|
|

Nguyễn
Thanh
Ty


Kỳ 2:
T rường Sư Phạm và trường Kỹ Thuật Qui Nhơn được ngân
sách Mỹ tài trợ, xây cất rất qui mô và tân kỳ. Hai trường nằm gần nhau tại
Khu Sáu, sát bờ biển, khoảng giữa đường từ phố Gia Long đến Ghềnh Ráng,
nơi thi sĩ Hàn Mặc Tử an nghỉ giấc ngàn thu. Qua khỏi Ghềnh Ráng là làng
Qui Ḥa, làng dành riêng cho người mắc bệnh cùi. Ở đó có nhiều bà "xơ" hy
sinh một đời, tận tụy chăm sóc cho bệnh nhân.
L úc bấy giờ, 1962, thành phố Qui Nhơn hăy c̣n tiêu điều
xơ xác. Ngay con đường chính Gia Long, chạy dài từ Núi Một (Ga xe lửa) đến
bến cảng hăy c̣n nhiều ngôi nhà vô chủ, đổ nát hoang tàn trong chiến tranh
chưa có ai dọn dẹp. Đường Lê Lợi chạy từ trung tâm phố thẳng ra biển c̣n
rất nhiều nhà tranh, vách lá.
Vẽ lại một vài h́nh ảnh cũ để cho thấy chính phủ lúc ấy
có dụng ư khi cho xây cất hai ngôi trường đồ sộ tại đây. Mỗi năm hai
trường qui tụ hơn một ngàn giáo sinh và học sinh kỹ thuật khắp nơi đổ về.
Nền kinh tế tại đây đă nhanh chóng phục hồi.
Để quảng bá rộng răi cho nhiều nơi biết về trường Sư
Phạm, Ban Giám Đốc nhà trường cho thành lập một ban văn nghệ. Trịnh Công
Sơn được bầu làm trưởng ban, chịu trách nhiệm tổng quát. Thanh Hải, phó
ban thứ nhất, trách nhiệm về nhạc. Vơ Văn Pḥng, phó ban thứ hai, trách
nhiệm về kịch. Một vở kịch thơ dài 45 phút nhan đề " Tiếng
Cười Bao Tự" được dàn dựng. Tôi được
chọn để thổi sáo đệm thơ.
Nhân dịp này tôi mới biết và quen với Trịnh Công Sơn.
M ột chương tŕnh đại qui mô gồm đủ các tiết mục ca, múa,
nhạc, kịch được Ban Văn nghệ hoạch định. Thêm vào đó là một tổ phụ trách
ánh sáng. (Lúc đó rất hiện đại và tân kỳ. Dùng đèn chiếu slide làm hậu
cảnh thay đổi mỗi màn tŕnh diễn khác nhau. Dùng đèn quay, chớp chớp đổi
màu rất đẹp mắt).
Buổi tŕnh diễn được ra mắt đúng ngày
"Song Thất" năm đó, chứ
không phải ngày măn khóa như ông Đinh Cường nói.
T rong thời gian này, Trịnh Công Sơn sáng tác trường ca
"Tiếng Hát Dă Tràng"
hay gọi gọn hơn là "Dă
Tràng Ca" để làm tiết mục mở màn. Đây
là tiết mục công phu và đặc sắc nhất. Ban hợp xướng gồm năm mươi người gồm
nam lẫn nữ do Sơn thử giọng tất cả các mầm non văn nghệ và chọn lọc. Anh
đă khổ công tập ráo riết trong ba tháng trời, xen kẽ giữa những giờ học,
và đă thành công vượt mức trước sự ngạc nhiên đầy thích thú và khen ngợi
của quan khách và công chúng. Tiếng vỗ tay đă kéo dài rất lâu.
Rất tiếc, tôi không có chân trong ban hợp xướng, nên
không thuộc trường ca này. Chỉ nhớ lơm bơm vài câu, xin ghi lại cho vui.
Tiếng Hát Dă
Tràng hay Dă Tràng Ca.
