www.ninh-hoa.com



 

Trở về d_bb  ĐHKH

 

Hán Việt Dịch SLược 

Giáo Sư
Nguyễn Hữu Quang

 

Lời Giới Thiệu  

Lời Phát Đoan

CHƯƠNG 1

Tam Hoàng Dịch

CHƯƠNG 2

Tam Đại Dịch  1 | 2

CHƯƠNG 3
Thiên Văn Lịch Toán

 1      2 

 3   |   4   |   5 

6   |    7   |   8

  9   |   10  |   11

 12   |   13  |   14 

  15  |   16  |   17

18

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Main Menu

 
 


HÁN VIỆT DỊCH S LƯỢC

GS Nguyễn Hữu Quang

Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975

 

 

 


L
ời Giới thiệu của Ninh-Hoa.com


Tác giả
Việt Chi Nguyễn Hữu Quang nguyên là
giảng viên Vật lư chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đaị Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975. 

 

HÁN VIỆT DỊCH SỬ LƯỢC là một tập nghiên cứu rất công phu của tác giả về Kinh Dịch từ Trung Quốc du nhập và  phát triển tại Việt Nam.

 

Cm ơn Giáo sư đă gửi toàn bộ Hán Việt Dịch Sử Lược và cho phép www.ninh-hoa.com đăng lên mạng.

 

 

 

 

 

 

To solve any problem that has never been solved before, you have to leave the door to the unknown ajar.

 

RICHARD PHILLIPS FEYNMAN

(1918- 1988)

NOBEL LAUREATE PHYSICIST (1965)

 

 

 

 

 

Tranh
VÂN TÙNG LONG

của VIỆT CHI

 

 

Minh-họa:
Hào Cửu-ngũ quẻ Kiền

 

 

 

 

子曰 ﹕夫易何為者也。夫易開物成務。冒天下之道。如斯而已者也。是故聖人以通天下之志。以定天下之業。以斷天下之疑。

是故蓍之德圓而神。卦之德方以知。六爻之義易以貢。聖人以此洗心。退藏於密。吉凶與民同患。神以知來。知以藏往。其孰能與於此哉。古之聰明叡知神武而不殺者夫。

 

Tử viết: Phù dịch hà vi giả dă, phù Dịch khai-vật thành vụ, mạo thiên-hạ chi đạo, như tư nhi dĩ giả dă, thị cố thánh-nhân dĩ thông thiên-hạ chi chí, dĩ định thiên-hạ chi nghiệp, dĩ đoán thiên-hạ chi nghi.

 

Thị cố thi chi đức viên nhi thần, quái chi đức phương dĩ trí, lục hào chi nghiă Dịch dĩ cống, thánh-nhân dĩ thử tẩy tâm, thoái tàng ư mật, cát hung dữ dân đồng hoạn, thần dĩ tri lai, trí dĩ tàng văng, kỳ thục năng dự ư thử tai, cổ chi thông-minh duệ-trí thần-vũ nhi bất sát giả phù.

(Hệ-từ Thượng-truyện XI/1 & 2)

 

Khổng-tử nói: Ôi Dịch làm nên những ǵ? Dịch mở mang mọi vật, hoàn-thành mọi việc, bao trùm Đạo của thiên-hạ, như thế mà thôi. Cho nên thánh-nhân dùng Dịch để thông chí thiên-hạ, định-nghiệp thiên-hạ, đoán ngờ cho thiên-hạ.

 

Do đó đức cỏ thi tṛn mà thần-diệu, đức quẻ kép vuông để biết, nghĩa sáu hào, Dịch đă cống-hiến. Thánh-nhân dùng điều ấy để rửa ḷng, lui ẩn nơi kín đáo, lành dữ cùng dân lo, thần để biết việc sau, trí để nhớ việc trước, c̣n có ai dự vào điều ấy được? Người xưa thông-minh duệ-trí thần-vũ mà chẳng sát-phạt ru.

 

The Master said: What does the Yi do? The Yi opens up things, complete undertakings, and embraces all ways on earth, this and nothing else. Thereby, the sages regulate all wills on earth, stabilize all their actions and determine all doubts.

