www.ninh-hoa.com



 

 

 

Những Ḍng KNiệm

Giáo Sư Tô Đồng

 

Lời Giới Thiệu

 

CHƯƠNG 1

Lời Phi Lộ

CHƯƠNG 2

Tuổi Xanh Ở Miền Bắc

CHƯƠNG 3

Quê Nội Quê Ngoại

CHƯƠNG 4

Vài Nét Về Đông Y

CHƯƠNG 5

Tháng Ngày Ở Thượng Phú  

CHƯƠNG 6

Những Năm Học Và Mùa Thi Đă Qua 1 | 2

CHƯƠNG 7

Những Cư Xá Sinh viên Của Chúng Tôi
 
1  |  2   |  3  

CHƯƠNG 8

Trường Dược Sài G̣n Và Tôi
1  |  2  |  3

CHƯƠNG 9

Một Kỷ Niệm Về Ngành Bào Chế 

CHƯƠNG 10

Đường Về Quê Mẹ

1  |  2 

CHƯƠNG 11

Ngành Khảo Cứu
Y Dược Tại Hoa Kỳ

1   |   2   |  3  

CHƯƠNG 12

Lời Kết 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Main Menu

 
 

 


NHỮNG D̉NG KNIỆM
GS Tiến Sĩ Tô Đồng

Khoa trưởng
trường Đại Học Dược Khoa Sài G̣n
1974-1975.

    

 

CHƯƠNG 3

K 4 :         

QNội Q Ngoại

            

Quê nội

 

             Quê ni tôi là Xuân Cu, mt làng rt gn Hà Ni, khong ct cây s 21 ca con đường s 5 ni lin Hà Ni – Hi Pḥng. Quê ngoi tôi là Kim Ngưu, ch cách quê ni có mt cánh đồng. Hai làng này ca huyn Văn Giang, nguyên thuc tnh Bc Ninh, ri tnh Hưng Yên, có lúc là tnh Hi Hưng.

 

             Làng Xuân Cu rt đẹp, chy dài theo con sông Nghĩa Tr, nhà ngói san sát, đường sut làng lát gch. Lũy tre xanh dy đc bao quanh. Ngay đầu cng làng, li đi ra đồng làm vic, có cây đa c th sng đă my trăm năm, đứng bên cnh mt giếng rt sâu, xây bng đá, nước mch lên trong sut. Nếu vào từ đường s 5, có chợ đường cái là nơi dân quê thường hp nhng ngày phiên, phi đi qua mt chiếc cu g ln bc qua sông. Phía đầu cu người ta chôn mt trụ đá to để ngăn không cho xe hơi chy qua. Làng có nhiu h, h Tô, h Qun, h Khương, h Lê, h Nguyn. Làng Xuân Cu, nguyên là Huê Cu hay Hoa Cu được thành lp đă lâu, nên có tên trong Dư Địa Chí ca c Nguyn Trăi. Đi men con đường gch dài th́ ti làng Đồng Tnh, được nói đến trong câu ca dao quen thuc:

Ai về Đồng Tnh, Xuân Cu

Để thương để nh, để su cho ai?

Để su cho khách văng lai,

Để thương để nh cho hai cô hàng!

Có l người ta ám ch mt cô bán thuc ở Đồng Tnh, mt cô nhum thâm Xuân Cu chăng? Và c̣n có nhng bài hát trng quân, hát nói:

 

Làng anh nht xă chia làm ba thôn

Văn Minh đă nc tiếng đồn.

 

Gia làng có điếm Đ́nh Ba

Đồng gn Quán c, đồng xa Cây Đề.

