![]()
|
||||||
|
Dư Âm Ngày Cũ Nguyễn Thanh Ty
Phần 13: Chị Tám "Lại Cái" Xóm tôi có một nhân vật đặc biệt mà từ đứa trẻ nhỏ cho chí người lớn tuổi, ai cũng kêu là "Chị Tám lại cái" hay "Bà Tám lại cái". Đã là chị, là bà sao lại còn kêu là "lại cái?" Nhìn dáng bên ngoài, chị đích thị là một người đàn ông trăm phần trăm. Đó là một người đàn ông có nước da ngăm đen, dáng cao lớn, gân guốc. Anh có một khuôn mặt xương xương. Hai lưỡng quyền nhô cao. Cục Adam nơi cổ họng chạy lên, chạy xuống, trông rất rõ khi nói chuyện. Hai tay và hai chân đầy lông lá. Những khi anh cong lưng đẩy xe phở đi xuống cuối xóm để bán thì những bắp thịt ở chân, tay và bắp vế nổi lên cuồn cuộn. Anh luôn mặc quần đùi, áo thun và đi chân đất. Hai bàn chân to bè. Da gót chân dày cộm, nổi màu xanh đục. Cái điều khác đàn ông là tiếng nói của anh ta lúc thì ồ ề, lúc thì eo éo. Tóc anh để dài, hoe hoe vàng vì cháy nắng, tuy lưa thưa nhưng cũng đủ vấn thành một củ tỏi sau ót. Anh lại đeo bông tai và đánh phấn đỏ hai gò má giống như hai con dấu ịn lên. Những ngày nghỉ bán phở, anh diện bộ đồ bà ba bằng lụa, màu xanh đọt chuối non, rất chói mắt. Anh độn ngực phình lên bằng cặp xú chiêng có đệm mút. Anh đi ỏng ẹo trên đôi guốc sơn hình hoa bướm, màu lòe loẹt. Những điều khác biệt dị hợm đó, thời gian cách đây ba, bốn mươi năm về trước, người xóm tôi gọi là "lại cái". Có nghĩa là "một nửa đàn ông là đàn bà". (Mãi về sau, người ta gọi là "đồng bóng". Cuối thế kỷ 20, văn minh hơn gọi là "đồng tính luyến ái") Tôi không biết anh ta từ đâu lưu lạc đến xóm tôi và đến từ hồi nào? Xóm tôi là nơi qui tụ dân tứ xứ. Đa số đều là cùng khổ, phải bỏ nơi chôn nhau, cắt rún, đi tìm chỗ có thể kiếm miếng cơm, manh áo. Đó là làng Xóm Cồn. Làng Xóm Cồn tôi chỉ là một dải đất nhỏ, gọi là một rẻo đất thì đúng hơn. Nó nằm cạnh Tòa Tỉnh Nha Trang, giống như một ngón tay mọc thêm của bàn tay sáu ngón ông Cai Kềm trường Nam Tiểu học. Mặt hướng đông là biển. Mặt hướng tây là sông. Ba bề đều là nước. Nước sông và nước biển. Cái rẻo đất ấy là phù sa do dòng sông Cái mang theo, chảy từ thượng nguồn ra cửa biển, bị sóng biển chận lại mà thành. Nhưng hằng năm cứ đến mùa biển động, tức từ tháng mười đến tháng hai âm lịch, cũng do sóng biển xâm thực, cái rẻo đất ấy mất dần, teo tóp lại, chỉ còn một nửa. Những con sóng lớn, nhỏ, lúc rì rào, lúc ầm ầm, suốt ngày đêm vỗ vào bờ, lôi đất ra lại biển. Những luồng sóng bắt đầu từ thềm cừ Lầu Ông Tư, đúc bằng bê tông, chạy đến đến đuôi cồn. Mỗi sáng thức dậy, lại có thêm mấy chục căn nhà sắp sập vì đất dưới nền nhà đã biến mất, còn trơ lại hàng trụ cột cao lênh khênh. Phải dở nhà. Hết muà biển động, đất lại bồi, Xóm Cồn tôi dần dà hình thành như cũ. Đặc biệt những năm có lụt lớn, phù sa về đục ngầu cả dòng sông hằng nửa tháng, thì diện tích xóm tôi phình ra, dài ra, to gấp đôi hay gấp ba. Những năm ấy là những năm thần tiên của tuổi thơ chúng tôi. Chúng tôi có thể chạy ra tận giữa biển để thả diều, trên một doi đất đã mọc thêm ra từ đuôi cồn. Doi có dáng cong cong hình trăng lưỡi liềm, ảnh hưởng bởi dòng nước từ sông tuôn ra, cát trắng phau phau, nhờ sóng biển giặt rữa nhiều ngày, dài hơn nửa cây số, rộng hơn năm chục thước bề ngang. Những cuộc thi thả diều là nguồn vui đầy hấp dẫn và say mê vô tận của hầu hết trẻ con xóm tôi. Những cánh diều làm bằng giấy nhựt trình, dán bằng cơm nguội trên cái khung tre hình cánh cung, nối liền bằng những khúc giây nhợ chắp nối, xin được của những người vá lưới, bay bổng tận trời xanh. Chúng tôi thi nhau thả coi diều ai cao hơn, bay đẹp hơn và có gởi thơ được không! Những lần ấy, tôi lén lấy cắp của Má tôi những tờ giấy ngũ sắc dùng để cúng cô hồn, các bác, bán trong quán, đem ra biển, cắt thành những tờ to bằng cái bì thơ, xoi một lỗ chính giữa, xỏ vào dây diều thành những phong thơ đầy màu sắc. Thơ theo gió bay vun vút lên tận trời cao, mang theo nhiều điều mơ ước của tôi thầm cầu nguyện. Cột dây diều vào ngón chân cái, nằm ngữa trên cát, hai tay vòng ra sau ót gối đầu, tôi khoan khoái ngắm nhìn chiếc diều của mình chao liệng giữa trời xanh mênh mông. Những chiếc đuôi diều làm bằng rẻo giấy, dài hàng thước, bay lồng lộng, phất phới trong gió. Vừa ngắm diều, vừa lắng nghe tiếng sóng vỗ đều đều, rì rào xung quanh, đôi lúc tôi chợp mắt ngủ lơ mơ thấy mình đang cưỡi lên cánh diều như Thái Thượng Lão Quân cưỡi hạc xuống trần gian phá trận đồ Hổn Ngươn để cứu Tôn Tẩn trong truyện Phong Thần. Mãi đến khi thấy kiến bò trong bụng mới luyến tiếc thu diều về nhà. Cư dân xóm tôi độ hơn ba trăm nóc nhà nằm thưa thớt trên một diện tích chưa đầy hai cây số vuông. Đầu xóm giáp Lầu Ông Tư Yersin. Cuối xóm, hay gọi là đuôi Cồn, giáp với cửa biển. Nhìn qua bên kia về hướng Bắc, là Xóm Bóng, Tháp Bà. Xóm Cồn và Xóm Bóng giao nhau thành cửa biển Nha Trang. Điểm xuyết cho phong cảnh thêm phần nên thơ và kỳ vĩ, thiên nhiên đã đặt phía trong cửa biển, dưới chân Tháp Bà, một tảng đá có tên là "Hòn Đá Chữ", tròn, to chừng mười người ôm, cao chừng năm thước, nổi hẳn lên giữa dòng sông như cái cột đồng của Phục Ba Mã Viện trong sự tích "Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt". Ngoài cửa biển chừng năm trăm thước là Hòn Rùa nằm yên tĩnh, ngẫng đầu nhìn về hướng Hòn Chồng, Hòn Vợ hình như để xem chừng cặp vợ chồng này khi nào về Trời. Đứng trên Tháp Bà phóng tầm mắt ra biển mới thấy hết cái vẻ đẹp của làng tôi. Phần đông dân cư trong xóm sống về nghề chài lưới. Một ít đi làm mướn và buôn bán lặt vặt. Ngoại trừ vài nhà phú hộ, có của ăn của để, cơ ngơi to lớn. Kể từ Lầu Ông Tư trở xuống theo thứ tự, bên trái là nhà ông Phán Liên làm công chức Tòa tỉnh, đối diện bên phải là nhà Cậu Ba tôi, nhân viên phòng thí nghiệm Sở Thuốc (sau kêu là Viện Pasteur). Xuống giữa cồn là nhà Hương bộ Phẩm, Hương bộ Kiểm. Tận đuôi cồn là nhà Xã Tả, nhà Xã Thanh. Những nhà của các ông Hương, ông Xã, có từ đời nảo, đời nao, xây bằng gạch, với vôi trộn mật đường, mái ngói âm dương, rất bề thế, rộng lớn. Bây giờ chúng đã quá cũ kỹ, rêu phong. Nhìn vào bên trong, tối mờ mờ. Nhà Cậu Ba tôi và nhà ông Phán Liên xây theo kiểu tân thời. Mái ngói đỏ. Tường gạch, xi măng. Có nhiều cửa sổ, chấn song bằng sắt, rất sáng sủa. Khi tôi hơn mười tuổi thì chỉ nghe nói lại chớ không biết mặt các ông Hương, ông Xã. Các ông ấy đã về chầu tiên tổ từ lâu, để lại cơ ngơi cho vợ và con. Tôi chỉ thấy có mấy người còn sống như ông Hương bộ Phẩm và ông Xã Thanh, ông Phán Liên. Ông Phán Liên là ba thằng Bông, học cùng lớp với tôi. Hồi đó tôi cứ thắc mắc: Tại sao ba thằng Bông làm ông Phán mà nó học dốt quá trời vậy ? Còn có cậu Ba tôi nữa. Cậu luôn chững chạc trong bộ đồ tây trắng. Cậu đi làm bằng chiếc xe đạp hiệu "Bờ Rô" màu đen, lúc nào cũng láng bóng. Tôi thích nghịch cái chuông kêu kính coong, mỗi lần tới chơi nhà Cậu. Nhà Xã Tả bây giờ chỉ còn bà vợ chuyên làm bánh ít lá gai, nhưn đậu xanh, bánh ít nếp nhưn dừa, bỏ mối ngoài chợ Đầm. Cháu bà là chị Cang có sạp vải ở chợ Đầm. Chị chỉ bán buổi sáng. Buổi chiều chị ở nhà cho thuê truyện Tàu. Tủ sách Tín Đức Thư Xã của chị, tôi nhìn ngợp mắt. Có lẽ tôi phải đọc cả đời mới hết. Ấy vậy mà khi má tôi sanh đến đứa em thứ bảy, tôi đã ngốn hết bao nhiêu sách trên kệ tủ của chị. Má tôi mỗi năm "nằm nơi" một lần. Mỗi lần từ một
tháng tới hai tháng. Má tôi sanh năm một. Mỗi lần Má tôi có mang, Ba tôi
lại chửi thằng cha thầy bói Hột ở Xóm Mò O, bói bậy. Khi mới cưới Má tôi,
ông lên cúng tiền cho thầy và xin một quẽ về đường gia đạo. Thầy bói Hột,
đốt nhang, rờ mu rùa, gieo ba đồng tiền kẽm xong phán rằng: Nghe Ba tôi kể lại, Má tôi khóc mấy ngày đêm. Ai dè năm sau bà có mang, sinh ra tôi. Tiếp liền mười hai năm, bà sinh ra một loạt mười hai anh em chúng tôi, bốn trai, tám gái. Ba tôi chạy gạo hụt hơi cũng không đủ đút vô mười hai cái miệng ăn như hổ xà. Nhà tôi nghèo mạt rệp cũng bởi mười hai cái miệng ăn không biết no này. Mỗi lần sanh gọi là "nằm nơi", bà sai tôi đi xuống
nhà Xã Tả mướn truyện. Khi bà ngủ quên, buông cuốn truyện xuống giường
là tôi sè sẹ chớp lấy, đem ra sau hè đọc ngấu nghiến. Có khi bà đọc mau
quá, tôi chưa kịp đọc mấy hồi chót, bà kêu tôi đi đổi cuốn tiếp theo.
