|
|

Nguyễn
Thanh
Ty


Kỳ 9:
V ẫn
Ông Già Thống:
N ếu cứ trưa thứ
sáu Sơn "dọt", sáng thứ hai về th́ cuộc đời rất phẳng lặng không có ǵ để
nói. Đằng này Sơn không có thói quen đều đặn về giờ giấc. Thời gian của
Sơn chậm lại, có khi trễ từ 24 tiếng đến 48 tiếng đồng hồ mỗi tuần là
thường. Cứ mỗi lần trễ như vậy, tôi lại nghe tiếng xe gắn máy cũ kỹ của
ông già Thống chạy xành xạch vô ngơ. Những bận như thế, sau khi ca cẩm,
than thở một lúc, ông lại nhờ tôi nói hộ với thầy Sơn, đừng đi lâu quá,
khổ cho thân già ông. Có lần tôi phát cáu, gắt lại ông:
- Bác Thống này! Bác nhờ tôi nói hộ. Tôi đă nói với ông Sơn y như lời bác.
Cớ sao khi gặp ông Sơn bác lại bảo không có ǵ, chuyện nhỏ mà! Thầy có
công việc cứ đi, để lớp tôi trông cho. Ông Sơn lại cự nự tôi cho tôi đặt
chuyện.
Đ ang lúc bực, tôi
tuôn một hơi dài. Nhưng khi nh́n cái miệng méo xệch bị trúng phong từ lâu
thành tật của ông cố phân bua:
- Thầy nghĩ xem! Ông ấy là "sếp" của tôi mà! Khó cho tôi nói quá!
L ̣ng tôi lại chùng
xuống, bất nhẫn với ḿnh, và cảm thông cho ông.
D ạo gần nghỉ hè
niên khóa 1965, Sơn ở luôn trên Đà Lạt hơn một tháng. Ông Thống kham hết
nổi. Con ngựa già "đă mỏi vó
trên đồi quê hương" buộc ḷng ông phải đến Ty báo cáo sự vắng mặt
cuả ông sếp ḿnh. Ông Lê Cao Lợi phải điện một công văn khẩn nhờ đài phát
thanh Đà Lạt thông báo cho Sơn về nhiệm sở gấp. Hạn cho một tuần, kể từ
ngày loan báo, nếu không tŕnh diện coi như đào nhiệm.
H ôm
sau đă thấy Sơn ḷ ḍ về tŕnh diện. Chắc chắn kỳ này Sơn sẽ lănh cái búa
tạ của ông Lợi giáng xuống do hai vụ cộng lại. Vụ trước làm ông mất mặt
với ṭa Tỉnh. Nặng kư th́ thuyên chuyển vô trong núi xa như Tân Rai hay
Tân Lú tha hồ nghe chim kêu vượn hú. Nhẹ th́ chế tài hành chánh, ngưng
thăng trật một năm. Nhẹ nữa th́ thư khiển trách lưu hồ sơ. Nhưng ông Lợi
chỉ khiển trách sơ sơ rồi bỏ qua, chỉ bằng miệng chớ không ghi hồ sơ cá
nhân.
K hi nghe tin
Trưởng giáo về, ông Thống vội đến ngay để "thăm" ông sếp của ḿnh. Cố tạo
một khuôn mặt thật tươi, ông Thống cười nói, hỏi thăm rất sốt sắng, nhiệt
t́nh. Sơn tỏ vẻ biết lỗi nên nhỏ nhẹ:
- Chắc trong thời gian tôi vắng mặt khá lâu, bác vất vả lắm phải không?
T ôi nh́n ông Thống
chờ xem phản ứng của ông. Nhưng tôi nhầm. Ông Thống vần cười nói thản
nhiên:
- Ối giời! Tôi th́
tôi lo cho thầy đi đường có bất trắc ǵ không, bởi thầy đi lâu quá. Chứ
cái đám học tṛ th́ có ǵ mà mệt. Thầy đừng có quan tâm. Tôi đă từng mấy
chục năm giời trong nghề này rồi. Như ăn cơm bữa ấy mà!