 

             Làng tôi chia làm ba thôn: Tam K, Phúc Th, Lê Cao. Chúng tôi thuc v thôn Tam K. Khi tôi lên chín mười tui, m tôi v làng trông nom xây ct mt căn nhà gch. Tôi ch c̣n mang máng h́nh dung được cnh th thuyn ra vào tp np, gch ngói b bn, và mt cái hố đất tht ln tôi vôi trng sôi lên sùng sc. Nhà ba gian, lp ngói đỏ, hiên rng, có hai bn trng cây lu làm cnh phía sân trước. Sân sau để phơi thóc, có đống rơm đống r. Cng bên hông phi có mái lp, ghế ngi chơi, dn ti mt lung đất ging hoa, có cây ḥe cho bóng mát và nhng chùm hoa vàng rc r ngày hè. Mt hàng rào thưa ngăn cách vi nhà ch hai Cnh, thân mu anh Tô Ngc Chp. Vườn bên trái trng dâu ly lá nuôi tm, có hàng rào dâm bt bao quanh. Phía trước c̣n ca hàng tp hóa nhỏ để thím M buôn bán. Chú M, người em út b tôi, làm hương sư trong làng, được căn nhà này để trông coi h b m tôi my mu rung ti đây. Ch thnh thong ngh hè v thăm quê, anh ch em chúng tôi mi có dp chơi. Người em th hai ca b tôi là chú Phng, buôn bán g ti Tuyên Quang, làm ăn giu có, cũng xây mt căn nhà hai tng tht đẹp gn đấy. Tôi c̣n nh cnh đánh c người, t tôm điếm trong nhng ngày hi. Hay tiếng mơ rao tin tc, gi dân ra đ́nh đi hp theo lnh ca hi đồng k mc. Ti ch làng có by bán các chim ngói, chim s, chim d, và nhng con chut đồng da trng mut v́ đă được làm lông sch s. Người ta nói nhng con chut này chỉ ăn thóc ngoài đồng vào mùa lúa chín nên tht thơm ngon hơn tht gà. C̣n nhiu loi bánh trái như bánh gio, bánh khoai, bánh mt, mà đặc bit là bánh t trong sut mu nâu đỏ, làm bng bt và đường ri nhum gc, lúc ăn th́ chiên lên như bánh phng tôm.

 

             Tôi được người ln k li cnh lon lc ngày xa ngày xưa, chuyn gic dă ti giết người cướp ca, phá làng đốt xóm. Thôi th́ đủ th gic, gic cờ đen, gic châu chu, gic tu, gic c. Dân chúng phi n núp hay chy trn, đem chôn du vàng bc ca ci, và th xung giếng nhng đồ đồng đồ gm như đỉnh hương, lư đèn, lc b́nh, đôn s. Thế mà thi chúng tôi nay cũng chinh chiến him nguy không kém ǵ. Tôi c̣n nh như in mt bui hp ca bà con h hàng v tn cư ti Xuân Cu, vào mt ngày cui thu 1946. Lúc đó dân làng c̣n đọc các Báo Cu Quc, C Gii Phóng. Anh Tô Ninh, mt đảng viên Quc Dân Đảng, nhà cách mng tng b tù ti Côn Đảo, có đứng lên nói là chúng ta quyết phi đánh Pháp để dành độc lp, dù phi tr giá hy sinh c triu dân, dù phi b mt mt vài chc năm. Và bà con cô bác hăy tp chu đựng gian kh, t b nếp sng tư sn có người hu k h nơi thành th. Không mt ai c̣n mun bàn căi tranh lun na v́ anh nói nếu yếu đui không theo ni th́ c vic chết dn chết ṃn trong cuc trường k và tiêu kh kháng chiến này! Có l gii lănh đạo thi nay coi sinh mng con người r hơn thi Tam Quc, nghĩ li th́ làm sao so được vi Lưu B khi phi b Tân Dă sang Phàn Thành, b Tương Dương qua Giang Lăng, c̣n c d́u già git tr qua đ̣ hay bt các tướng trông nom trăm h đi. Tôi thy ai ny đều chán ngán. V́ vy ngay sau đó tùy hoàn cnh mà t lo ly thân, người tr li thành th, người v nơi hu phương xa xôi. Mi người phân tán đi mt ng, và bà con có người măi đến nay cũng chưa có dp gp li nhau.