Tôi dạ dạ rồi ôm cuốn truyện dông ra biển, đọc cho hết mới đem trả, lấy
cuốn tiếp. Khi về phải tìm cách nói láo (dối): Thế là êm. Má tôi không hề thắc mắc. Tôi là thằng con ngoan mà! (? ) Nhờ vậy bao nhiêu truyện Thuyết Đường, Phong Kiếm Xuân Thu, Thất Hiệp Ngũ Nghĩa, Tiết Nhơn Quí Chinh Đông, Tiết Đinh San Cầu Phàn Lê Huê, Càn Long Du Bắc, Du Nam, Ngũ Hổ Bình Tây... chui tọt trong bụng tôi hết. Nhưng mê nhất vẫn là bộ Tây Du ký. Tôi sống trong mộng mơ ngày đêm với ba nhân vật Tề Thiên Đại Thánh, Trư Bát Giái và Sa Tăng. Buồn vui, khóc cười cùng ba nhân vật này. Còn cái ông Tam Tạng, tôi ghét cay, ghét đắng. Người đâu mà khờ ơi là khờ! Không phân biệt được ai nịnh, ai trung. Lúc nào cũng hàm hồ, cà ngơ, cà ngáo. Vô tích sự suốt bộ truyện. Cơ ngơi ông Xã Thanh bây giờ là nhà thùng, làm nước mắm. Những đứa con ông Xã Thanh, trai gái đều cao lớn, dềnh dàng, nước da trắng trẻo, đẹp gái, đẹp trai nhất xóm. Nhưng mỗi lần đi đổi truyện cho Má tôi, đi ngang nhà Xã Thanh là tôi phải bịt mũi, không chịu nổi cái mùi mắm thúi. Có lẽ ảnh hưởng lây, tôi cũng không ưa mấy đứa con nhà Xã Thanh. Thật ra thì chúng chẳng bao giờ thèm chơi với chúng tôi, lũ con nhà nghèo dơ bẩn. Chỉ còn ông Hương bộ Phẩm ở gần nhà tôi, chiều chiều ông tới quán Má tôi, uống một ly rượu trắng, trả một đồng bạc Đông Dương có vẻ hình người đàn bà gánh dưa là tôi có cảm tình. Ông Hương bộ Phẩm là người ký giấy "ắt đờ nét xăng" cho tôi. (Acte de naissance = Giấy khai sinh ) Tới bây giờ tôi vẫn còn thắc mắc vì sao cái xóm nhỏ xíu, võn vẹn hơn ba trăm nóc gia mà có nhiều ông Hương, ông Xã vậy? Còn có cả ông Hào Hai nữa! Phải chăng đó là những hư vị của kẻ giàu có, bỏ tiền ra để mua chút phẩm, chút hàm để tăng thêm địa vị xã hội của mình? Ngoài những cơ ngơi mái ngói âm dương, tường gạch xây bằng gạch trộn vôi với đường mật của những nhà giàu kể trên, còn lại đều là nhà cửa tạm bợ. Nhất là về phía mé biển. Toàn là nhà tranh, vách lá. Cột kèo làm bằng tre hay lồ ô. Đến mùa biển động, sóng bổ ầm ầm, nước tràn cả vào nhà, chạy ra tận đường cái thì họ dở nhà, xếp đống, gửi nhờ những nhà ở mé sông, chờ cho đến hết tháng hai, biển êm, đất bồi, thì đem ra cất lại. Về phía mé sông thì an cư hơn. Nhưng phải là những người có chút tiền để mua những vật liệu mắc tiền như cột (lọai cây to chặt từ rừng) để làm trụ đà, ván để lót sàn. Đó là loại nhà sàn trên sông. Loại nhà tạm bợ trên sông gọi là chồ. Người khá hơn một chút thì mua đá san hô từ hải đảo về xếp thành một cái hộc, gọi là cừ. Gánh đất đổ đầy cái cừ ấy thành một cái nền nhà. Cất nhà trên ấy là vĩnh viễn, không di dời hằng năm như mé biển. Nhà tôi ở mé sông là loại nhà này. Ba tôi kể lại, ông phải mượn hai bà cô tôi, cô Hai Trà, cô Ba Lá, con ông nội Mười, từ Hòn Khói, Bình Tây vào gánh đất giúp cả tháng mới hoàn thành. Dân tứ xứ trôi dạt về đây mang theo nhiều thổ ngữ và âm sắc của địa phương mình nghe rất lạ tai. Tụi trẻ con chúng tôi cứ theo nhái giọng để chọc ghẹo mấy đứa con nít bằng tuổi để làm trò vui. Đầu tiên và chiếm đa số là người Quảng Nam và Quảng
Ngãi. Ông bà ngoại tôi là người Quảng Nam. Hai ông bà dắt díu nhau vào
đây từ hồi nào không rõ. Đến đời các cậu, các dì và má tôi thì không ai
nói "lòm en" (làm ăn) nữa. Khi tôi được năm bảy tuổi thì ông bà ngoại
tôi lần lượt qua đời, nên tôi không còn nhớ giọng Quảng của ông bà ra
sao. Chúng tôi chỉ biết giọng Quảng của đám người tụ nhập sau này. Cái
câu thường thường được đem ra nhái chọc là: Hay: Người Bình Định, Phú Yên thì hay nói "nẫu" và "dẫy na các ông". Và giọng nói thường đi lên. Lắng nghe hai bà Bình Định, Phú Yên trò chuyện: Năm 1954, Ba tôi tìm gặp lại được bà nội tôi và chú Bảy tôi, trôi tán thất lạc từ năm 1930, đem về nhà ở chung. Bà nội tôi và gia đình chú Bảy, thím Bảy cùng các con nói rặt "nẫu" và "dẫy na". Họ ở tận làng Gò Duối, Phú Yên". Vì vậy, người xóm tôi gọi họ là dân "nẫu". Người Huế hay còn gọi là dân "trọ trẹ". Điển hình là bà mợ dâu tôi. Suốt ngày, trên cái lưỡi thè ra của bà đều có dính một điếu thuốc cẩm lệ, hôi nồng nặc, vấn hình sâu kèn, to bằng ngón tay cái. Bà nói "suột già" thay vì quét nhà. Bà hay ăn quà vặt nhưng dấu cậu tôi. Có lần bà bị bội thực, thở không được. Cậu tôi lo lắng hỏi: - "Sáng giờ bà có ăn cái gì bậy bạ không?" Mợ tôi tay vuốt ngực, miệng thều thào: - "Mai chừ chưa ăng chi hệt!" Cậu tôi lấy dầu cù là xoa ngực và lấy lông gà thọc vô cổ họng cho bà ói. Bà hộc ra toàn là hột vịt lộn chưa tiêu hóa được. Ói ra được, nhẹ người, bà thở cái phì. Cậu tôi thấy vậy hứ một tiếng, quăng cái lông gà: - "Dị" mà nói "mai chừ chưa ăn chi hệ...ệệệt"! Ông kéo dài giọng để cho đã nư. Mấy bà trong xóm thường ghẹo mợ tôi cái câu: Muốn nhái giọng Huế, người ta cứ đánh dấu nặng trong mọi chữ, mọi lời là xong. Người Quảng Bình, Quảng Trị trôi tắp vào làng tôi trên những chiếc ghe khá lớn, có những cánh buồm bằng vải nâu. Trên ghe có mui cong vòng. Cả gia đình vợ chồng, con cái đều sống chung trên ghe và chui rúc trong cái mui đó. Người xóm tôi gọi họ là dân "nốp" (cái mui ghe). Họ sống bằng nghề cất vó. Trước mũi ghe có một cái cần làm bằng thân tre già, dài chừng sáu thước, chìa ra khỏi ghe. Đầu cần là một tấm lưới hình vuông, mỗi bề độ bốn thước, được căng ra bởi bốn thanh tre, xếp thành hình chữ thập. Ban ngày họ ngủ hoặc làm việc khác. Ban đêm họ chong ngọn đèn dầu chai, sáng tù mù trên đầu cần tre và hạ vó xuống nước. Chừng mười lăm hay hai mươi phút, họ cất vó lên một lần. Hay khi nhìn thấy có cá tụ lại giỡn đèn, họ vội vàng kéo lưới lên. Những con cá bạc mắc lưới, nhảy lăn tăn, búng lên, búng xuống tanh tách, trông rất vui mắt. Nhiều bữa, Ba tôi thèm cháo cá, ông đứng ở trên sàn nhà kêu vói ra, mua cá: - "Ông "nốp" ơi ! Có cá đối không? Bán cho tui ít con!" Tiếng trên ghe trả lời văng vẳng: - "Cọ! Cọ! Ông chờ chụt!" (Có! Có! Ông chờ chút!) Có tiếng mái chèo khua trong nước. Chốc lát chiếc "thúng" bơi lại gần sàn nhà. Một người đàn bà đưa rỗ cá đối lên bán. Những con cá đối to bằng cườm tay còn tươi roi rói, nấu cháo trong đêm là món ăn tuyệt vời. Vừa béo, vừa ngọt nước. Thịt cá dai và thơm, quyện với mùi hành, ngò, tiêu, nước mắm thật không còn gì bằng. Má tôi chê mắc gấp hai lần ngoài chợ. Ba tôi cười giải thích : - "Bà không nhớ câu "đắt đồng ế chợ" sao? Tuy mắc một chút mà cá tươi, cá chợ sao bằng? Bọn trẻ chúng tôi thì cứ vỗ tay hát: - "Con cá đối nằm trong cối đá! Con mèo cụt nằm mút đuôi kèo!" Mấy ông già khi lai rai ba sợi hay bình phẩm người