T ôi
trố mắt nh́n ông, kinh ngạc. Th́ mới hôm qua, ông đến đây, ṿ đầu bứt tai
than văn làm như sắp chết đến nơi. Ông cứ rền rĩ cái điệp khúc quen thuộc:
- Ối giời ơi! Tôi chết mất! Tôi chết mất! Thế mà bây giờ lại hoàn toàn
trái ngược, coi như chuyện hôm qua, chuyện bữa trước, chuyện tháng trước
ông nói với tôi không có ǵ xảy ra hết. Sơn lại ḍ dẫm:
- Này bác Thống! Bây giờ tôi c̣n nhiều việc phải làm trên Đà Lạt, vài hôm
nữa, nếu tôi về không kịp, bác trông hộ lớp cho tôi nhé!
- Vâng! Vâng!
Thầy cứ đi. Thầy cứ lo cho xong công việc của thầy. Thầy cứ để mặc đấy cho
tôi. Mấy cái đứa học tṛ ranh ấy mà. Chả có ǵ phải lo sốt.
Ông Thống sốt
sắng đáp. Sơn kín đáo quay sang tôi, nháy mắt. Thế là xong. Ông Thống lại
vào tṛng. Sơn tiễn khách:
- Thôi bác về
nghỉ nhé. Cám ơn bác đă đến thăm.
Ông Thống cầm
nón đứng lên toan ra cửa, nhưng làm như sực nhớ ra điều ǵ. Ông lục cặp,
lôi ra một xấp giấy tờ, lật qua, lật lại vài trang rồi đưa cho Sơn và nói:
- A! c̣n cái
này nữa chứ, xuưt nữa là tôi quên khuấy mất. May quá lại nhớ. Nhờ thầy xem
qua một tị.
Sơn cầm xấp
giấy xem qua một lượt rồi nói với ông Thống:
- À! Phiếu phê
điểm hằng năm của bác đây mà.
- Vâng! Phải ạ.
Nhờ thầy phê cho mấy chữ và cho điểm bên cạnh.
Ông giải thích
thêm:
- Trước kia,
trường mỗi ḿnh tôi. Hàng năm ông thanh tra đến khám xét và phê điểm. Năm
nay có thầy về th́ cái việc này do thầy quyết định ạ.
Sơn tần ngần
một lúc rồi nói:
- Bác Thống này!
Bác muốn tôi phê như thế nào?
- Vâng! Thầy cứ
xét xem năng lực và cách làm việc của tôi suốt niên khóa có chăm chỉ, đều
đặn không, có bê trễ trong việc dạy dỗ học tṛ không th́ thầy phê vào.
Ô ng
cố ư kéo dài những chữ chăm chỉ, bê trễ như để nhấn mạnh thêm trọng lượng
của từng chữ. Sơn cảm thấy quá khó trong công việc này. Có lẽ Sơn tự thấy
ḿnh quá bê bối trong việc dạy dỗ học tṛ, lại c̣n trút gánh nặng cho đồng
nghiệp, dù người ấy đă già, đáng bậc cha, chú của ḿnh, th́ lấy tư cách ǵ
để xuống bút một lời phê. Sơn đưa mắt nh́n tôi, thầm hỏi ư kiến. Tôi đề
nghị:
- Theo tôi, cứ
để cho bác ấy tự phê ḿnh thế nào th́ tùy, ông chỉ cho điểm thôi. Thế là
ổn.
Sơn thoát nạn,
quay sang ông Thống, Sơn nói:
- Thế nhé! bác
nhé! Bác về nhà muốn phê như thế nào th́ tùy bác. Bây giờ bác muốn bao
nhiêu điểm?
Ông Thống rụt
rè:
- Tùy thầy cho
bao nhiêu tôi nhờ bấy nhiêu!
Sơn xởi lởi,
rộng răi:
- Tôi cho bác
100/100 điểm nhé!
Ông Thống giật
nẫy ḿnh kêu lên:
- Chớ! Không
được đâu thầy! Từ xưa đến giờ chưa có ai đạt được 99/100 điểm cả. Thầy cho
như thế tôi lại chết.
Sơn cười cười:
- Thế th́ bao
nhiêu là hợp lư là hở bác?
Ông Thống thở
dài:
- Thôi th́ thầy
cho tôi 98 điểm cũng được!
Sơn đồng t́nh:
- Ừ! Th́ 98
điểm nhé! Bác nhé!