Therefore, the virtue of the yarrow stalks is round and spiritual, the one of the hexagrams is square and wise, the six lines of the Yi inform. In this way, the sages cleansed their minds, retired and laid them up in secrecy, and concerned themselves with the good fortune and misfortune of the people. They were spiritual, hence they knew the future; they were wise, hence they stored up the past. Who else could do all that? The super-intelligent and divine ancients never overstep.

 

 

 

KENKŌ (Kiếm-quang 劍光)

Kamijō Shinzan (上條信山 )

Bút hiệu: Shinzan (Trúc-sơn 竹山)

Thượng ấn: Umujōhō

Hạ-ấn: Kankosōdō

 

 

 

 

 

 

HÁN VIỆT DỊCH SỬ LƯỢC
 

A CRYPTOHEURISTIC

JOURNEY TO YILOGY
 

SURVOL HEURISTIQUE

DE L’ILOGIE

 

La Khê Đàm Quang Hưng Đề-từ

Bạch Hạc Nguyễn Hữu Quang Nghĩ Án

Xuân Cầu Tô Đồng Đề Bạt Từ

 

谿

 

TỦ SÁCH VIỆT CHI

OTTAWA

2009

 

© 2009 BY VIỆT CHI NGUYỄN-HỮU QUANG

All Rights Reserved under International and Pan-American Conventions

No part of this publication may be reproduced, stored in a retrieval system,

or transmitted, in any form or by any means, electronic, mechanical,

photographic, photocopying, recording, or otherwise,

without the prior written permission from the author VIỆT CHI

  

 

 

 

ĐÔI LỜI CẢM-T

 

Một người đi ắt được BẠN ĐƯỜNG

Chu Dịch, Hệ Hạ V/12

 

Tôi chỉ gặp thi-sĩ lăo-thành Vũ-Hoàng-Chương có mỗi một lần tại một quán cà-phê đường Phan-Đ́nh-Phùng với bộ đồ bà-ba nâu quốc-hồn quốc-túy. Chính cụ là người đă khởi-xướng ra hai phong-trào Truyền Kiều và làm thơ "Nhị-thập-bát-tú“. 'Truyền Kiều“, tôi đă nới rộng thành 'Truyền Dịch“ với 3 bài khảo-luận đăng trên tạp-chí “Quê Mẹ”cuả Ông Vơ-Văn-Ái ở Paris. Tôi đă 'Tập Kiều“, "Lảy Kiều“ trên báo "Làng Văn“, vui nhất là bài "Vịnh Ngục trung Nhật-kư“để tiếp tay Cụ bạn cố-tri Lê-Hữu-Mục đẩy làn sóng biển người Văn-tuyên Hà-Nội lui vào lẽ phải.

 

Tiện đây, tôi xin có một câu đối và một bài 'Nhị-thập-bát-tú' lẩy Kiều để bích-tạ giáo-sư La-Khê Đàm-Quang-Hưng là người năm xưa tôi đă giáp mặt nhiều lần tại Đại-học Khoa-học Sài-G̣n cũng như tại Đại-học-xá và cũng là người đầu tiên đă sốt sắng nguyên-tâm phê-b́nh tiểu-luận này:

 

同業 Đồng nghiệp, đồng thanh, đồng chí-khí;

異鄉 Dị hương, dị tính, dị xuân-thu.

mà Đàm Quân đă Diễn Nôm:

(Cùng nghiệp, cùng thanh, cùng chí khí; Khác làng, khác họ, khác niên canh).

 

Chuyển ngữ Quốc ngữ:

Mấy ḷng hạ-cố đến nhau,
Duyên xưa tṛn-trặn, phúc lâu dồi-dào.
Lời vàng vâng lănh ư cao,
Mắt xanh chẳng để ai vào phải không?

 

Cũng xin chân-thành thâm-tạ giáo-sư Khoa-trưởng Dược-khoa Tô Đồng, người mà tôi hân- hạnh gặp mặt hơn 50 năm trước tại sân trường Khoa-học và cũng là người nay có nhă-ư nêu thắc-mắc cũng như góp ư-kiến xây dựng vô-giá:

隨埋

Chuyển ngữ Quốc ngữ:

Nhẫn từ quán khách lân la,
Tương-tri dường ấy mới là tương-tri.
Phong-lưu phú-quí ai b́,
Chiều ḷng gọi có xướng tùy mảy may.

