|
|

Nguyễn
Thanh
Ty


Kỳ 4:
Ngày
Lănh
Lương
Đầu
Đời:
M ới ngày
nào vừa tŕnh diện để nhận nhiệm sở, thoáng cái đă đến cuối tháng lănh
lương. Ngày lănh lương đầu tiên trong đời, chúng tôi ai nấy đều háo hức
đến Ty thật sớm để được kư tên vào sổ lương. Tôi kư tên và nghĩ đến một
món tiền lớn do chính tay ḿnh làm ra. Món tiền mà từ xưa tới nay, tôi
chưa hề được cầm trong tay. Hai năm trọ học ở Qui Nhơn, cha mẹ tôi phải
khó nhọc lắm mới chắt chiu được sáu trăm đồng hàng tháng gửi cho tôi chi
tiêu. Có tháng chậm tới ngày thứ mười mà tôi vẫn không dám viết thư dục v́
tôi hiểu rơ hoàn cảnh của tôi:
Con nhà nghèo.
Trong khi chúng tôi nôn nao chờ đợi được gọi tên vào
pḥng kế toán để lănh tiền th́ anh Thành, phát ngân viên, cứ đủng đỉnh hút
thuốc lào. Tiếng kêu rít rít của cái nỏ cầy càng thêm sốt ruột. Lại thêm
mấy ngụm trà Tàu khề khà nữa chứ.
Tiếng Nguyễn Đức Tín, giáo viên trường Cộng Đồng Thượng,
một tay lâu năm trong nghề, rất hoạt kê và lém lỉnh vang lên:
- Bố Thành ơi! Ra tay làm phúc cho chúng em nhờ tí! Cả tháng nay chưa có
hột cơm nào trong bụng cả. Hôm nay em về trễ, có mà vào nhà bằng đít.
G iai thoại về anh
chàng Tín này rất nhiều. Chuyện nào cũng cười vỡ bụng. Có dịp sẽ kể. Khi
mọi người đă cầm trong tay cái phong b́ dày cộm có ghi tên ḿnh, Tín tḥng
thêm một câu chót trước khi ra khỏi cửa Ty:
- Này bố Thành! Em bảo nhé! Cứ thuốc lào nhiều vào! Hai cái má hóp như hai
cái hố ấy. Người cứ quắt như cái tăm, bà Thành không cho tí chút th́ đừng
bảo Tín này không nói trước nhá!
Nói xong, Tín cười hềnh hệch. Ra khỏi Ty, Sơn sải chân
đi thật lẹ. Sơn cao, chân dài. Tôi thấp, chân ngắn, nên phải nhảy ba bước
một mới kịp. Vừa thở, vừa kêu:
- Ông Sơn! Về nhà chớ đi đâu mà ông đi như ma đuổi vậy! Từ từ chờ tôi với
chứ!

Dự đám cưới vợ
chồng Nhượng và Cúc
Từ trái sang phải:
Trịnh Công Sơn, Nguyễn Văn Ba, Đỗ Thị Nghiên, Cô Đào, Cúc Và Nhượng, Đỗ
Danh Đạo, Nguyễn Đức Tín, Nguyễn Thanh Ty (Tác giả viết bài này)
Ảnh chụp năm 1964
S ơn không đáp cứ
cắm đầu đi thẳng. Vừa vào pḥng, Sơn khóa trái cửa lại. Tôi ngạc nhiên chờ
xem anh chàng làm cái ǵ đây. Sơn để nguyên quần áo, giày vớ, nằm vật ngửa
ra đi văng, tay rút trong túi quần ra cái pḥng b́ tiền lương lúc năy, xé
phong b́, nắm hết xấp tiền 5.200 đồng, gồm giấy năm đồng, mười đồng, năm
chục đồng tung lên trên trần nhà. Giấy bạc mới tinh, phát ngân viên Thành
vừa lănh từ Kho bạc ra, rơi lả tả xuống người Sơn, rơi xuống đi-văng. Sơn
hốt lên, tung trở lại. Sơn cười sằng sặc. Sơn cười ha hả. Tiếng cười nghe
là lạ. Nó pha lẫn niềm vui và nỗi phẫn hận. Rồi Sơn chửi thề:
- Đù mạ mi! Đù mạ mi! Tiền! Tiền!