Sơn ngoáy con
số 98 trên 100 rồi kư tên ḿnh dài ngoằng ở dưới. Xong, đưa trả phiếu điểm
lại cho ông Thống. Ông run run đưa tay đỡ và nhét xấp giấy vào cặp, miệng
cám ơn Sơn mấy lần nữa mới ra khỏi cửa, dắt chiếc xe cà tàng ra ngơ. Nét
mặt rạng rỡ chưa từng thấy từ trước đến giờ. Tôi tiễn ông ra cửa:
- Hôm nay bác
Thống thích nhé! Từ giờ về sau đừng nhờ ǵ tôi nữa nhé!
Ông quay lại
giơ tay khoát khoát ra hiệu ngụ ư đừng nói ǵ. Khi ông khuất sau hàng lau,
tôi ôm bụng cười sặc sụa. Sơn cũng cười, hỏi tôi:
- Ông thấy sao?
- Th́ trăng với
sao ǵ nữa! Ngày nào ổng cũng đến đây nhăn nhó, cáu bực, ca bài ca con cá.
Hôm nay lại nhũn như con chi chi. Hóa ra là v́ cái phiếu phê điểm. Mà ông
lại cho cái điểm "ác ôn côn đồ" làm ổng xuưt đứng tim.
Sơn cười khoái
chí:
- Ối
điểm trên trời mà. Quyền của ḿnh, ḿnh cứ cho thoải mái, mất ǵ cho cam!
B ài
Ca Dao Bên Cồn Đá:
M ột
hôm Sơn bỗng hỏi tôi:
- Này ông!
Không hiểu ông Phạm Duy suy nghĩ bằng cách nào mà ổng đặt được những lời
ca hay quá chừng. Tôi không ngờ được !
Tôi tán đồng và
phụ họa:
- Dĩ nhiên là
như vậy rồi. Từ xưa tới giờ Phạm Duy là số một. Có ai hơn được ổng đâu!
Tôi nghe Sơn
nhâm nhẩm hát vài câu rồi lại hỏi:
- Như cái câu
"Đêm qua ra đứng bờ ao.
Trông cá, cá lặn. Trông sao, sao mờ. Buồn trông con nhện giăng tơ. Nhện ơi,
nhện hỡi, nhện chờ mối ai?" Ông thấy có tuyệt không?
Tôi bật cười:
- Tưởng ông đơn
cử bài ǵ, chớ bài này th́ ổng lấy ca dao ra phổ thành nhạc. Ổng đâu có
đặt lời. Ổng c̣n lấy thơ của người khác phổ nhạc cũng tuyệt lắm. Tôi mê
hai bài thơ của Phạm Thiên Thư "Đưa
em t́m động hoa vàng" và "Ngày
xưa Hoàng Thị" ổng cũng phổ nhạc thật tuyệt vời.
Sơn rất ngạc
nhiên, hỏi lại:
- Ḿnh có ca
dao hay như vậy sao ?
Tôi đọc một
mạch hết bài "Nhớ ai"- "Buồn
trông chênh chếch sao mai..." Thuận miệng, tôi đọc luôn bài "Nụ
tầm xuân"- "Trèo
lên cây bưởi hái hoa..."
Sơn nói:
- Đó! đó bài
nữa đó! Sao lâu nay tôi không biết cà?
Đến phiên tôi
ngạc nhiên:
- Từ đệ ngũ đến
đệ tam, học sinh nào chẳng học môn văn chương b́nh dân, trong đó có ca dao,
tục ngữ, hát đố, truyện cổ... Chẳng lẽ ông không biết chút ǵ à?
Sơn thú thật:
- Từ nhỏ tới
giờ, tôi học chương tŕnh Pháp, nên không biết ǵ về ca dao, tục ngữ hết.
Tôi đùa:
- Thôi rồi! Thế
nào ông cũng có học câu "Tổ
tiên ta là người Gaulois(*) phải không?
Sơn cười, gật
đầu:
- Đó là bài học
đầu tiên!