 

             T quê ni, trong đêm 19 tháng 12 năm 1946, tôi đă nh́n thy phía Hà Ni rc cháy, c mt vùng tri ch́m trong khói la. Tôi được nghe nhiu giai thoi v chiến công oanh lit ca Trung Đoàn Thủ Đô, v nhng k tích ca các tướng Nam Long, Song Hào trên đường s 5, v trn đánh cm t ca V Quc Quân vào phi trường Gia Lâm, v s hy sinh anh dũng ca Tiu Đoàn Trưởng Lê Tôn Hy vùng Bn Yên Nhân. Và nhng bài hát ca tng anh hùng thi đó, v mt nhi đồng cu quc Anh Kim Đồng ơi, anh Kim Đồng ơi, v mt nhóm chiến sĩ chng Pháp B́nh Xuyên, B́nh Xuyên oai hùng muôn năm! Sau này có bài hát địch vn Ngn trào quay súng khuyến khích thân binh tr v min quc gia t do, các bài báo tuyên truyn tiếng Pháp c̣n khuyên dân chúng không nên dinh tê v thành. Quê ni tôi đă b tàn phá ngay trong tết tn cư đầu tiên, c chc t v làng mà đa s là thanh niên thủ đô b gic giết hi nơi các giao thông hào. Ch ít lâu sau, làng Xuân Cu tr thành làng t, nhưng dân cư đă đi lánh nn gn hết. Ri có mt ngày đẹp tri tôi liu v thăm gia đ́nh chú Mỹ ở li, để thy cnh dân cư thưa tht, xóm làng tiêu điu sót sa. Căn nhà tôi nay hoang vng, sân trước sân sau lau sy mc um tùm, thân cao ngp đầu người, che hết c li đi. Cho ti cui năm 1950, thi ca chính quyn quc gia, tôi li t Hà Ni v thăm làng, th́ người xưa cnh cũ tm hi phc dn dn. Thế mà ngay sau hip định Genève năm 1954, b tôi cho biết làng Xuân Cu cách mng này đă b bom đạn ca gic Pháp san bng. Làng ca các anh em h Nguyn như Nguyn Công Hoan, Nguyn Công M, Nguyn Công Miu (Lê Văn Lương). Ca các con cháu dược sĩ Qun Trng Tiến, thân ph giáo sư dược khoa Qun Trng Lng. Ca các anh em h Tô như Tô Hiu, mà có lúc người ta đồn rng s ly tên ông đặt cho thành ph Hi Pḥng, ca Tô Đim (Tô Quang Đẩu) ch tch y Ban Hành Chính Kháng Chiến Liên Khu Ba, ca Tô Dĩ (Lê Gin) Tng Giám Đốc Công An Cnh Sát chính ph Dân Ch Cng Ḥa. Đến thi ci cách rung đất, nhà th h Tô b chia cho người khác , nhà ca rung đất ca gia đ́nh tôi c nhiên không c̣n na!

 

             Lúc nh, tôi đă vào nhà th họ đôi ba ln khi anh Trưởng Anh c̣n lo trông nom. Nhà được xây theo h́nh ch công. Tr nhng dp gi tết đèn nến sáng choang, c̣n ngày thường tôi cm thy s st v́ nơi th phng ln rng, li hay để ti om. Có treo nhng bc hoành phi:  

Thanh môn văn thái

Tích thin thành đức

Vũ l lưu căn

và rt nhiu câu đối:

 

Đại gia khoa hon truyn giang bc

Ngô bi cm thư đáo hi nam

Gia miếu trùng tu, chính Khi-Định vn niên chi ngũ

Ngă Tô đắc tnh, t Lê-triu triu thy chí kim

 

             Theo Tiến sĩ Trn Huy Bích, th́ câu đối th nht nói h chúng tôi có l xưa kia min Giang Bc, tnh T Xuyên bên Tu. Con cháu mang đàn và sách xung min bin phía Nam. Câu đối th hai t nhà th họ được trùng tu vào thi Khi Định. Nơi quê ni, tôi nh nht bà By, bà v th ca c c Tô Nha. Bà hin t vui tính, thường cho tôi ăn nhng ba cơm mùa nào thc y ngon lành, và hay k cho tôi nghe dăm ba câu chuyn thôn xóm. Tôi cũng khó quên có nhng ngày tết chơi rút bt hay tam cúc, ngày hè câu cá bn chim, cùng các anh ch em trong h t các thành ph v thăm làng. Các em Yên, Thch con chú Phng. Các em Phc, Su, Thế, Nam con chú M. Các em Hi, Nghiên, Hng con chú Tham Kha. Ch Tá con bác hai Mai. Các anh ch con bác m Tut, bác Văn Hi, bác ba Phượng, bác tư Khi, bác Úy. Các anh ch em cùng tui tôi th́ rt nhiu, có các em Phc, Quân, các anh Long, Nhân, các ch Thi, Thanh. Mt đàn gà tht đông, v́ chúng tôi cùng tui Quư Du! Nhưng thân nht th́ có anh Nhân, ch Thi. Anh Nhân hc trường Albert Sarraut ri sau tt nghip trường Hi Quân Brest ca Pháp. Nhà anh khu Ct C, và là mt trong nhng bit thự đẹp nht Hà Ni. Ch Thi ly Nguyn Đ́nh Long, em ông Nguyn Đ́nh Thun, B Trưởng Quc Pḥng thi đệ nht Cng Ḥa. Lúc di cư anh Long li ngoài Bc, ch phi theo gia đ́nh nhà chng vào Nam cùng vi mt đứa con nh.