Quảng Bình, Quảng Trị là dân keo kiệt: Họ kể rằng "tụi nốp" hà tiện đến nổi không dám lấy cá thiệt để nấu ăn. Tụi nó lấy gỗ đẽo thành hình con cá, treo trên "nốp", rồi ngày nào cũng nhìn con cá gỗ mà ăn cơm. Cũng có người nói, con cá kho nấu nhiều lần, chỉ ăn nước mà không dám ăn cá, nên lâu ngày con cá cứng như gỗ. Lúc đó, tôi không rõ hư thật như thế nào. Nhưng sau này, ông nhạc tôi là dân Quảng Bình, nói giọng rất nặng, nhiều khi tôi nghe không kịp, phải nhờ vợ thông ngôn lại, đã là tay xài sang có tiếng ở Qui Nhơn một thời. Đến năm 1954, làn sóng di cư từ Bắc vô, nơi nào cũng có người Bắc đến ở. Xóm tôi cũng dung nạp một số. Đa phần họ làm nghề bán xôi. Xôi bắp rắc nhưn đậu xanh. Xôi đậu đen ăn với cốt dừa già bào thành sợi. Đàn bà, con gái mặc váy sồi. Đầu tóc vấn trần hoặc bọc trong cái túi vải hay nhung, quấn xung quanh đầu, trên thò ra một cái đuôi gà vắt ngược. Cách họ đi tiểu lạ lắm. Họ không ngồi. Họ đứng xổm. Hai đầu gối khuỳnh xuống. Tay kéo cái váy xê tới trước một chút để khỏi dính nước tiểu. Rồi cứ thế mà... xè...xè. Bọn trẻ con chúng tôi thường rình coi mấy đứa con gái đi đái để cười hô hố. Một lần nọ, nghe cô con gái chạy vô mét, bà mẹ ra đứng trước cửa, một tay chống nạnh, một tay xỉa xói, miệng chửi sa sả: - "Bố mẹ tiên sư nhà chúng mày! Con nhà mất dạy! Con bà đi giải mà chúng mày lén, chúng mày nhòm. Bà mà bắt được tay, vây được cánh, bà cho chúng mày liếm qua, liếm lại!" Chúng tôi đâu có hiểu được bà đang chửi cái gì. - "Tiếng Bắc Kỳ nói, nghe hổng được". Chúng tôi bảo nhau như thế, rồi cùng cười phá lên, càng làm cho bà tức điên người. Cái đuôi gà càng vỗng ngược. Đại để xóm tôi là như vậy. Nhưng dù là người miền nào, nói giọng nào, phong tục tập quán nào đi nữa, một khi đã thành dân xóm tôi, họ đều trở thành thân cận, hàng xóm, đùm bọc, giúp đỡ nhau rất tận tình những khi tối lửa, tắt đèn. Họ thường nói chữ nghĩa thánh hiền với nhau khi có dịp giúp đỡ qua lại: - Nhứt cận thân, nhì cận lân mà!" Nhất là sau những vụ hỏa hoạn khủng khiếp. Tất cả
làng đều trắng tay. Cháy nhà đã xảy rất nhiều lần. Lần nào cũng điêu tàn,
ra tro cả xóm. Cháy không chữa được. Nhà tranh, vách lá mùa hè khô hanh,
bén lửa cháy bừng bừng tạo ra gió. Gió giúp lửa cháy càng dữ. Chỉ còn
kéo nhau chạy ra bờ biển tránh lửa. Đứng nhìn bà hỏa thiêu rụi bao nhiêu
mồ hôi, nước mắt trong phút chốc mà đau lòng. Mặc dù ba bề bốn bên đều
là nước. Nạn cháy nhà thường xuyên đến nỗi người dân trên Đầm (dân ở phố)
kháo nhau, mỗi lần kéo nhau đông nghịt xuống đứng ở Lầu Ông Tư coi cháy
nhà: Họ vừa nói thật, vừa nói lái để đùa. Các thổ ngữ và âm sắc của các dân tứ xứ như thế, còn giọng nói của dân Xóm Cồn thì sao? Những người từng lang bạt kỳ hồ khắp nơi đã dừng chân lại làng tôi, xem như chỗ đất lành chim đậu, đã lập vợ, lập chồng, sinh con đẻ cái, bầy đàn, thê tử. Họ cưới qua, gã lại con cháu cho nhau, dần dà những âm sắc dị biệt đã tự lúc nào hòa lẫn vào nhau tạo thành một âm ngữ riêng biệt, vừa ngọng nghịu, vừa chả chớt rất khó nghe. Cái âm giọng này thường nghe ở các làng chài lưới ven biển từ Vạn Giả Tu Bông cho đến Cam Ranh, Cà Ná. Họ không nói được vần r, vần tr, vần v, và vần a. Chẳng hạn cái rổ, cái rá họ nói thành "cái giổ, cái giá'. Cái tràn, cái trẹt họ nói thành "cái chàn, cái chẹt". "Đi về" họ phát âm thành "đi dìa". Đi vô thành "đi dô". Tụi trẻ con chúng tôi có đi học, nhờ thầy, cô uốn giọng nên nói được "đi về nhà ăn cơm" thì những đứa trong xóm không đi học, lại nhái chọc chúng tôi là: - Tụi nó nói "tiếng vó" bay ơi!(nói giọng có gió) Thay vì chúng nói "đi dìa nhà ăn cuôm". Dân Nha Trang chính cống, đa số đều nói Cơm thành "cuôm". Người ta thành "ngừ ta". Cười thành "cừ". "Đừng nói ăn cuôm, ngừ ta cừ" (Đừng nói ăn cơm, người ta cười) Nhưng dù các thầy, cô có ra sức uốn lưỡi, uốn giọng cho chúng tôi cách mấy cũng đành bó tay, bất lực trước vần a. Chúng tôi đều nói thành e. Một anh bạn, người Miền Nam hỏi tôi: Nghe hỏi, tôi chợt nhớ ra hơn năm mươi năm về trước, tôi là một nạn nhân đau khổ của chữ a này. Số ba tôi cứ nói thành "số be". Hồi còn lớp Ba, thầy Thanh đã bỏ nhiều thì giờ cố tập cho tôi nói cho được "số ba, nước đá" mà tôi cứ gân cổ hét lên "số be, nước đé". Rõ ràng là tôi nói số ba, nước đá mà! Thầy ác quá! Thầy muốn chọc con. Tôi nói trong nước mắt. Bây giờ nhớ lại, tôi phì cười, bảo người bạn: Chị Tám "lại cái" (bây giờ tôi phải gọi theo mọi người trong xóm cho đồng nhất) có lẽ cũng "lê gót giang hồ" nhiều nơi trước khi "cắm sào" tại xóm tôi, nên tôi không thể nhận ra chị ở địa phương nào. Thứ nhất là cái giọng ồm ồm, eo éo của chị. Thứ hai là trong một câu chị lai vừa Quảng, vừa Bình Định, Phú Yên và cả giọng miền Nam. Nó trộn hầm bà lằng có "nẫu", có "lòm en" và cả "chèng đéc ơi" nữa. Bây giờ nghĩ lại, tôi lấy làm tiếc, hồi đó sao tôi không đánh bạo ngồi trò chuyện với chị lâu lâu một chút để "phỏng vấn" chị đôi điều cho thỏa tính tò mò. Thật ra, hồi đó, ít ai dám làm bạn với chị vì đa số dân làng đều có đầu óc đầy mê tín, dị đoan và nặng thành kiến với chị. Họ rỉ tai nhau hoặc công khai nói ra rằng: - "Cái thứ "lại cái" đi tới đâu là mang theo tai họa chết người tới đó. Ai mà dây với nó là gặp điều xui xẻo". Cả một xóm đều nói như vậy. Mọi người đều nhìn chị bằng cặp mắt e dè, ngại ngùng. Như thế thì có ai mà dám lân la với chị. Chị tứ cố vô thân. Không một ai là họ hàng thân thích, bạn bè. Chị sống thui thủi và lặng lẽ. Nhiều lần tôi thấy chị nhe răng cười với mọi người để làm quen, nhưng đáp lại sự niềm nở là những cái nguýt xéo hoặc tảng lờ. Những năm đầu chị làm mướn cho mấy bà "rổi". Chị có sức khoẻ dẽo dai. Hai tay chị có thể bưng một rỗ rổi cá nặng cở ba, bốn mươi ký lô. Chị bơi ào ra ghe đậu giữa sông để bưng những rỗ cá như thế vào bờ cho mấy bà "rổi" ở nhà quê thuê chị. Ai muốn trả công cho chị bao nhiêu thì cho. Chị không đòi hỏi nhiều ít. Dành dụm được mấy năm chị mua được một xe hàng phở. Chị không bưng cá mướn nữa. Chị bán phở. Cái chuyện chị bán phở là duyên may cho chị mà cũng là điều bất hạnh cho người khác... Xóm tôi có nhiều người bán hàng ăn, quà vặt cho cư dân trong xóm và bạn hàng "rổi" từ quê xuống, đón chờ mua cá từ mành ở biển về. Nhưng quanh đi quẩn lại chỉ có mấy món "cây nhà lá vườn" như bánh căn, bánh xèo, bánh canh, cháo lòng. Thỉnh thoảng đổi món như bún bò, mì quảng, bún cá, bún sứa... Không một ai biết nấu phở. Ngay Má tôi được mọi người xưng tụng là "Dì Bảy nấu đám" cũng không biết cách nấu ra sao. Lâu lâu Má tôi cũng nấu một nồi phở để gia đình đổi khẩu vị. Nhưng khi ăn, ngon thì có