S ơn đậu Bac I
chương tŕnh Pháp, bỏ ngang việc học khi cha bị tai nạn chết. Khi lên Bảo
Lộc, Sơn cùng chúng tôi cố gắng học hàm thụ để có thể tiến thân thêm trong
nghề nghiệp. Năm nào đầu niên khóa, Sơn cũng hăm hở mang một lô sách về
đọc. Một thời gian ngắn sau khi đi đi, về về Sài G̣n -Đà Lạt, Sơn lại vất
sách vào xó cho bụi bám. Năm 1966, Hảo Tâm đă xong cử nhân văn chương.
Cuối năm, anh bị động viên vào Thủ Đức trước bọn tôi.
S au
cuộc nói chuyện về ca dao, tục ngữ, đêm nào Sơn cũng yêu cầu tôi đọc cho
nghe vài bài. Lần nào Sơn cũng xuưt xoa khen hay. Từ đó Sơn mê ca dao, tục
ngữ và sưu tầm tài liệu về đọc. Sau này có dịp, Sơn đưa chữ ca dao vào
nhạc như bài "Ca Dao Mẹ"
có câu "Bài ca dao bên
cồn đá" chẳng hạn. Đến lượt tôi chịu thua. Không hiểu nổi- "Ca
dao bên cồn đá" là ư nghĩa ǵ!
(*) Nos ancêtres sont des Gaulois
S inh
Tử Phù:
S au vụ rao t́m
trên Đài phát thanh Đà Lạt và bị quở trách tại Ty, Sơn trở nên cần mẫn hơn,
khuôn phép hơn. Ít đi lại Sài G̣n, Đà Lạt hơn. Thỉnh thoảng có đi cũng về
kịp sáng thứ hai để đi dạy. Trong thời gian này, Sơn nhận được rất nhiều
thư từ. Phong nào cũng dày cộm. Sơn dạy buổi sáng, nên người nhận thư là
tôi. Nh́n con dấu bưu điện, tôi biết được là thư gửi đi từ Huế. Đó là thư
của bạn Sơn. Cái tên người gửi ở góc trái phong b́ lần đầu tôi được nghe,
được thấy, lạ lắm. Đó là
Hoàng Phủ Ngọc Tường.
T ừ
lúc nhận được những thư đó, Sơn bỗng nhiên thay đổi hẳn tâm tính. Lúc nào
cũng có vẻ bồn chồn, lo lắng. Ít đi lang thang những buổi chiều nữa. Có
lúc ngồi thẩn thờ, mắt đăm chiêu nh́n qua cửa sổ hằng giờ, yên lặng với
khói thuốc. Có khi điếu thuốc từ lúc châm đến lúc tàn, Sơn chỉ rít một hai
hơi, rồi quên bẵng đi để nó cháy trên hai ngón tay đến lúc rụi đi. Chiếc
gạt tàn chưa hết ngày đă đầy ứ lên, tràn ra cả bên ngoài. Sơn đi mua khóa
về khóa chặt vali để cất kỹ những bức thư ấy. Có thư vừa đọc xong, Sơn đem
đốt ngay. Không ngăn nổi ṭ ṃ, một hôm tôi hỏi Sơn:
- Dạo này tôi
thấy ông không được vui. Có chuyện ǵ vậy?
Sơn lăng tránh:
- Đâu có ǵ!
Chuyện nhà mà.
- Sao dạo này
ông có quá nhiều thư của ông Phủ, ông Tường ǵ đó, mà mỗi lần nhận thư,
đọc thư xong, tôi thấy ông có vẻ lo lắng thế?
- À! Bạn tôi đó.
Ảnh báo cho tôi biết những chuyện không vui của gia đ́nh tôi.
Thấy nói chuyện gia đ́nh, tôi không tiện hỏi thêm.
T rước kia Sơn hay
kể cho tôi nghe về gia đ́nh anh, về hai đứa em. Em trai là Trịnh Quang Hà,
em gái là Trịnh Vĩnh Thúy. Sơn mấy lần rũ tôi về Huế chơi để biết thú ngủ
đ̣ trên sông Hương, bánh bèo Âm phủ, cơm hến Vĩ Dạ... Tôi cũng muốn biết
cố đô Huế một lần. Hẹn măi. Nhưng lần nào về Nha Trang, mê sóng nước và
thú săn bắn dưới biển tôi lại quên mất chuyện ngủ đ̣ trên sông Hương. Đến
nay tôi cũng chưa biết cầu Trường Tiền "sáu vài, mười hai nhịp" ra sao.