Đ ó là lần
đầu tiên tôi nghe Sơn chửi thề. Và cũng là lần duy nhất suốt ba năm sống
chung với nhau.
Tôi để mặc Sơn được tự do trong những giây phút ấy. Tôi
không muốn gây một tiếng động nào để quấy rầy Sơn đang đắm ch́m trong thế
giới riêng của ḿnh.
Tôi yên lặng đếm tiền của ḿnh một cách chậm răi. Từng
tờ, từng tờ. Tôi để cho mười đầu ngón tay của ḿnh cảm nhận hoàn toàn cái
cảm giác đê mê, sung sướng đang run lên từng chập với những tiếng kêu sột
soạt của những tờ bạc mới tinh nguyên chạm vào nhau. Cái âm thanh nghe sao
mà hấp dẫn. Cái mùi giấy bạc mới sao mà quyến rũ thế! Đầu tôi phác họa ra
một chương tŕnh mau lẹ:
Hăy trích ra ba ngàn đồng,
ra ngay Bưu điện mua một cái "măng đa" gửi liền về cho Má để Má mừng. Chắc
Má sẽ vui lắm khi nhận được tiền do thằng con gửi về. Thằng con do bà nuôi
nấng, chắt chiu, dành dụm từng đồng, từng cắc của gánh hàng đè nặng lên
vai bà ngày ngày, cho con ăn học. Hôm
nay có lẽ bà sẽ sung sướng và hănh diện âm thầm, không tỏ lộ cùng ai:
Con bà đă trở thành
ông giáo!
C hiều hôm
đó tất cả chúng tôi không ăn cơm nhà. Phải tự khao cho ḿnh một chầu linh
đ́nh mới được. Tại nhà hàng Ngọc Hương (bây giờ ông bà chủ quen mặt chúng
tôi quá rồi) có mặt đông đủ các ông giáo trẻ vừa mới có được một thành
tích: Một tháng công vụ; Chúng tôi uống bia. Tín gọi nhà hàng ơi ới:
- Này ông bà chủ! Cho một két bia "ông Tây Cà lồ" nhé! Bia thật lạnh đấy!
Bia "ông Tây Cà lồ" mà Tín
gọi là bia Con Cọp, loại chai lớn. Tín có những từ ngữ thật đặc biệt để
gọi các vật hay những việc nghe rất buồn cười. Có lần anh ta mời Sơn và
tôi đến nhà chơi. Anh ta nói oang oang giữa đám đông đang bù khú:
- Này! Xin thưa với các cụ! Hôm nay em xin phép các cụ cho em "rước" hai
ông anh này đến "am" em chơi, làm mấy "ve". Xin các cụ đừng "à uôm" ǵ cả
nhớ!
Đ êm đó chúng tôi
ăn uống tưng bừng. Cười nói hả hê. Chín giờ, điện cúp. Chúng tôi ra về, bá
vai nhau đi khệnh khạng, xiên xẹo giữa phố vắng, dày đặc sương mù. Đến
cuối dốc cầu, xếp hàng ngang, vạch quần, vừa đi, vừa tè, vẽ thành rồng rắn,
loang lỗ trên mặt đường nhựa.
Ôi một thời tuổi trẻ vô tư, hồn nhiên!
Một Thầy, Một Cô, Một Con Chó Cái!
T ôi không h́nh
dung được lúc ông Cao Bá Quát làm giáo thụ ở Quốc Oai cái cảnh nó ra làm
sao, mà ông tả oán bằng những câu thê thảm:
Một thầy, một cô, một chó cái,
Học tṛ dăm đứa, nửa người,
nửa ngợm, nửa đười ươi!
Nhưng cái cảnh ông trưởng giáo Sơn ngồi dạy học ở ngôi
trường Sơ cấp Thượng th́ thật bi hài. Mỗi buổi sáng, cái hoạt cảnh ông đi
dạy đă là buồn cười rồi. Tôi và Sơn có điểm giống nhau là không thích đeo
đồng hồ. Tôi dạy buổi chiều nên tha hồ nằm nướng trên giường. Sơn dạy buổi
sáng, phải dạy sớm lúc bảy giờ để đến trường. Những ngày có mặt trời th́
nh́n bóng nắng, độ giờ mà đi.