(Tiếng vọng)
Dă tràng... Dă tràng... Dă tràng...
Dă tràng xe cát
biển Đông... Dă tràng xe cát hoài công...
(Tiếng trống
Bass dồn dập, thúc dục):
Trùng dương ơi...
Trùng dương ơi vỗ sóng vào bờ...
....(quên)...
Thôi... c̣n ǵ
nữa đâu... C̣n ǵ nữa đâu... Đời lên cơn đau! Xuân, Hạ, Thu, Đông bốn mùa
làm rét mướt... Tôi gọi tên tôi giữa nước non ngàn...
Tôi chỉ nhớ đại khái vậy. Hiện nay, tại thành phố
Lawrence, Mass, có anh Nguyễn Văn Tấn; Cali có chị Hồ Thị Nghị trước ở
trong ban hợp xướng, chắc c̣n nhớ. Bốn mươi năm đă qua rồi, c̣n ǵ!
C ũng trong thời gian học Sư Phạm, Sơn c̣n sáng tác thêm
những nhạc phẩm khác như "Biển
Nhớ", "Nh́n
Những Mùa Thu Đi", "Nắng
Thủy Tinh". Hầu như tất cả giáo sinh
đều biết và ngâm nga những bài này. Ngoài ra Sơn cũng sáng tác một vài bài
vui, ngắn để chúng tôi khi đi thực tập tại các trường dạy cho các em hát.
Tôi xin ghi lại đây một bài tượng trưng:
Ông Tiên vui
Ông Tiên vui,
Ông có cái râu
dài.
Đêm ông thường
ngủ yên trên đỉnh mây.
Ông Tiên vui,
Ông thường hay
nhắc đến.
Chốn thiên đ́nh
chẳng có tháng ngày vui.
Ông Tiên vui,
Ông có cái căn
nhà.
Trên ngọn đồi
hằng đêm Ông ghé qua.
Hôm em lên,
Ông chợt đi đâu
vắng!
Lúc em về, em
buồn đến ngẩn ngơ.
X in nhắc lại ở đây, Qui Nhơn lúc ấy c̣n nghèo lắm. Cả
thành phố có mỗi quán kem duy nhất, vừa bán kem, vừa bán cà phê, thuốc lá,
bia, trà. Đó là quán Phi Điệp, nằm trên đường Phan Bội Châu, đối diện với
hội trường Qui Nhơn, nơi đă tŕnh diễn văn nghệ.
M ỗi buổi chiều, chúng tôi, anh chị em nào có chút tiền
c̣m th́ kéo nhau vào quán, kêu b́nh trà, ngồi nhâm nhi nghe nhạc. Khá một
chút nữa th́ kêu một chai bia với tô ḅ viên gân, ngầu pín của ông Ba Tàu
đậu xe trước quán. Thế là sang lắm rồi. Anh chị nào "bô xu" th́ ra biển
ngồi ngắm trăng suông. Biển Qui Nhơn là biển bùn nên cát ở đó có màu vàng
xỉn trông dơ dáy, không trắng như cát biển Nha Trang. Dọc theo bờ biển là
một hàng dương, chạy dài từ khu quân sự đến bệnh viện Nguyễn Huệ. Trước
bệnh viện là xóm chài. Bờ biển không có một lều quán hay kiosque nào.
Ông Đinh Cường nói
cùng Trịnh Công Sơn và Bích Khê ra đó uống cà phê ngắm trăng là nói nhầm.
Ba Năm Tại Blao (Bảo Lộc, Lâm Đồng):
S au hai năm, măn khóa, chúng tôi tốt nghiệp ra trường.