Cũng xin cảm-tạ ba ông bạn cố-tri Đại Học Khoa Học Sàig̣n Vơ-Đức Diễn, Vũ Quốc Oai và Vũ Tiến Phái đă sốt sắng góp ư diễn Dịch bằng PC với hệ-thống thao-tác MS XP:

 

 

Chuyển-ngữ Quốc-ngữ:

So dần dây dây văn,
Bầu tiên chuốc rượu, câu thần nối thơ.
Quản bao tháng đợi năm chờ,
Giấc hương-quan luống lần mơ canh dài.
Sợ Oai dám chẳng vâng lời,
C̣n in dáng khách Chương-đài như xưa.
Những là lần lữa nắng mưa,
Đào đà Phai sắc, sen vừa nẩy xanh.
Lơ thơ tơ liễu buông mành,
C̣n nhiều kết cỏ ngậm vành về sau.

 

Sau nữa, xin bái-tạ ông bạn cố-tri Đặng Hồng-Tiệm, đồng-nghiệp cũ tại Ban Vật-lư ĐHKHSG, giáo-sư toán hồi-hưu của Viện Đại-học Reims đă tận-t́nh tham-gia ư-kiến và cất công đáp xe hoả từ Reims lên Trường Viễn-đông Bác-cổ Paris để làm phóng-ảnh Quyển VII sách "Ư-trai Toán-pháp Nhất-đắc-lục 意 齋 算 法 一 得 錄" của Chân Chi Nguyễn-hữu Thận  真 之阮 有 慎soạn và đề tựa năm Minh Mệnh thứ 10 (1829) :

 

 

Chuyển-ngữ Quốc-ngữ:


Rằng: "Tôi đă có ḷng chờ",
Mười lăm năm ấy, bây giờ là đây.
Thưa rằng thanh-khí xưa nay,
Chọn người tri-kỷ một ngày được chăng?


Cuối mà không kém, xin ghi công NGƯỜI BẠN ĐƯỜNG, "nhẫn từ sen ngó", đă lo liệu mọi bề để tôi rảnh rang trau dồi tiếng mẹ đẻ, ôn-tri Toán-Khoa-Kỹ, chơi Tử-vi, rèn tam-thức Ất-Giáp-Nhâm, nghĩ nghị VĂN ĐẠO trong khi ngoạn Dịch-từ và thám-sách Đại Dịch đa-tướng-tập (manifold) bàng bạc trong ba kinh CHU-DỊCH,  THÁI-HUYỀN và HOÀNG-CỰC KINH-THẾ.


Gia Kinh Xứ Tuyết, ngày vào thu năm Giáp-thân (2004)
Việt Chi Nguyễn-Hữu Quang cẩn-tạ

                                                                        

 

 

 

 

 Tranh "Tay Tiên Một Vẫy" vi-khắc trên ngà cuả Ân-Sư Đới
(1899-2003)

 

 

 

     

LỜI GIỚI-THIỆU


Kinh DỊCH là một trong năm kinh: THI, THƯ, DỊCH, LỄ, XUÂN THU của nền văn học cổ truyền Trung quốc.


Kinh DỊCH được truyền sang nước ta từ thời thượng cổ, qua sự liên hệ mật thiết giữa Nước Ta với nước láng giềng phương bắc, dọc theo chiều dài lịch sử. Theo các công tŕnh sưu tầm tích cực và nghiên cứu thâm viễn của tác giả tập tiểu luận này th́ kinh DỊCH đă được học giả Trung quốc Ngu Phiên đem sang nước ta vào thời Tam quốc bên Tàu, khoảng đầu thế kỷ thứ 3, theo Công nguyên.