Bây giờ, đọc báo thấy nói Sơn có bảy anh em. Cô ca sĩ Vĩnh Trinh là út.
Nếu cứ tính sinh năm một, năm 1957 ba Sơn mất, th́ Vĩnh Trinh phải năm
mươi tuổi hoặc hơn.
S au
đó, Sơn lại thường xuyên đi Đà Lạt hơn. Nhưng không phải đến Đà Lạt. Sơn
kể cho tôi nghe về một trang trại nào đó ở Phim Nôm, gần Đức Trọng, một
quận của tỉnh Tuyên Đức. Sơn ở đó có khi hai, ba ngày với vài người bạn để
bàn chuyện làm ăn. (Sơn không nói tên những người đó). Có lần Sơn rủ tôi
làm ăn chung. Lương mỗi tháng mười ngàn. Tối trố mắt kinh ngạc:
- Công chuyện
ǵ mà lương mỗi tháng mười ngàn? Họa là làm cho Việt Cộng ?
Sơn xua tay,
gạt ngang:
- Nhảm! Ông
không làm th́ thôi. Nói bậy chết có ngày!
Tôi cười h́ h́
rồi quên đi. Một lần, Sơn về sau hai ngày bàn chuyện làm ăn, khoe với tôi
mọi việc đều tốt đẹp và được đăi một chầu "Cà
phê cứt chồn" nhớ đời. Sơn vui vẽ kể:
- Hồi giờ nghe
nói cà phê chồn, mấy tiệm đều quảng cáo cà phê cứt chồn, giờ mới biết là
láo hết. Làm ǵ có mà bán. Một đồn điền cà phê mênh mông, cho người đi
nhặt cả tuần lễ, chưa chắc có được một kư. Chồn nó lựa những trái cà phê
chín đỏ để ăn, rồi ỉa ra hột lẫn trong phân. Chủ đồn điền biệt phái một
hay hai người đi lượm những hột đó, đem về phơi khô, rang, tẩm. Sau nhiều
giai đoạn chế biến mới thành cà phê uống được. Không đủ biếu quan đầu tỉnh,
đầu quận th́ làm ǵ có mà bán ra thị trường.
T ôi
vẫn thắc mắc:
- Cả một rừng
cà phê bạt ngàn mà ông nói lượm không được một kư?
- Đúng vậy!
Người ta không đợi cà phê chín mới hái. Nó sẽ rụng xuống đất hết. Trái vừa
già có màu xanh đen là người ta đă hái rồi. Nói là hái chứ thật ra tuốt
hay suốt. Trái cà phê mọc thành từng chùm dài như tiêu hay chùm ruột.
- Ông uống thấy
mùi vị nó ra sao? Có bay mùi chồn không?
- Không! Nó có
mùi thơm đặc biệt lắm. Cái mùi nó quyện trong hơi nóng bốc khói là là trên
miệng chén, tỏa hương chầm chậm, thơm lâu lắm. Tôi nhâm nhi từng chút một
để cho cái lưỡi và cái lổ mũi tôi thưởng thức hết cái ngon của nửa tách cà
phê. Chỉ có nửa tách thôi, suốt một đêm hai con mắt tôi thao láo, không
nhắm được. Đến bây giờ, (lúc Sơn về kể) tôi vẫn tỉnh táo mà không cảm thấy
mệt.
Nghe nói, tôi
đâm thèm và ao ước:
- Ông có xin họ
một ít không? Đem ra pha thử cho tôi uống một chút?
- Ở đó mà ham!
Tôi lên xuống cả tháng nay, giờ mới được đăi có nửa tách. Một tách c̣n
chưa có th́ làm ǵ họ cho một ít mang về. Vả lại, ai mở mồm xin, "ốt dột"
chết!
H è năm 1965, tôi
măi mê vui đùa với nắng gió, sóng nước ở băi biển Nha trang nên quên lời
hẹn với Sơn ra Huế để Sơn dẫn tôi đi thăm thú các nơi. Hết hè, tuy vẫn c̣n
luyến tiếc những ngày vui trôi qua quá mau, tôi cũng phải trở về Bảo Lộc
để kịp ngày khai giảng niên học mới.