Tôi và Trịnh Công Sơn cùng bốn giáo sinh khác là Lê Thị Ngọc Trinh (Huế),
Nguyễn Văn Sang, Trương Khắc Nhượng, Đỗ Thị Nghiên (Nha Trang) cùng được
bổ nhiệm chung một sự vụ lệnh, đáo nhậm nhiệm sở Ty Tiểu học Lâm Đồng. Sự
vụ lệnh mang số 961-GD/NV/38/SVL tạm thời tuyển bổ do Ông Nguyễn Hữu Quyến,
Xử Lư Thường Vụ Hiệu Trưởng Trường Sư Phạm kư ngày 14 tháng 8 năm 1964.
S au hai năm tập sự, chúng tôi được điều chỉnh tuyển
dụng bằng Nghị Định mang số 596-GD/NV/BC/QĐ do XLTV Đổng Lư Văn Pḥng, Phụ
Tá Chuyên Môn, Phạm Văn Thuật kư ngày 6/5/1966.
Đến năm 1967, chúng tôi mới được chính thức bổ dụng
bằng Nghị Định mang số 687/GD/NV/3B/NĐ kể từ ngày 01/9/1966 do T.U.N Ủy
Viên Giáo Dục Đổng Lư Văn pḥng Huỳnh Ngọc Anh kư ngày 7/4/ 1967.
Với chỉ số lương 320 cộng thêm phụ cấp đắc đỏ vùng cao
lúc bấy giờ, chúng tôi lănh được năm ngàn hai trăm đồng ($5.200) mỗi tháng,
tương đương với hai lạng rưỡi vàng Kim Thành. Vật giá lại rất rẻ. Tiền ăn,
ở mỗi tháng chỉ hết 600 đồng. Chai bia Con Cọp 3 đồng. Một dĩa thịt ḅ lúc
lắc bốn người ăn giá 7 đồng. Tô phở 3 đồng. Cà phê loại ngon, một ly/1
đồng. Cơm bữa với ba món, 6 đồng. Thời gian từ 1964 đến 1967, chúng tôi
sống sung sướng, tiêu pha rộng răi mà vẫn c̣n rủng rỉnh.
Tôi từ Nha Trang lên, theo đường Nha Trang - Đà Lạt -
Bảo Lộc. Trịnh Công Sơn, từ Huế bay vào Sài G̣n, rồi từ Sài G̣n đi xe đ̣
lên Bảo Lộc.
K hông hẹn mà gặp lại nhau trên bến xe vắng vẻ, thưa
thớt bóng người. Lâu lâu mới thấy dăm người Thượng lầm lũi nối đuôi nhau,
lặng lẽ rảo bước về một bản làng nào đó. Chúng tôi nh́n nhau, ḷng thầm
nghĩ: Trời ơi! Cái
thiên đường mà ḿnh tưởng tượng khi nắm trong tay tờ Sự Vụ Lệnh là đây sao?
B'lao-Bảo Lộc là đây sao? Một phố
quận vào chiều thứ sáu sao mà vắng lặng, buồn hiu hắt.
Chuyến xe cuối cùng đổ khách xuống đây rồi lẫn mất. Ai
cũng tản mác về nhà. Chỉ c̣n trơ lại Sơn và tôi, trơ trọi, cô độc. Trời
lại đang mưa lâm râm, lành lạnh. Hai chúng tôi, mỗi người một va li quần
áo nhẹ tênh. Lang thang t́m người hỏi đường đến Ty Tiểu Học Lâm Đồng. Lúc
bấy giờ, thị xă Đà Lạt thuộc tỉnh Tuyên Đức. Lâm Đồng là một tỉnh chỉ có
vỏn vẹn hai quận là Djiring (Di Linh) và B'lao (Bảo Lộc). Trước năm 1960,
Ṭa Hành Chánh đặt ở Di Linh. Sau dời về Bảo Lộc được mấy năm, trước khi
chúng tôi đến.
Khi chúng tôi t́m được đến Ty Tiểu Học th́ trời đă sụp
tối mặc dù chưa tới sáu giờ. Sương mù bốc lên từ mặt đất, bay là là dưới
chân. Ty chỉ cách bến xe non nửa cây số. May mắn, lúc ấy bác lao công đang
khóa cửa chuẩn bị ra về. Khi biết chúng tôi là giáo viên mới đổi đến, bác
ân cần mời chúng tôi theo bác.