 

             Quê ni tôi chính là quê ngoi anh Đặng Trn Phiến. Anh nng t́nh vi Xuân Cu hơn ai hết trong tt c anh ch em trong h. Tôi không th viết v quê ni tht hay và đầy t́nh t như bài Nng Quê Ngoi ca anh. Anh trng tro như con gái, ăn mc đúng điu công t Hà Ni, tóc chi bng bnh bóng mượt. Sut ngày ch thy anh ca hát, nhng bài như Trương Chi, Sui Mơ ca Văn Cao, T́nh Quê Hương ca Vit Lang, Đêm Đông ca Nguyn Văn Thương, Con Thuyn Không Bến, Git Mưa Thu ca Đặng Thế Phong. Ri li viết chuyn, làm thơ. Bút hiu anh là Băng H, ly t câu Nht phiến băng tâm ti ngc h ca Vương Xương Linh. Anh thường đi chơi chp nh cùng mt vài cô thôn n xinh đẹp. Có th anh tiêu biu cho các cu m cô chiêu, lc lơng trong thi kháng chiến. Tôi c̣n nh mt bài thơ quá lăng mn ca anh:  

Anh là mt gă thư sinh,

Tóc xanh nhum mu gió bi.

Gp ngày la cháy kinh thành,

Ct bước ra đi hn ti.

Em là cô gái tuyết sương,

E p t́nh xiêm chăn gi.

Sm chiu hát gia quê hương,

Xuân đời va hai mươi tui.

Hôm nao hoa cười nguyt nói,

Gót chân mi mt cuc đời.

Anh v t́m em ngơ ngn,

Gp em, em đẹp em ơi....

 

Mai đây đô thành ánh sáng

Cười vui đón gót lưu ly,

Dang tay hn cùng năm tháng,

T́nh ta đẹp gia kinh k.

             Nh có anh mà khi tn cư tôi được đọc v kch Nhng Người Li ca Nguyn Huy Tưởng, viết v s bt khut ca người dân phi sng trong vùng địch chiếm đóng. Cnh hung ca gia đ́nh bác sĩ Thành, bè bn, sinh viên li Hà Ni t cui đông 1946 đến gia hè 1947. Cùng cuc chiến đấu ca T V Thành, ca Trung Đoàn Thủ Đô. Cũng nh anh mà tôi đă thuc Bài Hát Ca Người Hà Ni ca Nguyn Đ́nh Thi, nói lên s nh nhung tha thiết ca nhng chàng trai khi ĺa xa thủ đô bùng cháy trong ngày đầu kháng chiến:  

Đây H Gươm, Hng Hà, H Tây,

Đây Lăng H, núi sông ngàn năm.

Đây Thăng Long, đây Đông Đô, đây Hà Ni,

Hà Ni mến yêu.

Hà Ni cháy, khói la ngp tri.

Hà Ni m m rung.

Hà Ni vùng đứng lên!

Sông Hng reo.

Hà Ni vùng đứng lên!...

 

Hà Ni đẹp sao!

Ôi nước H gươm xanh thm ḷng!

Bóng tháp rùa thân mt êm m ḷng...

 

Hng Hà tràn đầy,

Hng Hà cun, ngàn ngun sng, tràn đầy dâng.