T rở
lại ngôi nhà trọ, tôi hết sức ngạc nhiên khi thấy Sơn đă có mặt ở đây rồi.
Căn pḥng bừa bộn, bẩn thỉu. Toàn là tàn thuốc lá. Chổ nào cũng đầy tro
tàn. Bao thuốc lá Bastos xanh trống không xếp đầy chung quanh tường, cao
gần tới đầu gối. Sơn nằm dài trên đi văng. Mùng vẫn buông, ám khói vàng
khè. Dưới gầm bàn giỏ rác đầy ứ. Giấy loại quay ronéo vàng xỉn, vo tṛn,
xé nát vất đầy mặt đất. Xác cà phê khô đóng mốc xanh, trắng vươn văi chỗ
này một nhúm, chỗ kia một tụm. Tôi la lên:
- Ông không về
Huế nghỉ hè sao?
- Không! Tôi ở
lại đây luôn. Cũng không về Sài G̣n. Sơn uể oải vừa chui ra khỏi mùng vừa
nói.
- C̣n lại một
ḿnh bà Phi có nấu cơm cho ông không? Tôi hỏi thêm.
- Không! Sơn
lắc đầu. Tôi ăn cơm bữa ở Ngọc Sơn. Tám đồng một bữa. Siêng th́ đi ăn, làm
biếng th́ ở nhà gặm bánh ḿ. Bà Phi về Sài G̣n cả tháng nay rồi. Cô người
làm cũng về quê luôn. Tôi nh́n Sơn ái ngại. Sơn xanh hẳn. Mặt hốc hác. Tóc
râu bờm xờm. Người đă ốm o sẵn, nay lại càng gầy thêm. Gầy rạc. Bộ đồ
pijama trở nên rộng thùng th́nh, nhàu nát, đen xỉn. Có lẽ ba tháng nay
không giặt. Nhưng đặc biệt nét mặt Sơn rất vui và rạng rỡ. Vừa xếp dọn lại
chỗ nằm của ḿnh, tôi vừa tṛ chuyện:
- Ông làm ǵ mà
nằm ép rệp ở đây tới ba tháng lận! Không buồn à?
Sơn phấn khích
ch́a tập nhạc ra khoe với tôi:
- Công tŕnh ba
tháng đó!
T ôi cầm xấp bản
thảo, liếc qua trang đầu có nhan đề
"CA KHÚC DA VÀNG".
Lật thêm mấy tờ bên dưới thấy những bản nhạc có tựa đề rất lạ như "Gia
tài của Mẹ"- "Đàn
ḅ vào thành phố"- "Người
già và em bé"- "Người
con gái Việt Nam da vàng"... với những lời ca lạ lẫm, khác hẳn
với những lời trong t́nh ca đến 180 độ. Tôi ngờ vực có một cái ǵ đó đă
thay đổi con người Sơn. Sơn đă lột xác. Tôi chăm chú nh́n Sơn để t́m xem
cái ǵ khác trên khuôn mặt xương xương kia. Nhưng tôi không nh́n thấy ǵ
cả. Chỉ trong đôi mắt, sau lần kính cận, ánh lên vẻ khác thường. Tôi chưa
xác định được rơ ràng là cái ǵ. Có một cái ǵ đó mơ hồ lấp ló trong trí
tôi rồi vụt biến mất. Cái mơ hồ đó tôi chưa kịp đặt tên cho nó, và cũng
chưa nghĩ ra được một chữ thích hợp cho trạng thái đó trong lúc này. Thấy
tôi im lặng lật hết tờ này qua tờ khác, Sơn hỏi:
- Ông thấy sao? Được chứ?
- Tôi mới đọc lời thôi! Chưa biết nhạc ra sao! Chưa có ư kiến được. Thôi
bây giờ ta đi ăn cơm. Tối nay ông hát cho tôi nghe thử vài bài được không?
S ơn đồng ư. Chúng
tôi ra Ngọc Sơn ăn cơm chiều. Cơm nước xong, chúng tôi lững thững đi ngược
về hướng bờ hồ để lên Câu lạc bộ uống cà phê, ngắm lại cảnh sương chiều
bốc dần lên từ chân cầu nhà Thủy Tạ h́nh bát giác sơn màu đỏ chói và cái
cây chết khô giữa hồ. đứng một ḿnh, cô độc.