ngon, vẫn không cảm thấy mùi phở. Má tôi nấu phở giò heo. Nấu phở bò, mùi mỡ bò nồng nặc, ăn không vô. Muốn ăn phở, phải lên chợ Đầm, vào quán phở hiệu "Bình Dân", trong cái ki-ốt đầu tiên, đối diện với trụ sở Phường Đệ Nhứt Xương Huân, làm một tô ba đồng, mới thưởng thức cái mùi phở nó hấp dẫn làm sao! Trong số những gia đình người Bắc di cư vào "cắm dùi" ở xóm tôi có gia đình anh Xuân Thủy là người đầu tiên nấu và bán phở xe. Anh Thủy người tầm thước, trắng trẻo, đẹp trai. Tuổi khoảng hai mươi lăm. Anh có gương mặt sáng sủa, lộ vẻ thông minh, khác hẳn với người trong xóm đều đen đúa, chai sạm. Anh cùng người bố già, cứ quãng sáu giờ chiều là đẩy xe phở từ đuôi cồn đi lên, vừa rao, vừa bán. Mùi nước phở bay ra lẫn theo trong gió, thơm ngào ngạt, thoang thoảng có mùi thuốc Bắc, khiến ai cũng thèm ăn, đúng lúc cái bụng đang chuẩn bị buổi cơm chiều. Chưa ăn mà cái miệng đã ứa nước miếng. Trong đầu đã hình dung ra tô phở nóng hôi hổi, bốc khói với bánh phở trắng ngần, loang loáng nước béo, với những miếng thịt bò tái đỏ tươi trên mặt, điểm thêm mấy cọng hành xanh có cả củ, cộng thêm mấy khoanh ớt đỏ với mấy cành rau quế tươi rói. Ôi chao! Phải nuốt nước miếng đánh ực một cái. Từ đuôi cồn đến đầu cồn, tức Lầu Ông Tư, anh bán liên tục tới chừng chín, mười giờ đêm là hết sạch. Ngày nào biển động, mành không ra khơi được, dân mành không tiền ăn, phở ế, bố con anh phải đẩy lên tận đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, xóm Mò O để rao bán. Được chừng vài năm, gia đình anh khắm khá thấy rõ. Con cái anh ăn mặc tươm tất, gọn gàng. Hai đứa con gái anh đã ngày ngày ôm cặp đến trường Nữ Tiểu Học Nha Trang. Đứa học lớp Tư, đứa học lớp Ba. ... ... Không biết vì ganh ăn, ghét ở hay vì lý do nào khác
tôi không rõ, bỗng có tin đồn rĩ tai chuyền đi mau lẹ trong xóm, đầu
làng, cuối ngõ đều biết: Hầu hết dân xóm tôi là người Lương. Một số nhà có bàn thờ Phật. Họ rất sùng đạo. Họ nghe lời các Thầy hơn là tin Phật. Lấy thịt chó làm nhưn bánh bao cho các Thầy ăn, bị tội sa vào địa ngục thứ mười hai, ngồi bàn chông, đầu đội chậu máu là chuyện Mục Kiền Liên ai ai cũng thuộc nằm lòng. Chó là con vật dơ bẩn chuyên ăn c... Trong xóm nhiều nhà nuôi chó, không phải để giữ nhà, canh cửa. Có chó gì mà canh với giữ! Họ nuôi chó với mục đích bắt chó dọn vệ sinh cho những đứa bé ị ra nhà và liếm đít khỏi lau chùi. Vậy mà, bấy lâu nay cứ ăn phở thịt chó của thằng cha Thủy Bắc kỳ! Mấy bà già chấp tay, lim lim mắt, miệng niệm Phật, mỗi khi anh Thủy cùng bố đẩy xe phở đi ngang: - "Thiện tai! Thiện tai! Nghiệp chướng! Nghiệp chướng!" Lũ con nít thì chạy theo xe hò la: - "Bắc kỳ ăn thịt chó con! Ăn nhằm chó dại chết cha Bắc kỳ!" Trong xóm có anh Bảy Phết là tay ba trợn, ngổ ngáo. Anh vô công, rồi nghề. Nhưng anh sống thong dong như một ông hoàng con. Ngày ngày anh rong chơi hay ôm gà đi khắp xóm để đá làm vui. Anh ăn nói bạt mạng, hành động lỗ mãng với những kẻ anh không ưa. Nhưng anh rất được lòng bà con trong xóm, nhờ cái tính mau mắn, nhặm lẹ giúp đỡ bà con của anh. Ai cũng biết anh là loại "ăn bám gấu quần đàn bà" nhưng họ cười dễ dãi, xởi lởi khi nói về anh. Mấy anh thanh niên đồng trang lứa chép miệng thòm thèm: - "Tao mà được như thằng Bảy Phết cũng sướng một đời. Người ta nói "của to" không lo gì đói, đúng quá xá là đúng! Tính ra, lúc ấy, Bảy Phết có tới cả thẩy năm bà vợ. Nhưng Bảy Phết vẫn ở một mình. Năm bà kia không biết ở đâu. Người ta thấy mỗi ngày, một bà thay phiên nhau đến ở với anh, hầu hạ anh hết mực. Từ ăn uống phủ phê, coi cải lương, hát bóng, sắm đồ đạc, đồng hồ, cà rá, quần áo... nhất nhất đều đầy đủ. Cơm no xong thì bò cởi. Sáng hôm sau ra đi, nhường cho bà khác tới tiếp tục bổn cũ soạn lại. Bảy Phết chuyên ở trần để phô trương bộ ngực nở nang và thân hình đầy những bắp thịt rắn chắc. Anh mặc chỉ có mỗi cái quần đùi rộng ống. Anh ôm gà đi từ đầu làng tới cuối xóm. Cái "của quí" to và dài như cái chày đâm tiêu lũng lẵng giữa háng, đánh qua, đánh lại hai bên bắp vế theo nhịp đi của anh. Những lúc anh ngồi chồm hỗm theo dõi con gà mình đang đá, thằng nhỏ của anh cũng thò cái đầu bóng lưỡng ra khỏi ống quần để xem ké. Thiên hạ lúc này bỏ coi đá gà quay qua chiêm ngưỡng cái "vưu vật" hiếm có trên đời này. Đến lúc phát hiện ra chuyện lạ, Bảy Phết đỏ mặt, đứng vụt dậy, kéo ống quần xuống, cười bẽn lẽn nhưng cũng đầy vẽ tự hào. ...Một buổi chiều, trời mưa lâm râm suốt ngày, mới hơn sáu giờ mà đã tối mịt. Xe phở của bố con anh Thủy vừa đẩy đến giữa xóm, cách nhà tôi độ năm chục thước thì bị Bảy Phết ở đâu xộc ra chận lại. Mặt anh đỏ tía, chắc đã vô vài xị rồi. Anh hùng hổ vung nắm tay chỉ mặt bố con anh Thủy hét lớn: - "Ê! Thằng Bắc kỳ! Sao mày dám bán phở thịt chó cho xóm tao ăn hả? Hả?" Anh Thủy cùng bố run lẩy bẩy thanh minh: - "Đâu có anh Bảy! Chúng em đâu có bán thịt chó! Anh đến mà xem này! Thịt bò đấy chứ ạ!" - "Thịt chó mày dấu trong thùng nước lèo chớ đâu! Bảy Phết này biết ráo trọi!" - "Làm gì có anh Bảy! Anh cứ đến xem! Nếu có cứ đánh chết chúng em đi!" Lúc này trẻ con, người lớn, túa tới bu coi mỗi lúc mỗi đông. Tiếng con nít hò la "Bắc kỳ ăn thịt chó!" càng lúc càng lớn, khiến Bảy Phết càng hăng máu, càng hừng chí. Anh xăm xăm xáp lại gần xe phở. Bố con anh Thủy càng run lập cập lùi ra xa. Bảy Phết đưa tay giở nắp thùng nước xúp, thò mũi vào hít hít mấy cái, rồi lấy cái giá trụng bánh phở khua khua trong thùng một lúc, bỗng la lớn lên: - "Nè bà con, cô bác, có cái đầu con chó trong này nè!" Mọi người ồ lên một tiếng thật to. Đám con nít sợ xanh máu mặt. Bảy Phết lui một bước, co chân đạp chiếc xe phở một cái thiệt mạnh. Xe phở lật nghiêng, ngã chỏng gọng. Thùng nước lèo đổ ào ra đất lẫn với thịt bò, xương bò, hành lá, rau é, giá sống, ràu xà lách, tô chén bể lổn nhổn. Trong cái đám hỗn tạp ấy có một cái vật gì giống như một cái đầu chó đen thui nằm chỏng chơ, lồ lộ trong cái ánh sáng nhá nhem của ngọn đèn dầu lửa tù mù. Tiếng la hét, chửi bới của dân làng càng vang động. Cái không khí hung hăng muốn đánh người càng kích thích, khiến bố con anh Thủy hốt hoảng, quơ vội đồ nghề quăng vào xe và lật đật đẩy về nhà, đóng cửa im ỉm. Ba ngày sau, gia đình anh Thủy dọn nhà trên một chiếc xe ba gát, đẩy ra khỏi xóm đi mất biệt. Không ai biết anh dời đi đâu. Và mọi người mau chóng quên lãng chiếc xe phở cùng gia đình anh Thủy bán thịt chó. Mãi mấy năm sau, Má tôi học được cách nấu nước xúp bằng xương bò mà không bay mùi mỡ bò để bà bán bún bò và cả phở nữa. Lúc đó tôi mới biết là gia đình anh