Cũng theo tác giả, 11 thế kỷ sau, vào đầu đời Trần, người Việt đầu tiên dùng kinh DỊCH của Trung quốc để khởi phát nền VIỆT-DỊCH là đại nho gia Chu (Văn) An, qua tác phẩm TỨ THƯ THUYẾT ƯỚC. Sau khi Chu nho gia quy tiên vào năm Canh Tuất (1370), sách TỨ THƯ THUYẾT ƯỚC vẫn được âm ỉ lưu truyền ở bên Tầu từ hồi giặc Minh đem hết sách vở cuả ta về Kim-lăng, rồi sau này ở trong nước, từ cuối đời vua Tự đức.


Đúng 500 năm sau, vào năm Canh Ngọ (1870) đời vua Đồng-trị nhà Thanh, một nho sĩ là Xích-thủy Minh-viên Quang-nguyệt Lăo-nhân, có viết một bài Tựa cho sách này.


Thế rồi, lại thêm 124 năm, nhân một cơ duyên hiếm có, một bản sao sách TỨ THƯ THUYẾT ƯỚC đă đến tay tác giả. Theo tác giả th́ sách này là một giáo-tŕnh thâm sâu về triết-lư và đạo-lư tam-giáo cũng như về dịch-lư của Đại-Việt đời Trần.


Tác giả cho biết ngoài Chu nho gia, c̣n có nhiều danh nhân khác cũng đă đề cập kinh DỊCH như Hưng-Đạo Đại-Vương Trần-Quốc-Tuấn (1226-1300), vua Trần Minh-Tông (1314-1329), vào đời Trần, Khai-quốc Công-thần Nguyễn Trăi (1380-1442) vào đầu đời Hậu Lê, và có lẽ nho gia cuối cùng đă đề cập kinh DỊCH là danh nho Tam-nguyên Yên-đổ Nguyễn Khuyến (1835-1910) vào cuối đời vua Tự Đức.


Vào năm 2001, trong bài viết nhan đề là XUÂN TỪ TRONG ẤY, tác giả đă đặt ra một hệ thống công thức Việt Chi để giúp những ai muốn chuyển đổi một ngày tháng Dương Lịch sang thẳng ngày tháng tương ứng trong Lịch Can Chi mà không cần phải dùng Bảng Đối Chiếu Âm Dương Lịch.


Vào năm 2002, trong bài viết nhan đề là MƯỜI BA CON GIÁP, tác giả đă nêu ra 3 quy tắc dùng để thiết lập lịch Th́ Hiến của Trung quốc vào đời nhà Thanh cũng như lịch Hiệp Kỷ của Nước Ta vào đời nhà Nguyễn. Rồi tác giả nêu ra 4 quy tắc dùng để thiết lập những cuốn Âm Dương Hợp Lịch trên toàn cầu ngày nay.


Vào đầu năm nay (2004), nhân dịp Tết Giáp Thân, trong bài viết nhan đề là NGÀY XUÂN XEM BÓI BẰNG TOÁN, tác giả có đề cập vai tṛ của kinh DỊCH trong các khoa bói toán Á Đông, qua Âm-Lịch và Lịch Can Chi. Để thích-ứng và thích-dụng với thời đại, tác giả đă dùng Âm-Lịch Phổ-Quát phối-hợp sở trường của hai khoa Tử-vi và Tử-B́nh để đặt ra khoa Tử-vi Lịch-số Toàn-sinh. Trong khoa này, tác giả đă đặt ra hệ thống Công thức Việt Chi để giúp các nhà bói toán t́m thẳng được Bát-tự từ ngày tháng Dương-Lịch, mà không cần phải dùng Bảng Đối Chiếu Âm Dương Lịch cũng như đề ra các công-thức lượng-giác để tính thẳng ngày đầu 24 tiết-khí và hiệu-sai xích-kinh giữa mặt trời thật và mặt trời biểu-kiến trong Âm-Lịch Phổ-quát Lĩnh-Nam.


Tuy nhiên, theo thiển ư, công tŕnh chung đúc các kiến thức thâm viễn cũng như các sáng tạo diệu kỳ của tác giả là tập tiểu luận HÁN VIỆT DỊCH SỬ-LƯỢC. Với tập tiểu luận này, tác giả có thể giúp quư vị thấy rơ và hiểu sâu kinh DỊCH hơn, cũng như khám phá ra các thích thú riêng, tùy theo ư muốn thâu hoạch và chiều hướng suy diễn của từng vị.