T ối đó Sơn hát cho
tôi nghe một vài bài tiêu biểu trong tập "Ca
khúc da vàng". Đến những đoạn như "Gia
tài của Mẹ: một bọn lai căng... một lũ bội t́nh" hay như "Đại
bác đêm đêm dội về thành phố! Người phu quét đường dừng chỗi lắng nghe"
hoặc như "Tôi có người
yêu chết trận đêm qua, chết thật t́nh cờ..." tôi bỗng nổi da gà.
Lời ca thật xúc động. Nó xoáy sâu vào tim người nghe rồi chuyền lên óc làm
cho rúng động tâm can, tỏa lan dần cơ thể làm cho tứ chi băi hoải. Sơn
ngừng hát, đưa mắt hỏi tôi. Đột nhiên trong óc tôi lóe lên một tia chớp:
tôi đă thấy rơ h́nh dáng của nó và t́m ra được cái tên của nó mà buổi
chiều tôi chỉ cảm biết mà không nghỉ ra được. Tôi buột miệng la lên:
Sinh tử phù.
Sơn ngạc nhiên
trố mắt nh́n tôi, chặp lâu mới hỏi:
- Ông nói "sinh
tử phù" là ư nghĩa ǵ?
Thời gian đó
Sơn chỉ đọc sách Pháp. H́nh như đang đọc "Cánh cửa hẹp" và "Buồn nôn". Tôi
th́ mê luyện chưởng Kim Dung. Tôi giảng giải sơ lược về môn pháp cấy sinh
tử phù cho Sơn nghe. Sơn càng thắc mắc:
- Vậy th́ cái
chuyện cấy sinh tử phù của ông ăn nhập ǵ đến tôi?
Tôi chậm răi,
buồn rầu trả lời Sơn:
- Ông đă bị cái
ông Hoàng Phủ Ngọc Tường nào đó cấy "sinh
tử phù" vào người rồi.
Ô ng c̣n nhớ có lần
ông rủ tôi làm việc với nhóm của ông ở Phim Nôm, trả lương tháng mười ngàn
không? Tôi nói đùa: họa may làm cho Việt Cộng, ông giăy năy la oai oái. Và
những lần ông đốt những xấp thư của ông Tường không? Bây giờ trong ṿng ba
tháng, ông đă sáng tác một đống nhạc, chẳng bù với hai bài "Chiều
một ḿnh qua phố" và
"Lời buồn thánh"
phải mất hơn sáu tháng? Bây giờ trong nhạc ông không c̣n những sợi nắng
thủy tinh, những lá me bay, những tay gầy guộc nhỏ, những sơi đá biết nhớ
biết đau mà toàn những xác chết, những bom đạn, ḿn chông, bội phản...
Những loại từ này không hợp với con người ông. Tôi e rằng ông đă bị tiêm
nhiễm sinh tử phù Việt Cộng của ông Tường cấy vào người ông quá lậm rồi!
Sơn phản đối kịch liệt:
- Thôi đừng giỡn cha nội! Cha giỡn kiểu đó chết tôi nghe!
Từ đó, chúng tôi im lặng không ai nói với ai lời nào
nữa cho đến lúc tắt đèn đi ngủ.
D ần dà trong bọn
chúng tôi ai cũng biết Sơn vừa sáng tác một tập nhạc mới. Lại chia làm hai
phe. Lúc đó đâu đă có từ "phản chiến" để chỉ loại nhạc này. Chúng tôi cứ
ngâm nga mỗi bài vài câu. Phe thích th́ cứ khoái... "Một
ngàn năm nô lệ giặc Tàu, một trăm đô hộ giặc Tây, hai mươi năm nội chiến
từng ngày..." ca cẩm suốt ngày. Phe chê th́:
- Xí! nhạc Việt Cộng! Cha nội Sơn theo Việt Cộng rồi!