Thủy bị cái oan Thị Kính. Cái vật đen đen nằm chỏng chơ năm xưa, trong cái ánh sáng nhá nhem dưới ngọn đèn dầu tù mù kia chỉ là cái túi vải, trong đó chứa cái bí mật nhà nghề để nấu phở bò mà anh Thủy đành ngậm đắng nuốt cay ra đi, nhất định không chịu mở ra để thanh minh với bà con. Trong đó có gì bí mật? Theo lời dặn dò của Má tôi, anh em chúng tôi sau này đừng theo nghề Má tôi nữa để khỏi khổ cái thân. Má tôi nói: - "Các con nên kiếm ít chữ nghĩa để cái thân đở cực!" Vì vậy, chúng tôi không sợ cạnh tranh nghề nghiệp mà dấu bí mật làm chi. Ai thích nấu phở bò thì cứ theo như vầy... như vầy... mà làm! (Chữ nghĩa trong Tín Đức Thư Xã) Xin xem tiếp hồi sau sẽ rõ! Chỉ mấy tháng sau khi gia đình anh Thủy dọn đi, chị Tám bỗng khai trương một xe phở mới toanh. Cách trình bày trên xe y hệt của anh Thủy. Cũng miếng thịt bò đỏ tươi treo tòng teng bên cạnh bó hành xanh ngắt và miếng thịt ba chỉ luộc chín, béo ngậy. Một rỗ rau é quế, giá sống, xà lách, ngò gai xanh mướt. Lẫn chính giữa là mấy chùm ớt chín đỏ. Tương đỏ, tương đen, xì dầu, nước mắm, chanh tươi đều có cả. Mùi nước xúp thơm phưng phức không thua gì mùi phở của anh Thủy. Ai cũng ngạc nhiên tự hỏi không biết chị Tám đang vác mướn cho rổi mà học được nghề nấu phở Bắc hồi nào vậy! Cách nhà tôi một căn, một gia đình người Bình Định được thơ nhà từ Đập Đá gửi vô nhắn mau mau về lại làng cũ. Thơ nói, bây giờ "nẫu" đang phục hồi nghề dệt vải tám, có ăn lắm. (Đập Đá là làng dệt vải nổi tiếng rất lâu ở Bình Định). Gia đình này bán nhà cho chị Tám để về quê. Nói là nhà chớ thực sự chỉ là một cái chòi xập xệ bên mé sông. Thế là chị Tám thành chòm xóm của gia đình tôi và gia đình chị Tư Ngỗ. Xe phở của chị đặt ngay trước cửa nhà. Hôm nào ế quá
chị mới đẩy xuống đuôi cồn bán khuya. Chị bán rẻ hơn anh Thủy nên bà con
ngày nào cũng chiếu cố nồng nhiệt. Giá nào chị cũng bán. Trẻ con không
đủ tiền, một đồng cũng ăn được một tô nhỏ. Tụi tôi, tối tối, cũng ra kêu
vài tô đem vô nhà ăn chớ không ngồi chồm hỗm trên con ngựa chị đặt trước
xe. Má tôi nếm thử nước xúp, chép chép miệng mấy cái rồi nói: Rồi bà thì thầm dặn: ... Hai năm liên tiếp, sáu mươi, sáu mốt, ghe mành mất mùa, ngày nào ghe cũng về lưới khô. Những bầy cá cơm, cá nục, cá sơn, cá chuồn, cá suốt... không biết biến đi đâu hết. Đầu nậu (chủ ghe) lỗ tiền sở hụi, đành phải đậu ghe ở nhà vài tuần chờ hy vọng. Lái phụ, bạn nghề, bạn qua lồ trơ mỏ. Gia đình vợ con xơ rơ, xác rác. Ba tôi thường nói: - "Cái nghề biển là nghề bạc đãi! Tiền bọt biển, có nay, chưa chắc có mai. Ngày nào hòn dái nhúng nước là ngày đó có tiền ăn uống thả dàn. Ngày nào hòn dái khô là ngày đó trơ mỏ. Nhưng hai năm liền, ngày nào dái cũng nhúng nước, mà vẫn không đủ cá để chia cho bạn ăn, nói chi tới chia tiền. Thế thì còn tệ hại hơn nhiều! Nhiều người phải năn nỉ đầu nậu xin lấy tiền "khống" ăn trước, hẹn trả lại mùa sau. Tiền "khống" giống tiền bán lúa non ở nhà quê. Mấy người già cả thiếu ăn, bệnh tật không tiền mua thuốc, lần lượt nối gót nhau về trời. Có tháng đưa đám đến hai, ba người. Nhưng dân trong xóm không chịu tin người chết vì tuổi già và bệnh tật. Họ đổ riệt cho "thằng cha lại cái" đã đem lại xúi quẫy cho xóm. Chị Tư Ngỗ thì thầm: - "Tại thằng "lại cái" đó chớ không ai hết. Hồi giờ làng mình đâu có chết nhiều dữ vậy! Thím Đảm, vợ chú Đảm thợ may, ở đối diện phụ họa: - "Tui đã nói mà! Chỗ nào có "lại cái" là chỗ đó xui tận mạng! Vợ Ngô Thuẩn ở nhà xéo bên, phân vân: - "Làm sao bây giờ? Chẳng lẽ đuổi nó đi? Nó ở đây đã mấy năm rồi, đâu có chuyện gì?" Bà Đấu già có cục bứu to ở cổ, vừa nhai trầu bỏm bẻm, vừa than thở: - "Trời phạt, trời hành, khó mà tránh được. Ráng mà ăn chay, niệm Phật mới mong tránh khỏi tai ương!" Nhưng mấy bà chỉ xầm xì với nhau chớ không dám nói ra lời trước mặt chị Tám. Nhiều buổi xê xế, bóng mát nhà tôi vừa ngã xuống sân xi măng chừng ba thước, các bà tụ trước nhà tôi, người này đè đầu ngươì kia, bắt chí cho nhau, thành mấy dây dài. Vừa bắt chí, vừa nói chuyện râm ran. Tiếng cắn chí trong miệng lụp bụp lẫn tiếng hành, tiếng tỏi, chê người nọ, bai người kia, một hồi cũng quay sang chỉa mũi dùi vào chị Tám. Tôi ngồi học bài trong cửa sổ, ngứa miệng nói leo: - "Mấy Bác à! Mấy người chết trong xóm mình tại họ già quá mà bị bịnh nữa. Chớ đâu phải tại chị Tám! Nói vậy tội cho chị". Nói chưa dứt câu đã có tiếng một bà nào đó át đi: Có người lại ác khẩu: - "Hay là thằng "lại cái" cho mày ăn phở không lấy tiền nên mày bênh nó?" Tôi biết là nói không lại một đám đàn bà lắm mồm, lắm miệng đó nên đành nín thinh. "Chúng khẩu đồng từ, ông sư cũng chết". Huống hồ là tôi, một thằng con nít. Huống hồ là chị Tám, thân cô, thế cô. Chị Tám biết hết. Chị đã nghe hết. Nhưng chị giả bộ để giả dại qua ải. Chị cần phải sống. Nhưng nào chị được có yên cái thân. Chị lại phải đương đầu với Bảy Phết. Mới bảy giờ tối, mùa hè trời còn sáng rực đằng sau dãy núi, Bảy Phết đã chân nam đá chân xiêu, đứng trước nhà chị Tám kêu réo, chửi rũa sòm: - "Ê! Thằng cha Tám "lại cái" ra đây tao biểu! Đ.M mày! Từ ngày mày tới đây tới giờ, xóm tao chết biết bao nhiêu người rồi, mày biết không?" Bảy Phết vừa chửi tục, vừa gục gặt cái đầu đỏ ké, miệng hôi nồng mùi rượu đế. Đám con nít bu đông trước cửa. Đàn bà, con gái cũng túa ra. Nhiều người đứng chân trong, chân ngoài ở nhà mình, ngóng chờ xem pha gay cấn sắp xảy ra giữa Tám "lại cái" và Bảy Phết y như chuyện anh Thủy Bắc kỳ lần trước. Bảy Phết đứng ngoài chửi rũa. Đám con nít đứng sau lưng hò reo trợ oai. Chị Tám thủ trong nhà không dám ra. Hồi lâu, Bảy Phết hăm dọa: - "Đ.M mày không ra hả? Tao vô, tao đốt nhà mày!" Đám con nít hò theo: - "Đốt nhà bà "lại cái"! Đốt nhà bà "lại cái"! Chị Tám hoảng hồn lật đật chạy ra, hai tay chắp lại, lạy Bảy Phết lia lịa: - "Anh Bảy ơi! Làm ơn, làm phước tha cho em đi anh Bảy! Em lạy anh trăm lạy, ngàn lạy, tha cho em, đừng đốt nhà em mà. Em nào có tội tình gì!" Không biết vô tình hay quên trong lúc đang xắt thịt, chị Tám trên tay vẫn còn cầm con dao bầu bén ngót, khi lạy, con dao cứ đưa lên, đưa xuống, ánh dao loang loáng dưới ánh đèn làm Bảy Phết phải lùi xa khỏi cửa. Có lẽ Bảy Phết cũng nhợn cơ trước thân hình lực lưỡng của chị Tám không thua gì mình và cả con dao bầu nữa. Bảy Phết tuy ngà ngà, cũng ơn ớn, sợ chị Tám làm liều: - "Thằng "lại cái" này nổi điên cũng dám chém ẩu lắm nghe!" Bảy Phết nghĩ thầm trong bụng rồi giả đò say hung, xiêu qua, xiêu lại vài cái, lảm nhảm chửi thêm một hồi nữa rồi chệnh choạng bỏ đi. Đám đông tiu nghĩu, không coi