Để tôn trọng sự khám phá ấy, chúng tôi chỉ dám thưa rằng tập tiểu luận này gồm bốn phần tách biệt: Tiền-ngôn, Dịch-lược-sử, Thư-tịch Trước-luận, Hậu-ngôn, và mỗi phần là một sáng tạo kỳ thú, tâm đắc của tác giả.
Thế nhưng, chúng tôi tự cảm thấy ḿnh thiếu sót nếu chẳng lưu ư quư vị về việc sau: Nhân đọc bản Kiều của Quan-Văn-Đường, thấy hai câu:'Rằng năm Gia-Tĩnh triều Minh, bốn phương phẳng lặng BA kinh vững vàng', chẳng giống với 'HAI kinh vững vàng' như trong các bản Kiều khác, tác giả đă liên tưởng đến thế chân vạc hợp bởi DỊCH KINH, THÁI HUYỀN KINH và HOÀNG CỰC KINH THẾ. V́ vậy, tác giả đă luận bàn tường tận về sự liên hệ giữa Dịch Kinh với Hoàng Cực Kinh Thế trong phần Thư-tịch Trước-luận, cũng như với Thái Huyền Kinh trong phần Hậu-ngôn.


Trước kia, chúng tôi có được đọc các sách nói về kinh DỊCH, của các nho gia và học giả đời Nguyễn (thế kỷ thứ 20), viết bằng chữ Quốc-ngữ. Tuy nhiên, với sự thâu hoạch yếu kém và chậm chạp, sự hiểu biết về kinh DỊCH của chúng tôi c̣n rất hạn chế.


Đột nhiên, năm ngoái, khi được liên lạc với các bạn đồng học ở trường Đại Học Khoa Học Sàig̣n năm xưa (1955), qua điện thư (email), t́nh cờ chúng tôi được gặp lại tác giả tập tiểu luận này, tức giáo sư Việt Chi Nguyễn Hữu Quang.


Được xem cuốn Đại Dịch Sử Luận 大 易 史 論 do Nguyễn quân trước tác, nói về Kinh DỊCH, chúng tôi mới vỡ lẽ được nhiều điều mà trước đây chúng tôi chưa hiểu hoặc chỉ hiểu phiến diện.


Chúng tôi rất nể phục các bạn đồng học. Tuy nhiên, người bạn học mà chúng tôi nể phục nhất vẫn là Nguyễn quân.


Ngoài sự thông thái về Toán học, Cơ học và Vật lư, Nguyễn quân c̣n thấu triệt nhiều sinh ngữ như Pháp ngữ, Anh ngữ, Đức ngữ, Hoa ngữ cũng như thâm đạt hai tử văn là Hán-văn và La-văn. Hơn nữa, Nguyễn quân lại có tuệ nhăn nh́n xa, trông rộng và cao.


Thế nhưng, điểm độc đáo nhất nơi Nguyễn quân vẫn là tài liên kết các kiến thức thủ đắc để tạo thành những lư thuyết mới lạ của riêng ḿnh. Theo thiển ư, Nguyễn quân thuộc hàng các học giả có tư tưởng sáng tạo.


Ở lớp tuổi ngoại bảy mươi, được gặp lại người bạn học bác cổ thông kim ở lớp tuổi xấp xỉ thất thập, đă biết nhau ở sân trường đại học từ nửa thế kỷ trước, chúng tôi rất đỗi vui mừng.


Ngại việc khen bạn thái quá, chúng tôi chỉ dám xin quư vị bớt chút th́ giờ để thưởng thức một công tŕnh nghiên cứu với nhiều sáng tạo độc đáo như công tŕnh này.


Viết tại thành phố Houston, tiểu bang Texas
Thứ Hai, ngày 23 tháng 02, năm 2004


Đàm Quang Hưng
Nhà giáo

 

 

 

 

 

    Xem tiếp Kỳ 2

      

 

 

 

 

GS Nguyễn Hu Quang
Nguyên Giảng Viên Vật Lư Chuyên về Cơ Học Định Đề
(Axiomatic Mechanics, a branch of Theoretical Physics)
tại Đại Học Khoa Học Sài G̣n trước năm 1975