- Mấy thầy cũng may! Bác nói: "Chút nữa là tôi về rồi.
Mai thứ bảy Ty nghỉ. Mấy thầy biết trọ nơi đâu. Đi theo tôi, tôi sẽ giới
thiệu hai thầy với mấy ông giáo cũng vừa mới đổi tới đây mấy hôm trước”.
C húng tôi theo chân Bác vào ngơ Tiên Dung (gọi là ngơ
Tiên Dung v́ đầu ngơ có tiệm chụp h́nh mang tên ấy). Đi sâu vào khoảng hai
trăm thước, con hẽm hẹp, trơn trợt v́ cơn mưa buổi chiều, xoai xoải lên
dốc dần. Bác dừng chân trước một căn nhà mái tole, vách ván. Trong nhà
vẳng ra tiếng cười nói vui nhộn của đám đông. Bác cai bước vào trước.
Tiếng huyên náo im bặt. Bác ra hiệu cho chúng tôi vào nhà.
T rong nhà chỉ có một chiếc giường gỗ khá rộng. Trên
giường bốn mạng đang nằm, ngồi lổn nhổn. Mọi người nh́n bác cai chờ đợi.
Bác đưa tay về chúng tôi rồi hướng về một anh lớn nhất trong đám giới
thiệu:
- Thầy Lăng à! Mấy thầy này mới đổi tới hồi chiều. Ty đóng cửa rồi, không
tŕnh diện được. Thầy giúp dùm cho mấy thầy ở tạm qua đêm được không? Nhà
tôi chật quá, không có chỗ ngủ.
Lăng tung chăn, ngồi dậy, giọng hơi cà lăm:
- Thế à! Được... được! Bác cứ về! Để... để tụi này thu xếp.
Sau khi bác cai quay lưng ra khỏi cửa, tôi với Sơn sực nhớ ra chưa nói lời
nào cám ơn sự giúp đỡ của bác, bèn vội nói vói theo:
- Cám ơn bác nghe!
Không thấy tiếng trả lời. Có lẽ bác đă đi khá xa. Chợt Lăng lên tiếng:
- Ối giời! Nhà bác ấy cũng gần ngay đây thôi! Sáng mai, thế nào bác ấy
cũng sang đây. Các anh vào đây đă. Sao cứ đứng măi thế. Để... để cái va li
vào góc này!
Chúng tôi theo lời anh đem hành lư đặt vào góc nhà. Thế
rồi cả bốn người bu quanh hỏi thăm rối rít.
- Sư Phạm Qui Nhơn hả?
- Vâng!
- À, có anh Sang cũng Sư Phạm Qui Nhơn đây, mới tŕnh diện hôm kia. C̣n
bọn này Sư Phạm Sài G̣n. Cũng lên trước mấy ngày thôi.
Tôi nh́n qua Sang. Cũng dân Nha Trang, nhưng tôi chưa
gặp mặt lần nào tại Qui Nhơn. Sang ốm và cao như cây tre miễu. Nước da đen
nhẽm. Mắt tṛn xoe, tṛng trắng nhiều hơn tṛng đen. C̣n hai người kia mới
thoạt nh́n cứ tưởng là hai anh em. Cả hai đều tṛn lẵn, chắc nịch. Da mặt
hồng hào, bóng lưỡng. Một anh tên là Nguyễn Đức Hinh, năy giờ chỉ đứng
nh́n chúng tôi cười cười, không nói ǵ, nét mặt lộ vẽ thân thiện. C̣n anh
kia là Đỗ Danh Đạo, người hoạt bát, nói năng vui vẻ. Anh giới thiệu với
chúng tôi người này, người nọ bằng một giọng đặc biệt Bắc pha Sài G̣n nghe
rất tếu:
- Ông này là Nguyễn Tiến Lăng, -anh chỉ tay về phía đầu giường, Lăng đang
quấn mền, ngồi dựa lưng vào vách.- Lăng là thổ địa kỳ cựu sáu năm ở đây,
có biệt danh là ông Trùm. Đang dạy tại trường Nam Bảo Lộc.