được màn chót hấp dẫn. Ai nấy đều tiếc hùi hụi, tản hàng. ... Thời gian trôi qua, mọi việc rồi cũng êm. Ghe mành lại trúng biển. Cá lại đầy khoang. Mành Thường, mành Si, mành Bông, mành Diệu... nói chung tất cả ghe mành khác trong xóm đều "khẳm". Dân làng tôi lại sung túc, dồi dào. Hàng quán mọc ra rất nhiều. Sòng cờ bạc nổi lên cũng lắm. Thiên hạ đua nhau sắm sửa đồ đạc trong nhà, đi coi hát bóng, coi cải lương, ăn quà vặt suốt ngày. Kinh tế trong làng theo nhau mà khá lên. Xe phở chị Tám lại đắt khách hơn bao giờ hết. Có hôm mười hai giờ khuya mà xe phở chị vẫn còn đông khách. Chị Tám vui vẻ trò chuyện rôm rả với mọi người. Miệng nói, tay làm. Trụng bánh phở, xắt thịt, múc nước lèo, thêm chút nước béo, rắc chút tiêu, vắt thêm miếng chanh... Ai xin thêm cái gì chị cũng xởi lởi, vui vẻ theo yêu cầu. Quả thật, khi trong túi đầy tiền, người ta bỗng thành Tiên, thành Phật. Bây giờ mọi người trong xóm bỗng rộng rãi, dễ dãi, khoan dung. Không còn ai nhắc đến chuyện tai ương, xúi quẫy nữa. Mọi người đều vui vẻ. Chị Tám cũng cảm thấy lòng mình càng thơ thới, hân hoan. Dạo này chị nghỉ bán ngày mùng một và ngày rằm để đi chùa cúng Phật. Buổi sáng chị sắm sửa nhang đèn lên chùa. Sâm sẩm tối, chị chưng diện đi dạo phố. Chị mới "ráp" một chiếc xe đạp hiệu "Ta Bo" cáo cạnh, chỉ đi trong hai ngày nghỉ. Chiếc xe chị o bế kỹ lưỡng nên lúc nào nước sơn cũng bóng lộn. Chị đánh một bộ đồ bà ba bằng vải "xoa" màu nâu non. Chân đi dép "Lào" chớ không mang guốc gỗ như trước. Má đánh phấn hồng. Môi bôi tí son. Cục tóc củ hành được giắc thêm một cái bông cúc vàng làm bằng vải. Chị dắt chiếc xe ra khỏi nhà, thót lên yên nhanh nhẹn như một kỵ sĩ nhà nghề. Chiếc xe "Ta Bo" nhẹ nhàng chạy vun vút. Mấy bà lại xầm xì: - "Con mẹ Tám rượng đực!" Mấy ông nhóc nhóc chêm vô: - "Tụi tui thấy bả đi xuống biển kiếm "bồ"! Một buổi xế nọ, Bảy Phết cùng mấy ông bạn đá gà xong, kéo tới xin Ba tôi được ngồi trước thềm xi măng nhà tôi để nhậu. Ba tôi cũng vui lòng. Bảy Phết kêu vói qua xe phở: - "Em Tám! Múc cho anh dĩa xíu quách nhậu chơi!" Tiếng chị Tám dạ một tiếng nghe ngọt xớt như trong tuồng cải lương. Khi chị Tám bưng dĩa xương bò đầy tú hụ qua thì đám Bảy Phết đã "lỳ tới ba lam" rồi. Rượu trắng "công xi" bốn mươi lăm độ bắt rất mau. Mỗi người thò tay bốc một cục xương bò gặm từ ngoài vô trong, sạch sẽ không còn một chút thịt dư. Xong, họ chu mỏ hút tuỷ trong ống xương nghe chụt chụt. Dĩa xíu quách vơi đi một nửa thì lít đế cũng vơi theo hai phần ba. Rượu vào lời ra càng rôm rả. Mặt nào cũng bắt đầu đỏ gay và tranh nhau, mạnh ai nấy nói, ồn ào như cái chợ xổm. Chẳng ai nghe ai. Thình lình Bảy Phết dơ tay ra hiệu cho mọi người im lặng. Mắt liếc liếc qua chị Tám. Ngón tay trỏ để ngang bụng cứ chỉ chỉ về hướng xe phở. Mọi người đều ngưng nói nhìn Bảy Phết đang có vẻ bí bí, mật mật chuyện gì. Mấy cái đầu chụm về phía Bảy Phết thì thầm: - "Chuyện gì anh Bảy? Nói ra bọn này nghe thử!" Bảy Phết cũng nhỏ giọng: - "Để tao kêu dĩa xíu quách nữa đã, rồi kể cho tụi mày nghe chuyện động trời của thằng cha "lại cái". Tụi mày sẽ cười bể bụng luôn! - "Thiệt hả anh Bảy!" - "Hồi nào "dị"! - Chà! Anh Bảy "dị" mà cũng rành "bà Tám" sáu câu chớ! Cả đám nhậu lao xao, háo hức nghe chuyện có phần hấp dẫn. Vài người nôn nóng đưa tay vói chai rượu giữa sòng nhậu rót thêm cho mình ly nữa, đánh ực một cái, cái ly hết sạch, đưa tay chùi mép, chồm sát tới Bảy Phết hối thúc: - "Lẹ lẹ đi anh Bảy! Anh làm bọn này nóng ruột quá!" Bảy Phết hắng giọng gọi to: - "Em Tám! Cho anh dĩa nữa với lại ít hành củ, thêm mấy trái ớt xiêm nữa nghe! Xíu quách của em bữa nay ngon tận mạng đó em Tám à!" Chị Tám lại dạ một tiếng ngọt hơn mía lùi. Chữ dạ kéo dài, phần sau âm hưởng càng đi lên nghe mùi như hát bội. Đám nhậu cười phá lên như giặc. Chị Tám bưng sang một tô xương và một dĩa hành ớt. Miệng cười chúm chím, mắt liếc Bảy Phết ra vẻ tình tứ lắm. Chờ cho chị Tám về lại xe phở, Bảy Phết bắt đầu: - "Nè! Dô một ly nữa rồi nghe chuyện mới đã!" Ly nào cũng tràn đầy. Năm sáu cánh tay cùng giơ lên cụng ly cốp cốp, rồi cùng nhau ngữa cổ đánh "trót" một cái, cạn tuốt. Người thì khè, người thì khà một tiếng thiệt là đã. Bảy Phết bắt đầu, giọng nho nhỏ vừa đủ nghe: - "Rằm tháng trước, cách đó một ngày, tao ngồi ăn phở một mình, vắng không có ai, thằng "lại cái" gạ gẫm tao đi chơi với nó. Nó nói: - "Anh Bảy à! Tối mai anh đi nhậu bia với em được không?" Nghe nói uống bia là tao biết trúng mánh rồi, nhưng làm bộ nói không có tiền. Nó nói: - "Em bao mà! Lâu lâu em bao anh một lần không được sao!" Tao khoái chí tử trong bụng. Tao hỏi đi làm sao? Nó nói: - "Đúng bảy giờ, em đạp xe đi trước, đợi anh ở Lầu Ông Tư, anh đạp xe đi sau để khỏi ai thấy hai đứa mình đi chung. Rồi mình lên chỗ khách sạn Đông Nam Á nhậu phá lấu với bia. Xong mình ăn mì hoành thánh". Nghe tới đó là tao chảy nước miếng rồi nên gặt (gật) đầu ừ đại. Bữa đó tao nhậu thả dàn. Bia con cọp tao làm năm chai. Đi đái mấy lần. Nè! Phá lấu ở Đông Nam Á ngon hết xảy nghe tụi mày. Mì hoành thánh, tao làm hai tô. No nê xong, thằng chả rủ tao xuống biển ngồi hóng mát, nói chuyện tâm sự chơi. Tới đây, Bảy Phết ngừng lại, bốc một cục xíu quách, nhe răng gặm. Hết bên này, trở qua bên kia, mút nghe tóp tép. Chùi hai tay vào ống quần, từ từ rót thêm một ly nữa. Nhón một củ hành bỏ vô miệng, thêm trái ớt xiêm, Bảy Phết nhai rào rạo trong miệng. Hớp nửa ly, rồi đặt xuống, mắt ngó qua chị Tám. Chị Tám nãy giờ đứng bán mà cái tai hình như cố vểnh về phía đám nhậu, để ráng nghe họ nói cái gì, mà cứ thấy hết người này, đến người kia, nhìn mình rồi cả đám cười rộ lên. Bảy tám cặp mắt thò lõ nhìn Bảy Phết chờ đợi, sốt ruột. Bảy Phết cứ lờ đi. Lại bốc thêm cục xương nữa. Ba Thuẩn thò tay ra chận lại: - "Nè anh Bảy! Tụi tui nhường hết tô xương này cho anh đó. Nhưng anh khoan ăn đã! Đến cái hồi gay cấn mà anh ngưng lại, hết ăn rồi uống. Hết uống rồi ăn. Sao anh chơi ác vậy? Đù quả con cóc!" - Ba Thuẫn vừa năn nỉ vừa văng tục. Đám nhậu lại lao nhao đồng tình. Bảy Phết cười khục khục trong cổ họng: - "Nãy giờ tao lo kể, không ăn được miếng nào, uống ly nào! Tụi bay vừa nghe chuyện, vừa ăn, vừa uống, sướng thấy mẹ, còn đòi gì nữa!" - "Thôi thôi! Tụi tui dành phần cho anh đó! Được chưa! Kể tiếp đi!" - "Ừ! Kể thì kể! Để tao làm hết ly này đã!" Bảy Phết tủm tỉm cười kể tiếp: - "Nó rủ tao xuống ngồi ở bãi cát gần Ty Bưu Điện, sát mực nước. Trăng lên cao khỏi hòn Yến, sáng lắm. Nó nói Nam Tào, Bắc Đẩu lung tung. Tao ngà ngà. Gió mát hiu hiu muốn