N hững ngày
sương mù hay mưa dầm th́ lắng nghe tiếng kèn đồng chào cờ của một đồn lính
nào đó, rất xa vọng lại văng vẵng. Te te... ṭ tí te... ṭ tí te... là Sơn
xỏ vội chiếc áo sơ mi ka ki vàng cụt tay, (Chiếc áo này tôi thấy từ lúc
c̣n ở trường Sư phạm) đôi giầy Ba-Ta màu nâu. Nách kẹp cuốn vở soạn bài
cuộn tṛn, miệng ngậm ống vố, chân sải bương bă đến trường. Trường không
xa lắm. Cách nhà non nửa cây số. Sơn lội bộ hàng ngày trên con đường đất
đỏ, càng lúc càng lên dốc. Ngày nắng th́ bụi đỏ mù trời. Ngày mưa đất nhăo,
nhèm nhẹp. Đi một lúc th́ phải t́m một khúc cây hay ḥn đá bên đường để
gạt bớt lớp đất nhăo dính vào đế giày càng lúc càng nặng.
(Quảng đường này ông Trịnh
Cung tưởng tượng ra dài đến mấy cây số, Sơn phải g̣ lưng đạp xe đạp đến
trường).
C ó
hôm, Sơn ngồi chờ măi vẫn không nghe thấy tiếng kèn đồng giục giă ṭ te,
tí te, cứ ôm đàn t́m nốt nhạc. Đến khi sương tan, mặt trời ló ra th́ đă
trưa rồi. Ba chân bốn cẳng, Sơn phóng như ngựa phi đến trường. Nửa giờ sau,
thấy anh ta đủng đỉnh ra về. Tôi hỏi:
- Ủa! Không dạy
à?
- Học tṛ đâu
mà dạy? Sơn trả lời tỉnh khô. Tôi vẫn chưa hết thắc mắc:
- Vậy th́ chúng
nó không đi học à?
- Không biết!
Nhưng có lẽ chúng nó thấy không có thầy nên tự động ra về. Tôi đoán vậy.
- Nè ông Sơn!
Trường ông sát nách Ty. Coi chừng Thanh tra Lương đi kiểm soát bất tử th́
chết không kịp ngáp đó nghe! Tôi nhắc chừng. Sơn vẫn nói cứng:
- A! Tôi đâu có
cho phép. Chúng nó tự động về là lỗi của chúng. Đâu phải lỗi tại tôi.
Đến nước này th́ tôi chào thua, hết căi.
M ột hôm,
tôi bỗng nảy ư định đến xem ngôi trường của ông trưởng giáo Sơn nó ra làm
sao.
L eo hết con dốc
ngắn, ngôi trường hiện ra trên một khoảng đất trống. Xung quanh trơ trọi,
không một cây cối ǵ cả. Trường được ngăn đôi thành hai lớp học. Mái tranh,
vách đất, không cửa nẻo. Trong lớp một bàn vuông cho Thầy, sáu bộ bàn ghế
dài cho tṛ. Trên vách treo một tấm bảng đen đă bạc thếch chính giữa. Chắc
trải nhiều năm tháng không ai buồn sơn lại. Bụi đỏ bám khắp nơi. Từ vách
đến bàn ghế thầy lẫn tṛ. Tôi đến đó khoảng mười giờ. Học tṛ hầu hết là
các em bé người Thượng. Chỉ xen lẫn vài em người Kinh. Có lẽ là con em của
những gia đ́nh lính đóng đồn gần đó. Tất cả đều bẩn thỉu. Có đứa ở trần,
đánh độc một chiếc quần xà lơn. Có đứa cũng đủ bộ. Nhưng màu đất đỏ đă
nhuộm từ ống quần trở lên, lâu ngày không c̣n nhận ra màu ǵ nữa.
C ó lẽ là giờ ra
chơi. Thầy Sơn đang ngồi tư lự. Miệng ngậm ống vố, mắt nh́n lơ đăng về
cánh rừng xa xa. Mặc cho đám học tṛ nhỏ làm ǵ th́ làm. Một túm đang g̣
lưng trên bàn, méo mồm, méo miệng nắn nót viết bài. Một tụm đang ḅ lê bắn
bi dưới đất. Cuối lớp có vài đứa đang dựa lưng vào vách, há mồm ngủ.
T hấy
tôi vào, Sơn cười méo miệng:
- Tới đây chi
cha?