Từ trái sang phải: Nguyễn
Văn Ba, Nguyễn Thanh Ty (Tác giả viết bài này), Đỗ
Danh Đạo, và Trịnh Công Sơn.
Ảnh chụp tại nhà bà Phi - chủ
nhà cho thuê - năm 1964.
C ó lẽ đoán được sự thắc mắc của chúng tôi qua nét mặt
ngơ ngác, Đạo giải thích:
- Sở dĩ ông Lăng lên tới chức Ông Trùm là v́ ông ở đây lâu, thổ nhưỡng Lâm
Đồng tặng cho ông bệnh sốt rét kinh niên. Cứ tới năm giờ chiều là ông phải
trùm mền, xoa dầu Nhị Thiên Đường. Ngày nắng hay ngày mưa cũng đều đặn.
Mọi người cười rộ lên qua lời tếu của Đạo. Quay qua cặp
mập và ốm ngồi cạnh nhau, Đạo tiếp:
- C̣n hai ông này là Sang và Hinh, đang làm vua một cơi tại Lạc An, cách
đây bảy cây số. Một tuần về phố một lần để du hí. Tạm trú tại "am" của em
và bác Lăng.
Không khí dần dần cởi mở, thân mật. Chúng tôi thấy ấm
ḷng và quên ngay nỗi buồn nặng nề buổi chiều, mới cách đây có hai tiếng
đồng hồ. Chợt Hinh lên tiếng:
- Này ông, ông giới thiệu người khác lung tung, sao ông không nói ǵ về
ông hết?
Đạo đỏ mặt rần lên, phất tay lia lịa:
- Thôi tha cho nhà em, nhà em đâu có ǵ để mà nói!
Nhưng Hinh đâu có chịu tha:
- Hai anh nè! Hắn là Đỗ Danh Đạo, tự là Đạo Sữa. Hôm mẹ hắn dẫn hắn lên
đây giao cho bác Lăng trông nom, có dặn ḍ bác Lăng nhắc chừng hắn uống
đều đặn mỗi ngày ba lần sữa, sữa Guigoze chính hiệu bà Lang Trọc đấy.
Nói xong, anh chỉ cho chúng tôi thấy hai thùng sữa tổ
bố nằm dưới gầm bàn.
T hoáng chốc, chúng tôi thấy gần gũi và thân t́nh như đă
quen nhau tự bao giờ. Mọi người dục chúng tôi đi tắm rửa rồi dẫn đi ăn tối.
Đi ngược lại hẽm Tiên Dung. Phía bên kia đường là quán ăn Ngọc Hương, nằm
bên phải đầu cầu. Buổi chiều, lầm lũi theo bác cai nên chúng tôi không để
ư. Cầu có tên là Cầu Đất, v́ bên dưới không có sông hay suối ǵ cả. Người
ta dùng xe ủi, ủi đất lấp đầy một quăng, nối liền hai trái đồi, thành một
lối đi, hai bên có thành che chắn cho khỏi ngă xuống hố, trông giống như
cây cầu. Sương buổi tối đă dâng lên dầy đặc. Cả phố Bảo Lộc thắp thoáng ẩn
hiện trong sương giống như cảnh tiên bồng trong xi nê. Quán ăn Ngọc Hương
lập ḷe ánh điện, văng vẳng tiếng nhạc phát ra, nghe như lúc gần lúc xa.