ngủ. Thình lình nó quay qua ôm tao chặt cứng. Nó nói nó thương tao từ lâu rồi. Nó trách tao vô tình không để ý tới nó. Tao ngồi chết cứng, cố gỡ mà không ra khỏi hai cánh tay nó. Nó hun chùn chụt lên mặt tao. Nó biểu tao thương nó. Nó lo hết cho. Tao cứ việc ăn đi chơi líp ba ga. Có tiếng bụm miệng cười hộc hộc trong cổ. Có tiếng khoèo hông: - "Chắc anh Bảy chịu cái rụp chớ gì! Sướng quá tay mà!" Bảy Phết trợn mắt nhìn về anh chàng vừa nói: - "Sướng cái con khỉ khô! Mày muốn không? Tao "bát sê" cho mày! - "Thôi, thôi! Hổng được đâu! Nói giỡn với anh chơi chút mà! Kể tiếp đi anh Bảy! Rồi sao nữa!" Bảy Phết đánh trót một ly nữa, chùi mép, kể tiếp: - "Tao trân mình chịu trận. Nó tưởng tao chịu nó như nai chịu đèn nên càng làm tới. Nó đè ngữa tao ra. Nó thò tay trong lưng quần tao lẹ như mấy thằng móc túi, nắm cứng thằng nhỏ của tao". Tiếng cười phá lên rần rần. Có người vừa ngụm hớp rượu trong miệng, cười hộc lên, phun ra như mưa vải xuống đầu những người ngồi đối diện. Tiếng xuỵt xuỵt bắt im lặng của đám đông, tiếng hối thúc cho mau đến hồi gay cấn: - "Sao nữa anh Bảy! Tôi chịu anh ở chỗ này đa!" Bảy Phết cười sặc sặc lẫn chửi thề: - "Đù má! Thằng nhỏ của tao tụi mầy biết rồi chớ gì! Vậy mà lúc nó nắm, tao vừa nhột nhạt vừa nổi da gà, nó teo lại bằng ngón cẳng cái chớ mấy. Tao giựt tay nó ra khỏi quần rồi đứng dậy đạp nó một đạp té ngữa. Trong khi nó hả họng, trợn to mắt nhìn tao, tao dắt xe chạy lên đường nhựa, dông tuốt về nhà. Tao còn nghe nó kêu vói sau lưng "Anh Bảy ! Em thương anh thiệt mà". Bảy Phết chấm dứt câu chuyện bằng một câu gọn lõn: - "Thương cái mụ nội tui, chớ thương cái đách gì!" Ba Thuẫn chưa thoả mãn: - "Anh Bảy lúc đó sao không mò lại coi thử nó là con chim hay là cái bẹp?" - "Tao nổi da gà đầy mình, lo dọt lẹ chớ ở đó mà mò!" Lúc này mọi người mới bật ra cười hả hê. Ba tôi ngồi uống trà bên trong cũng lắng tai theo dõi câu chuyện kỳ thú, ngẵng đời của Bảy Phết. Ông bước ra vừa cười, vừa ngầy Bảy Phết: - "Phết à! Mầy cũng quá đáng! Tội nó chớ! Nó đãi mầy ăn uống thỏa thuê, nó có rờ đôi chút cũng chẳng mất mát gì, sao mày đạp nó một cái quá mạng vậy?" Bảy Phết gãi tai phân bua: - "Chú Hai à! Chú không biết đâu! Nó nhột nhạt và ghê ghê thấy mẹ! Hổng tin, bữa nào chú Hai để nó rờ thử một cái là biết liền hà!" Ba tôi cũng phì cười cái cách nói bổ bả của Bảy Phết. Ông giải tán đám nhậu: - "Tầm bầy, tầm bạ cái thằng này! Thôi nhậu đến đây đủ rồi! Bọn bây hốt hết mớ xương liệng xuống sông để ruồi khỏi đánh hơi bu lại". Đám nhậu vừa dọn dẹp mâm nhậu vừa cươì khoái trá. Tôi không thấy ai trả tiền hai tô xíu quách mà cũng không thấy chị Tám đòi. ... Năm sáu mươi hai, tôi rời làng đi học xa. Rồi đi làm việc. Năm bảy mươi, tôi được thuyên chuyển về Nha-Trang, nhưng ở trên phố. Thỉnh thoảng chở vợ con về xóm, thăm Ba, Má tôi. Tôi gặp lại chị Tám và cũng đôi lần ngồi ăn phở của chị. Mặc dù bây giờ so với những nơi khác tôi đã từng ăn qua, phở của chị không sánh bằng, cả chất lượng lẫn vệ sinh. Nhưng tôi vẫn cảm thấy một tình cảm thân thương, gần gũi, đậm đà trong tô phở chỉ có vài miếng tái lèo tèo không gân, không sụn, không nạm, không gầu... Tôi ăn tô phở của chị ngon lành hơn bao giờ hết, dù vẫn biết nước lèo chị nấu "toàn là bột ngọt" như lời Má tôi nhận xét. Có lẽ chị biết tôi bây giờ là thầy giáo (duy nhất trong làng) nên đặt biệt tỏ ra quí mến hơn. Chị kêu tôi bằng anh Hai chớ không kêu chú Hai như trước nữa. Vợ tôi nghe tôi kể chuyện về cuộc đời của chị, nên thỉnh thoảng cũng đùa chị vài câu: - "Chị Tám à! Chị bán rẽ đặc biệt cho ảnh coi chừng lỗ vốn chị đó nghe!" Chị Tám cươì ngoản ngoẻn: - "Dạ đâu có chị Hai! Lâu lâu anh chị về thăm hai Bác, ăn dùm em tô phở, em cám ơn. Thêm vài miếng thịt cho anh Hai, đâu có nhằm nhò gì ba cái lẻ tẻ! Tình cảm anh em trong xóm mới quí mà! Phải không anh Hai?" Vợ tôi được thể, đùa dai: - "Đó, đó! Chị Tám thương anh rồi đó!" Chị Tám lật đật xua tay: - "Hổng có đâu! Anh Hai là người có học mà! Anh Hai là người đứng đắn! Chị Hai đừng có nghi oan cho ảnh mà chén bay, dĩa bay, em hổng có chịu trách nhiệm đâu à nhe!" Chúng tôi muốn cười phá lên trước câu nói của chị mà rán nín không dám cười. ... Thời gian sau, tôi thấy chị có nuôi một bé gái mấy tháng tuổi. Má tôi cho biết con Tám mới xin đứa con lai của ai ở trên phố. Không biết con "nhím" nào lấy Mỹ, đẻ con, rồi bỏ lại nhà thương. Chị thương con bé lắm. Cái cách thương con, càng muốn làm mẹ của chị cũng là một trò vui cho cả xóm cười nhạo chị. Chị cho nó bú bằng bình nhựa có núm cao su. Nhưng chị cũng giả bộ vạch áo ra, ấn đầu con bé vào ngực, cũng giả bộ ù ơ: - "Ờ, ờ! Con ngoan! Má cho con bú nghen! Ngoan ngoan! Bú đi con!" Rồi chị rung rung con bé trên tay, ru nó ngủ bằng cái giọng ồm ồm: Âu ơ ... Ví dầu tình bậu muốn thôi, Âu ơ ... Bậu gieo tiếng dữ cho rồi bậu ra, Âu ơ ... Bậu ra cho khỏi tay choa, cái xương bậu nát ... âù ơ ... Cái xương bậu nát, cái da... ầu ơ ... cái da bậu mòn ... Bảy Phết đi ngang chửi đổng: - "Tổ bà thằng lại cái! Vú móm đâu cũng bày đặt vạch áo, bú đi con, bú đi con! Con! Con cái con c... tao đây nè!" Chị Tám xua xua tay ra hiệu cho Bảy Phết đừng nói lớn tiếng làm con bé thức dậy: - "Anh Bảy làm ơn! Em nó đang ngủ!" Rồi chị lại rung rung con bé hát tiếp. Mắt thì ngó Bảy Phết ra vẻ hờn trách: Ầu ờ ... ơ Gió đưa bụi chuối sau hè, Ầu ờ ... ơ Anh mê vợ bé ... Ầu ờ ... ơ ... Anh mê vợ bé, bỏ bè con thơ! Bảy Phết chắp tay sau đít đi tuốt. Mấy năm sau con bé lớn dần, chị làm giấy khai sanh cho nó và đặt tên là Nga. Hàng xóm thắc mắc: - "Nó là Mỹ lai, sao mày không đặt tên là Mỹ, mà lại đặt tên Nga vậy Tám?" - "Bây giờ người ta đi làm sở Mỹ nhiều. Đi làm đĩ cũng nhiều. Đẻ tưới hột sen ra, bỏ đó, thất nhơn thất đức. Tui đặt tên nó là Mỹ, người ta cho tui là lấy Mỹ sao ? Cho nên tui đặt nó là Nga khỏi sợ hiểu lầm!" Chị lý giải gọn ơ. Chị cũng không thèm để ý đến mấy bà đang quay mặt chỗ khác cười chúm chím. Con bé là nòi Mỹ trắng, nên nó có mái tóc vàng mềm mại. Đôi mắt xanh lơ. Làn da trắng trẽo. Nhưng nó không giống như trẻ con Mỹ trong xi nê, mập mạp, tròn trĩnh, hồng hào, mà ốm tong ốm teo. Hai cánh tay, hai ống chưn như cây sậy. Đặc biệt là cái miệng nhọn hểu. Hai cái môi cứ chu lại khi nói chuyện, giống như cái mỏ diều hâu. Trẻ con trong xóm không kêu nó là Nga mà cứ gọi xách mé là con Diều Hâu. Từ đó chết cái tên Diều Hâu. Con Diều Hâu càng lớn càng làm biếng và hỗn xược. Suốt ngày nó rong theo đám con gái trang lứa ra bờ biển, chun xuống mấy cái chồ (sàn nhà) để chơi "chắt nẻ" hoặc đánh bài tứ sắc. Chị Tám không nhờ cậy gì được nó. Đến bữa, nó mới mò về ăn ba hột no bụng rồi dông thẳng. Chị Tám bận bịu với xe phở không đi đâu được và cũng chẳng có thì giờ dạy dỗ nó. Nhiều lúc cần cấp điều gì, chị ra giữa đường réo: - "Bớ ba hồn, chín vía con Diều Hâu! Mày ở đâu, về đây tao biểu chút!" Chị phải réo hơn chục lần mới thấy mặt nó ló ra khỏi đường luồng nhà thím Đạm thợ may. Chưa thấy nó mà đã nghe tiếng nó tru tréo, chửi lại chị Tám: - "Bà "lại cái"! Bà kêu réo tui cái gì?" Chị Tám tức điên người, quát rống lên: - "Con Hà Bá! Mày dám nói tao vậy hả! Mày về đây! Tao vặn họng mày, tao xé xác mày, cho mày chừa cái thói hỗn xược! - "Bà vặn họng bà đi! Bà "lại cái"! Bà quỉ sứ Lô Bô, Chàng Năm, Ngũ Vị!" Nó trả treo, chửi lại chị bằng những tên thần linh dưới nước mà dân biển thường dùng để rũa nộp lẫn nhau khi có hiềm khích. Chị Tám vớ lấy cây chổi chà xông tới, chưa kịp giơ lên, nó đã như con chạch, luồn vào đường luồng biến mất. Tối mịt mới về nhà. Lúc này chị Tám cũng đã nguôi giận. Lại má, má, con con ngọt ngào tình mẫu tử. Năm bảy lăm, "Cách mạng về", "giải phóng" hầu hết dân làng tôi. Ai ở đâu thì phải về quê nấy. Lần này dở nhà ra đi vĩnh viễn, chớ không còn chờ mùa Xuân, biển bồi, cất nhà trở lại. Ai không muốn về quê mình thì Phường cho xe chở đi lập nghiệp ở Nhiễu Giang, xây dựng đời sống mới, văn minh. Gọi văn hoa là đi "Kinh tế mới". Chị Tám, không quê quán để về, nên ưu tiên "trúng tuyển" đợt đầu. Chị khóc bù lu, bù loa khi hay tin mình "được trúng tuyển". Chị ôm con Diều Hâu khóc ngất lên từng hồi. Chị không chịu dở nhà theo lệnh du kích. (Mấy thằng nhóc con du thủ, du thực, xé vải đỏ quấn ở tay, lượm súng M16 ngoài đường, mang trên vai, đi nghênh ngang xưng là du kích phường) Chị khóa cửa lại, giao chìa khóa cho chị Tư Ngỗ, nhà bên cạnh, nhờ coi chừng dùm. Chị dắt con Diều Hâu lên xe "boa lua" cùng đám người trong xóm. Ai nấy đều nước mắt, nước mũi ròng ròng. ... Sáu tháng sau, chị cùng một số người, bỏ vùng kinh tế mới trốn về lại. Chị tuyên bố thà chết tại đây chớ không đi lên đó nữa. Chị kể lại bằng giọng uất ức: - "Đ. M. nó chớ. Nó gạt mình đi kinh tế mới. Nó nói Đảng, Nhà nước lo hết trơn, hết trọi rồi. Có nhà cửa, trường học, trạm xá, chợ búa. Lên đó chỉ cùng nhau lo sản xuất thôi. Gạo Nhà nước sẽ phát không cho sáu tháng. Đến nơi, nó thả mình xuống một đám rừng mịt mùng rồi phát cho mỗi người một cây rựa, biểu đi chặt cây làm nhà. Mọi thứ nó hứa không thấy đâu hết. Nào muỗi, nào vắt. Còn sợ beo hùm, rắn rít nữa chớ. Mấy bà coi nè! Mới mấy tháng mà ghẻ đầy mình. Không có thuốc xức. Hái bậy mấy cái lá đắp lên cho đỡ ngứa". Chị vừa nói vừa xăn ống quần, tay áo lên cho mọi người coi ghẻ. Con Diều Hâu bây giờ ốm nhom như con cò ma. Nó đứng lủi thủi trước cửa nhà, mặt mày ngơ ngác. ... Năm tám mốt tôi cải tạo về, không nhà cửa, nên phải về lại Xóm Cồn, tá túc nhà cha mẹ một thời gian. Tôi gặp lại chị Tám. Chị tiếp tục bán phở như xưa. Hỏi thăm chị. Chị bảo: - "Ông vua cũng thua thằng liều". Anh Hai biết không? Tui liều mạng với tụi Ủy ban Phường. Tui nói muốn chém, muốn giết gì cứ việc. Nhất định tui không lên trển nữa. Tụi nó hăm dọa cho tui đi cải tạo. Tui chịu liền với điều kiện giao con Diều Hâu cho Phường nuôi. Tụi nó túng thế phải chịu cho tui ở lại chơ"ù. Rồi chị hạ giọng: - "Anh Hai mới ở tù về nên không biết! Bây giờ cái tụi làm ẩu hồi VC mới vô bị đuổi hết rồi. Hai cái thằng du kích bắt anh đó, con thằng Chống cụt giò, cái nhà xéo xéo trước mặt đó chớ ai! Anh bị bắt mấy tháng thì hai thằng con lão Chống bị công an bắt về tội hiếp dâm con gái người ta ngoài bờ biển rồi giết chết phi tang. Tòa án xử bắn thằng anh, thằng em ở tù chung thân. Quả báo nhãn tiền mà! Đáng đời, đáng kiếp quân chó má!" Chị Tám càng kể, càng hăng. Tôi thì mới thoát từ địa ngục ra nên hãy còn run sơ trước lũ đầu trâu, mặt ngựa chực chờ nên chỉ lắng tai nghe, không có ý kiến. Chị Tám mắng nhiếc một hồi rồi sực nhớ ra điều gì lại kể tiếp: - "Anh Hai còn nhớ cái đống nhà họ Ngô phía trước nhà anh không? Cái đống Ngô L..., Ngô C..., Ngô Thuẩn, Ngô Bánh, Ngô Bột đó. Đống đó có thằng chú là Ngô Bền đi tập kết mấy chục năm ở ngoãi, tưởng đâu chết tan thây rồi, ai ngờ lão lù lù xuất hiện dẫn theo con vợ Bắc kỳ môi vẫu, răng hô về". Chị Tám thấy tôi chăm chú nghe nên càng cao hứng, chị múc thêm nước xúp nóng cho tôi rồi nhắc: - "Anh Hai cứ ăn cho nóng! Để tui kể chuyện cái lão khốn nạn Ngô Bền cho anh nghe. Hồi lão mới về, đầu đội nón cối, chưn đi dép râu. Đi đâu cũng kè kè cái "bị dết" bằng vải ka ki Nam Định, chớ không được cái xắc cốt bằng nhựa đen Trung Quốc đâu. Lúc nào lão cũng nói: "Ơn Bác, ơn Đảng" ở cửa miệng giống như mấy bà xóm mình đi chùa nói mô Phật, mô Phật vậy. Xóm mình ai ai cũng ngán lão. Thấy lão láng cháng lại gần là người ta lánh xa. Lão vô nhà ai cũng tự tiện đi tuốt ra đằng sau, giở lu gạo ra coi rồi phê bình nhà này tư bản, nhà kia tiểu tư sản, phải cho đi cải tạo hết mới được. Nhà bác Hai ở bển cũng bị lão ra sau giở lu gạo ra coi. Lão còn nói nhà Bác Hai bữa nào cũng ăn cả ký lô thịt bò với lại bốn năm cái giò heo". Chị lại chép miệng chửi: - "Cái đồ khốn nạn! Ngu như con chó! Nó biết Bác Hai bán bún bò giò heo hằng ngày chớ đâu phải mua về ăn mà nó phê bình là tiểu tư sản bóc lột". Rồi chị toét miệng ra cười kể tiếp, lúc nào bắt đầu chị cũng lặp lại câu: "Anh Hai biết không?" - "Anh Hai biết không? Lúc đầu lão mới về, đống nhà họ Ngô, anh em thằng Thuẩn, thằng Bánh, thằng Bột xun xoe, hí hửng cái mặt hất lên trời, ra vẻ ta đây có người nhà làm cách mạng. Xí! Cách mạng gì cái thứ đó! Cách cái mạng thằng cha nó thì có!" Chị lại chửi thề một cách thoải mái. Chửi xong lại tiếp: - "Mới ngày đầu, anh em đống nhà Ngô đón tiếp ông chú rình rang, om xòm cho cả xóm biết, để ra oai với người trong làng. Chu cha! Tụi nó đãi đằng ông chú, bà thím dâu Bắc kỳ răng hô với đám con nít mất dạy nào gà, nào vịt, ăn uống phủ phê. Lão Bền còn được uống bia Con Cọp nữa chớ! Anh em thằng Thuẩn, Bánh, Bột hớn hở cái mặt thấy mà ghét. Tụi nó cứ bu theo lão Bền hỏi hết chuyện này đến chuyện nọ, như đi theo Bác Hồ ra sao, đến chuyện vượt Trường Sơn đánh Mỹ cứu nước ra sao theo cái kiểu mới học lóm được trong mấy bài hát Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây mà mấy cái loa ở Phường ngày nào cũng ra rã điếc con ráy". Đến đây, chị bỗng ngưng lại, cười hộc lên một tiếng thật to, có vẽ khoái chí điều gì sắp xãy ra bất ngờ. Chị nói: - "Anh Hai biết s | |||||