- Tới coi ông
trưởng giáo làm ăn ra sao cho biết! Tôi cười cười.
- C̣n ông già
Thống đâu?
- Ông Thống dạy
buổi chiều.
- Trường có mấy
lớp anh Sơn?
- Ba. Tôi dạy
lớp ba. Ông Thống lớp một và hai.
- Học sinh đông
không?
- Th́ ông thấy
đó. Bữa nào không đi hái trà th́ được hai chục. Bữa nào cha mẹ nó cần thêm
nhân công th́ lớp mươi, mười lăm đứa.
N hững đứa học tṛ
thấy người lạ th́ trố mắt nh́n. Sơn gơ gơ cây thước lên bàn làm hiệu. Đám
học tṛ ngưng hẳn cuộc chơi, chờ lệnh thầy. Sơn nói:
- Hôm nay thầy có khách. Cho các em về sớm.
Đ ám trẻ con
hớn hở ra mặt, vội thu sách vở, ùa ra cửa. Trong giây lát, tất cả trở về
trong yên lặng. Sơn ngồi trầm ngâm, nán lại thêm một chút nữa, đăo mắt
nh́n quanh một ṿng, rồi tặc lưỡi đứng lên. Hai chúng tôi yên lặng xuống
đồi. Trong thâm tâm, có lẽ mỗi người đang theo đuổi những ư nghĩ khác nhau.
Sơn nghĩ ǵ? Tôi không biết. Riêng tôi th́ nghĩ: May cho ông thi sĩ họ Cao
ngày xưa. Ngồi dạy học ở nơi khỉ ho c̣ gáy, c̣n có một cô, một chó cái an
ủi. Ngày nay ông nhạc sĩ họ Trịnh cũng ngồi dạy học ở một nơi y như vậy mà
không có ǵ bầu bạn, ngoài một nỗi buồn cô quạnh!
Trên đường về, tôi gợi ư với Sơn, nên nhập hai buổi
thành một, để có thêm ông già Thống cho vui. Sơn cho là ư hay.
Chiều nay tôi phải bàn với ông Thống mới được.
Ông Già Thống: Con
Ngựa Già Của Trưởng Giáo Trịnh.
S au khoảng
vài tháng đầu niên khóa 64-65, ông Trương Cảnh Ngôn về hưu. Ông Lê Cao Lợi,
một vị thanh tra kỳ cựu, có tu nghiệp ở Mỹ một thời gian, được Bộ đề cử
chức Ty Trưởng thay ông Ngôn. Thời gian này là thời kỳ vàng son của Trịnh
Công Sơn. Ông Lợi, người trung niên, có tâm hồn văn nghệ, thích thơ, nhạc,
nên đối với một nghệ sĩ như Sơn, Ông dành cho nhiều dễ dăi. Đôi lúc nhắm
mắt làm ngơ cho Sơn dùng th́ giờ dạy học làm việc riêng của ḿnh. Điều này
đă khiến cho một vài giáo viên già, lâu năm trong nghề, so b́.
K hi chúng tôi đặt
chân lên Bảo Lộc, trời đă vào thu. Những tháng đầu c̣n lạ nước, lạ cái,
không biết đi đâu, làm ǵ cho hết th́ giờ. V́ chỉ dạy có một buổi, chúng
tôi có suốt những buổi chiều lang thang. Cứ hết "những bước chân âm thầm"
trong khuôn viên trường Nông Lâm Súc, im ĺm vắng vẽ với những tàn cây sao,
cây gơ, cây gụ... cao vút tận trời xanh, lại đến đoạn đường Quốc Lộ chạy
xuyên qua con phố Bảo Lộc lèo tèo vài quán ăn dọc đường ngắn củn. Chúng
tôi lại đi ṿng ṿng bờ hồ cho đến khi chiều xuống hẳn. Sương mù bắt đầu
xuất hiện trên mặt hồ. Ban đầu mỏng rồi đầy dần, đầy dần cho đến lúc che
khuất hẳn một cḥm cây giữa hồ. Chỉ c̣n thấy một thân cây chết khô với
những cành khẳng khiu vươn lên trơ trọi giữa trời mây. Đến lúc đó, ai cũng
cảm thấy mỏi chân. Và muốn vào quán ngồi nhâm nhi cà phê hoặc làm vài chai
bia, nghe nhạc, chờ tối để về nhà t́m giấc ngủ. Trong cái không gian và
thời gian đó, Trịnh Công Sơn đă cảm hứng sáng tác nhạc phẩm "Chiều
Một Ḿnh Qua Phố".