Tuy nhiên, sau
đó lại quên lăng đi. Chúng tôi vẫn lại bù khú cà phê, bi da, xập xám, vui
vẻ ồn ào như trước. Nhưng không ai để ư thấy rằng khi đám nhà binh như
Vĩnh, Ngự, Tinh, Thành nhập bọn là Sơn t́m cách lăng tránh. Nhất là lúc có
mặt hai chàng Thành, chi khu phó và Tinh, an ninh quân đội. Có lần trong
bữa nhậu vui vẻ, không biết vô t́nh hay hữu ư, Trung úy Thành vừa cười vừa
nói:
- Này mấy ông
giáo! Tôi xin nói trước, bạn th́ bạn, chơi th́ chơi, nhưng ông nào theo
Việt Cộng th́ chúng tôi vẫn cứ bắt như thường đó!
Nói xong, anh
ta cười h́ h́, rồi giơ cao ly lên:
- Nào dô! Dô!
Lúc về, Sơn nói
riêng với tôi:
- Chơi với mấy
cha nhà binh, ghê thấy mẹ!
Thời gian sau, Sơn rất bận rộn. Đi đi, về về, Sài G̣n,
Đà Lạt liên tục. Thường xuyên bỏ trường, lớp hơn trước. Nhưng thời gian đi
không lâu. Có khi hai ngày. Có lúc ba ngày. Ông già Thống từ ngày được ông
trưởng giáo hào phóng cho 100 điểm, há miệng mắc quai, không c̣n biết than
thở với ai, đành ngậm bồ ḥn làm ngọt. Sơn cho tôi biết là đang chuẩn bị
in tập "Ca khúc da vàng"
và khoe với tôi là giới sinh viên thích lắm. Họ đang yêu cầu có những buổi
hát ngoài trời gọi là "du ca".
Và Sơn cũng hé cho tôi biết một vài sinh viên có nhiệt tâm đấu tranh như
Huỳnh Tấn Mẫm, Nguyễn Văn Toại...sẵn sàng giúp Sơn thực hiện những buổi
tŕnh diễn ấy.
N hững điều Sơn kể
và những cái tên xa lạ không ăn nhập ǵ đến đời sống đang tươi đẹp của tôi
nên nó từ tai này qua tai kia trôi tuột đi, chốc lát tôi quên hết. Khi Sơn
đi vắng, tôi c̣n vô khối bạn bè để vui chơi. Nào Tín, nào Bạch, Đạo, Lăng,
Tâm mập, Tâm lùn, Hinh, Sang, Hiện, Thao, Rầm, Nhượng... Tuần này xuống
Tân Hà, đến nhà ông Hiệu trưởng Ngọc hạ cờ tây. Tuần sau kéo nhau vào ấp
Lam Sơn. Hai bên đường vào ấp trồng toàn hoa anh đào, nên c̣n có tên gọi
rất thơ mộng là Đào Hoa thôn. Chúng tôi vào đây để đến nhà ông Tề ngắm
phong lan. Ông Tề tuy là nhà nông nhưng có tâm hồn nghệ sĩ. Trên gác
Nghinh Phong của ông có đủ loại phong lan mà ông sưu tầm được. Trăm màu,
trăm vẻ. Tuần khác lại cùng các cô giáo trẻ Nghiên, Châu, Hải, Trang...đi
dạo suối Đại B́nh, cách Bảo Lộc chừng vài cây số.

Vợ chồng Đỗ Danh Đạo từ Đức về thăm lại chốn xưa.
Đỗ Danh Đạo, Nguyễn Văn Ngọc (vẫn c̣n ở lại
xứ đạo Tân Hà) thăm gia đ́nh anh Nguyễn Văn Thành, phát ngân viên (người
già ốm nhất). - Ảnh chụp năm 2003
C ứ thế, ngoài việc
dạy dỗ các em học sinh, tuổi trẻ của tôi đă trải qua những ngày tháng tươi
vui, đáng sống trong cái quận lỵ bé nhỏ, mà mới ngày nào tôi gặp Sơn ở bến
xe đ̣ một buổi chiều cuối tuần đ́u hiu có mưa rả rích. Buồn thúi ruột.
(Đón đọc tiếp kỳ
10)


Nguyễn
Thanh
Ty
Tác phẩm đă được in thành
sách năm 2004, bán với giá 17 đô-la Mỹ một cuốn kể luôn cước phí. Xin
liên lạc với tác giả tại :
Nguyễn Thanh
Ty
69
Edwin St.
N.
Quincy, MA. 02171
- USA
Phone:
(617) 328- 9833
|