C̣n nhớ h́nh như bản "Những
Bước Chân Âm Thầm". V́ lời ca, tiếng
nhạc với cái khung cảnh lúc bấy giờ nó ḥa nhập vào ḷng người lần đầu
tiên đặt chân lên miền cao nguyên, sơn cước... Trước mắt tôi, một cảnh trí
hoàn toàn lạ lẫm, đầy huyền ăo và thơ mộng mà từ thuở nhỏ đến giờ, sống ở
miền gió biển, cát trắng, sóng vỗ quanh năm, tôi chưa từng được thấy. Có
chăng cũng chỉ là tưởng tượng ra những h́nh ảnh mơ hồ qua bản nhạc "Ai
Lên Xứ Hoa Đào" của nhạc sĩ Hoàng
Nguyên mà thôi.
N hững h́nh ảnh buổi chiều đứng co ro nơi bến xe vắng
ngắt bóng người, nó ảm đạm thê lương bao nhiêu, bây giờ trở thành thơ mộng,
lăng mạn bấy nhiêu. Nào con đường đất đỏ quanh co lẫn khuất dần trong ngơ
vắng. Nào sương mù là là bay từng đám dưới chân. Nào những con đường lên
dốc, xuống dốc khiến những mái nhà trồi lên, hụp xuống theo, y như những
con thuyền tṛng trành lượn theo giợn sóng xa xa ngoài biển.
Đ ang đói suốt một ngày đi đường, tôi và Sơn, vèo một
cái, mỗi người đă ăn hết một dĩa cơm sườn nướng một cách ngon lành. Trong
lúc mọi người đang nhâm nhi cà phê, nghe nhạc. Họ đă ăn từ chiều. Chúng
tôi tiếp tục uống cà phê và tṛ chuyện. Sơn ít nói, chỉ ngồi nghe. Thỉnh
thoảng góp vài câu gọi là. Có lẽ lần đầu c̣n giữ kẽ chăng? Ba anh: Lăng,
Hinh, Đạo chốc chốc lại ngó chăm chăm vào Sơn, nửa như ṭ ṃ, nửa như quan
sát. Phải chăng cái phong thái nghệ sĩ của Sơn đă gây cho người ta cái ấn
tượng đầu tiên? Đối với tôi hay Sang, cái h́nh ảnh Trịnh Công Sơn, với một
khuôn mặt ngăm đen, đôi mắt nhỏ mơ màng sau cặp kính cận khổ lớn, gọng đồi
mồi che gần hết nửa khuôn mặt, trong hai năm học tại Qui Nhơn đă quá quen
thuộc. Nhưng giờ đây, với những người bạn mới, chân chỉ hạt bột, mới rời
ghế nhà trường, lần đầu tiên bước chân ra ngoài xă hội th́ h́nh ảnh một
ngươi nghệ sĩ như Sơn tự nhiên với mái tóc thưa, hơi dài, cái trán hói cao,
đôi kính cận to quá khổ, hàng ria mép lưa thưa, vừa như râu, vừa như lông,
mănh và mịn khiến người ta thấy lạ nhưng ưa nh́n và có cảm t́nh ngay.
G ần chín giờ, mọi người dục về. Tôi và Sơn muốn nán lại
chút nữa để được hưởng thêm cái hương vị ngọt ngào, đậm đà kỷ niệm của
ngày đầu tiên đặt chân lên xứ Thượng. Nhưng anh Lăng cho biết, đúng chín
giờ là nhà máy điện sẽ cúp.
Đ êm đó, chúng tôi
trải chiếu, chăn xuống thềm nhà, năm người bạn trẻ, trừ anh Lăng nằm trên
giường, tuổi sàng sàng từ hai bốn đến hai sáu, cùng nhau trao đổi những
chuyện quê hương đi dần từ Sài G̣n ra đến Huế rồi thiếp vào giấc ngủ. Lúc
bừng mắt dậy đă chín giờ sáng.
(Đón đọc kỳ
3)


Nguyễn
Thanh
Ty
Tác phẩm đă được in thành
sách năm 2004, bán với giá 17 đô-la Mỹ một cuốn kể luôn cước phí.
Xin liên lạc với tác giả tại :
Nguyễn Thanh Ty
69
Edwin St.
N.
Quincy, MA. 02171
- USA
Phone:
(617) 328- 9833
|