M ột điều đặc biệt
rất lạ là suốt thời gian ba năm làm nhạc tại Bảo Lộc, những nhạc phẩm "Chiều
Một Ḿnh Qua Phố", "Lời
Buồn Thánh", "Vết
Lăn Trầm", "Tiếng
Hát Dạ Lan" và tập "Ca
Khúc Da Vàng" Sơn đều đi mượn đàn
của bạn. Mặc dù đă có tiền nặng túi, Sơn vẫn không có nổi cây đàn. Hay Sơn
không muốn mua? Cây đàn đă giúp Sơn ghi lại những nốt nhạc mà Sơn thai
nghén trong lúc đi dạy hoặc lang thang với chúng tôi ban ngày. Tối về
chúng tôi say trong giấc ngủ th́ Sơn say sưa ôm đàn ḍ lại những âm thanh
chập chờn ẩn hiện trong đầu.
Đó là cây đàn ghi ta
của cô giáo Đỗ Thị Nghiên.
S au những đêm như
thế, Sơn phờ phạc hẳn. Sáng ra, giỏ rác đầy tràn những giấy nháp. Sơn chép
vội những ḍng nhạc vừa xuất hiện trong đầu rồi chợt biến. Vo tṛn, ném,
lại ḍ t́m. Sơn sợ làm ồn giấc ngủ của tôi, nên phải chận phím để tạo
những âm thanh câm.
N hư trên đă nói,
trước đó, Sơn đă có nhiều nhạc phẩm hay nhưng chỉ chuyền tay nhau hát
trong chốn bạn bè. Có lẽ không có điều kiện hay v́ lư do nào đó, Sơn không
thể xuất bản để phổ biến rộng răi. Cho đến khi ở tại Bảo Lộc, sau khi hoàn
chỉnh nhạc phẩm "Chiều Một Ḿnh Qua Phố", Sơn quyết định mang đứa con của
ḿnh về Sài G̣n, t́m nhà xuất bản.
S ơn ở rịt tại Sài
G̣n gần ba tuần lễ.
Ông giáo già Tạ
Văn Thống chạy chiếc xe gắn máy hiệu Sach, cũ kỹ, già nua không thua ǵ
tuổi đời của ông, đến chỗ chúng tôi trọ, t́m thầy Sơn.
- Thầy ơi! Thầy
có biết thầy Sơn ở đâu không? Ông hỏi tôi.
Ông ấy về Sài
G̣n rồi! Ông ta không nói ǵ với ông sao? Tôi đáp. Ông Thống không trả lời
tôi, chỉ ôm đầu rền rĩ.
- Ối giời ôi!
Tôi chết mất! Thế này th́ tôi chết mất! Một ḿnh tôi phải ôm ba lớp suốt
ba tuần nay.
Ông lại hỏi tôi:
- Thầy có biết
lúc nào ông ấy về không?
- Không! Không
thể nào biết được bác Thống ạ!
- Thế th́ tôi
chết mất!
Ô ng vừa chào tôi,
vừa rền rĩ, thất thểu dắt xe ra ngơ. Tôi nh́n theo, ái ngại cho tuổi già
của ông. Vài năm nữa là về hưu, nên ông cố gắng đeo cái nghề này trong
chốn đèo heo, hút gió để mong được chút tiền hưu, an hưởng tuổi già. T́nh
trạng này sẽ c̣n tái diễn dài dài. Và ông vẫn sẽ phải ôm ba lớp mà ca cẩm,
rên rĩ như mọi bận. Chúng tôi gọi đùa sau lưng ông là "Con
Ngựa Già Của Trưởng Giáo Trịnh". Nhại
lại nhan đề một truyện ngắn.
(Đón đọc tiếp kỳ
5)


Nguyễn
Thanh
Ty
Tác phẩm đă được in thành
sách năm 2004, bán với giá 17 đô-la Mỹ một cuốn kể luôn cước phí. Xin
liên lạc với tác giả tại :
Nguyễn Thanh
Ty
69
Edwin St.
N.
Quincy, MA. 02171
- USA
Phone:
(617) 328- 9833
|