trái tra chín tím rịm, thơm điếc mũi. Vừa hái, vừa ăn thỏa thuê. Khi không còn chỗ để chứa nữa, chúng tôi nhè nhẹ tụt xuống và nhẹ nhàng tót ra ngoài. Thằng giữ cặp được chúng tôi cho một phần. Ăn xong, kéo nhau vào sân tennis búng vụ bằng hột tra xem cái vụ nào quay mù hơn. Chơi thỏa thuê, về đến nhà bữa nào cũng quá mười hai giờ trưa. Nhưng đi đêm ắt có ngày gặp ma. Ông bà nói quả không sai! Bữa nọ, lão Chà Và thình lình trở lại sau một vòng tuần rõn. Trời đất quỉ thần ơi! Chúng tôi nín thở, thu mình trên cây nhìn xuống. Lão Chà Và nhe hàm răng trắng nhỡn, ngước cổ nhìn lên. Lão thấy bọn tôi mắc bẫy, lão cười hăng hắc, đắc chí lắm. Té ra lão đã theo dõi và rình chúng tôi lâu ngày rồi mà chúng tôi khinh địch. Cứ nhởn nhơ làm như ở nhà mình vậy. Cái thế cọp vờn mồi làm chúng tôi sợ té đái trong quần. Làm sao bây giờ? Leo xuống bị lão tóm cổ là cái chắc. Chúng tôi không sợ lão, mà chỉ sợ cái văn phòng ông Đốc Thành. Lão mà giải chúng tôi vào đó thì chết là cái chắc. Nhất định bị đuổi học. Nhưng không lẽ cứ ngồi trên cây mãi sao! Chúng tôi hô to một tiếng, hè nhau tụt xuống một lượt. Tường cao không có thì giờ để leo lên. Chúng tôi chạy vòng vòng quanh mấy dãy chuồng ngựa rồi dông thẳng ra cửa chính. Một số thoát ra được. Một số bị lão túm gáy. Trong đó có tôi và thằng Jean. Nhưng số hãy còn may! Quả là hoàng thiên không phụ kẻ... gian! Vừa bù lu, bù loa khóc đi theo lão Chà Và qua văn phòng ông Đốc thì vừa lúc Cậu Ba tôi và ông Si, ba thằng Jean, làm thợ nguội trong Sở Thuốc, vừa tan sở về. Thấy chúng tôi bị ông Chà Và xách cổ như xách hai con mèo con, hai ông lại hỏi cớ sự ra làm sao. Sau khi biết chúng tôi chỉ hái trộm trái tra ăn. Hai ông xin lão Chà Và tha cho lần đầu. Có lẽ Cậu Ba tôi và ông Si cũng có chút uy tín trong Sở nên lão Chà Và tha ngay cho. Trước khi buông tay, lão xí xô, líu lo một tràng tiếng "Chà Và ma ní tí te", chúng tôi không biết là gì nhưng nhìn bộ tịch lão, cũng hiểu rằng lão đang doạ: - "Tha cho lần này! Lần sau nữa, bắt được là chết đó nghe con! Mấy thằng ôn!" S au cái lần thoát nạn đó không ngờ nó cứ ám ảnh tôi trong giấc mơ suốt một thời gian dài. Tôi cứ thỉnh thoảng nằm mơ thấy bị lão rượt chạy vòng vòng quanh mấy chuồng ngựa và bức tường cao. Có lúc tôi thấy hai chân mình cứ cứng lại, chạy không được, mà lão thì mỗi lúc lại đến gần, hàm răng lão cứ trắng nhỡn nhe xuống mặt tôi. Mỗi lần như thế, tôi lại tỉnh giấc thoát nạn. Mồ hôi cứ đầm đìa cả người vì sợ. Sau lên Trung Học, tôi không còn cơ hội trở lại chốn cũ để trèo tường hái tra. Không có thì giờ ném đá trộm lên những cây xoài quằn trái của Sở Lục Lộ. Không có can đảm hái trộm mãng cầu dọc bờ rào nhà ông bán kẹo kéo có cái miệng méo, mỗi lần rao: - "Kẹo kéo đâ...y!" Cái miệng ông càng thêm méo. Nhà ông ở đường Đoàn thị Điểm, bên hông "Cải Hối Thất Nha-Trang". Đứa con gái độc nhất của ông bây giờ đã trổ mã và xinh đẹp hẳn lên. Chúng tôi không còn dám chọc ghẹo cô một cách ác độc như trước nữa, như đã từng chọc cho cô phát khóc. Chúng tôi khi đi ngang nhà thấy cha cô đang đánh kẹo ở góc cột là cứ gào lên: "Ê! ê! Kẹo kéo méo miệng!" Năm tôi ra trường Sư Phạm, đi dạy ở Lâm Đồng, nghe tin cô đã là dược sĩ và làm việc ở Sài Gòn. Lòng tôi lúc bấy giờ vui sướng một cách ngậm ngùi, buồn rầu nghĩ lại những trò tinh nghịch tai ác của tuổi trẻ mà gợn lên một nỗi hối hận bâng khuâng.Tôi đã quên bẵng đi hình ảnh cây tra và những chuỗi ngày thơ ấu rộn rã tiếng cười, tươi vui chan hoà như ánh nắng để lao vào cuộc sống đầy âu lo để giành lấy miếng cơm manh áo hèn mọn... Bước chân tôi đã lê gót nhiếu nơi chốn quê nhà nhưng tôi không hề thấy nơi đâu có trồng cây tra ngoài cái xứ Nha-Trang của tôi, đặc biệt là chỉ có ở Sở Thuốc, Viện Pasteur. Ba năm, sau khi lưu lạc ở xứ người, vợ chồng tôi có dịp đi nghỉ hè ở Florida và đi tàu biển ra thăm đảo quốc Bahamas, một hòn đảo nhỏ, nằm giữa mũi Key West của Florida Mỹ và Cuba, thuộc địa cũ của Anh Quốc, bây giờ đã được trao trả độc lập từ lâu, bất ngờ thấy lại những cây tra mọc quanh đảo, những chiếc lá to như tai voi, nhưng mùa này chưa có trái, mới tháng chín. Bỗng nhiên bao nhiêu thương nhớ quê nhà chất chứa trong tôi bấy lâu, giờ tuôn trào lên trong mắt tôi thành những giọt rưng rưng... Phong cảnh đảo Bahamas giống hệt Nha-Trang. Cũng biển xanh cát trắng, cũng có những cây dừa cao vút, cũng có những giàn bông giấy đỏ đỏ, tím tím, những cây hoa sứ trắng rợp những hoa, mùi thơm dìu dịu phảng phất trong không khí và nhất là những đứa bé thổ dân da đen, độc một chiếc quần đùi, tay cầm cần câu với mấy con cá nhỏ xíu mới câu được, trên đường về nhà. Đó là hình bóng của tôi và lũ bạn tôi hơn năm mươi năm về trước tại làng Xóm Cồn. Một làng chài nhỏ bé, nghèo xơ xác, nằm nép mình một cách khiêm tốn, rụt rè bên cạnh Lầu Ông Tư Yersin và Tòa Hành Chánh Tỉnh Khánh Hòa to lớn uy nghi. Ôi! Những kỷ niệm của tôi sao mà nhỏ bé, tầm thường. Nó chỉ là những trái tra, trái xoài quéo còn non. Những chùm dũ dẽ nửa sống, nửa chín ở bãi hoang Xóm Mới. Những trái cò ke ở khu sân bay Bình Tân, Lỗ Nước... Những cuốn chả ram, những miếng dừa già, những khúc kẹo kéo ngắn ngủn... mà sao tôi nhớ đến quay quắt, nhớ đến nôn nao... Những hình ảnh Thầy, Cô... cả hai ông Cai của ngôi trường Nam Tiểu Học sao mà thương quá đỗi. Ông Đốc Thành cũng trở nên đáng yêu, đáng mến biết bao... Những Ông Chà Và với hai hàm răng trắng nhỡn cũng trở nên gần gủi, thân thiết vô cùng. T ôi thương nhớ hết thảy những cái gì trong quá khứ xa xăm kể cả những cuộc ẩu đã lổ đầu, chảy máu của tôi với lũ bạn để tranh nhau những trái bàng khô ngoài bờ biển để đập lấy mộng làm bánh mỗi mùa Trung Thu... Những hình ảnh Cò Ù, Phát Bét, So Trọc... vẫn chạy quanh đùa bỡn, nói cười rầm rĩ... vui vẻ biết bao!Sao tôi ở đây cứ thương nhớ một mình! Chú thích: 1- Chào các em bé tóc đen của tôi! 2- Chào ông! Cám ơn ông. 3- Tốt! Tốt Tốt lắm! 4- Vâng thưa ông! Cám ơn ông! Ông ăn c…! 5- Bao cao su (Condom). 6- "Phòng Nhì An Ninh" của Pháp chuyên bắt và tra tấn người. 7- Tên gọi rất xưa trước 1960 chỉ chỗ ngã ba sân bay, Trường Huấn Luyện Hải Quân và Bình Tân. Chỗ này trước kia là một trũng nước rất sâu. Có một chiếc cầu nhỏ, ngắn bắc ngang. Nhiều chuyện hoang đường về ma vú dài, ma không đầu, ma áo trắng... xuất xứ từ Lỗ Nước này.
(Xem tiếp kỳ 13)
|
|||||
|
||||||