Hà Ni vui sao,

Nhng ca đầu ô,

Đây ô ch Dưa, kia ô cu Dn, làn áo xanh nâu.

Hà Ni tươi thm,

Sng vui ph hè,

Bi hi chàng trai, nhng đôi mt nào...

 

             Anh Băng H hi cư v Hà Ni đầu năm 1950 cùng vi chúng tôi, tiếp tc s nghip văn thơ, nhưng đến năm 1954 đă không di cư vào Nam.

             Tết Dương lch năm 1995, chúng tôi có dp v thăm Hà Ni, và may được gp li anh. Anh là người con duy nht ca nhà văn Đặng Trn Pht, tú tài tây hc xut thân t trường Albert Sarraut, và cháu cụ Đặng Trn V, Tng Đốc Bc Ninh. Tuy m côi lúc hơn mt tui, mà gn by chc năm sau, trong cnh mt đất nước nghèo nàn và khói la trin miên, anh đă âm thm sưu tm để ri tng kết được nhng tác phm văn thơ tiếng Vit và tiếng Pháp ca người cha. Anh trân trng tng chúng tôi mt cun sách mc mc chưa kp đóng b́a: Văn thơ Đặng Trn Pht, nhà xut bn Văn Hc Hà Ni, 1994. Đọc Li cui sách anh viết v thân ph, tôi mi h́nh dung được t́nh ph t ca anh to ln vô cùng. Anh phi chp ni nhng chuyn k li t bà m và h hàng ni ngoi, ri to ra mt h́nh nh v người b, để mà sng bng nhng k nim trong khung tri tâm tưởng y. Thân ph anh là nhà văn viết xă hi tiu thuyết sm nht, vi Cành Hoa Đim Tuyết, xut bn năm 1921 và Cuc Tang Thương năm 1923, cùng thi vi Hoàng Ngc Phách viết T Tâm xut bn năm 1925. Và v́ được m nuôi dưỡng, nên anh rt nng t́nh quê ngoi Xuân Cu. Năm ngoái, anh li gi cho tôi cun Phượng ơi! mùa dĩ văng, do nhà xut bn Văn Hc Hà Ni, 2002. Đây là tuyn tp nhng truyn ngn ca anh trong thi hi cư 1950-54 ti Hà Ni, trong có bài Ḍng mc đầu năm viết riêng v thân mu anh, bà Tô Thch Lan.  

         

 

    Mt người mẹ đă phi lng l t khước biết bao nhiêu chân t́nh để mong khi phi đi bước na, v́ s anh phi kh hay phi ti vi người b dượng. Mt người m ch cu cho anh sm yên b gia tht để có con ni dơi tông đường, v́ lo anh quá mit mài vi nghip chướng thi văn. Ri trong cnh m góa con côi y, git nước mt ca m lúc nào cũng là h́nh pht mà anh s hăi nht. Đọc xong, tôi li càng mến phc anh thêm v́ t́nh mu t rt đặc bit này.

 

 

 


Vài ḍng về họ Tô

 

             Lúc nh thnh thong tôi cũng được b tôi cho biết qua loa v gịng h, nht là nhng chuyn v c Tô Huân, Phó bng khoa Mu Th́n. C Huân đă viết gia ph h Tô Xuân Cu vào năm Tự Đức th 23 (1870), k từ đời c đời th năm tr v trước. Bn bng ch nôm này được Vin Nghiên Cu Hán Nôm dch ra vào năm 1999. Theo c, nếu không có vic thut li mà lưu truyn th́ sau ly ǵ mà làm bài hc cho con cháu? Cụ đă viết “Có cái ban đầu mi có cái ngày nay, có cái ngày nay mi có cái mà truyn v sau. C nhân ngày xưa trng cây đức để đợi đời sau báo đáp. Và làm rng r gia ph cũng là mt c gng ln ca con cháu nhm ghi li ân đức ca ông cha”. Thi trước, trong h cũng có nhiu c thành đạt. Đến đời th hai có cụ được lưu hc ti Quc T Giám, có c mi 16 tui đă đỗ tú tài, được gi là kho sách ca Kinh Bc, và thường giao du vi các con cháu c Trng Tŕnh. Vào năm 1989, các c trong h cùng b tôi đă viết li gia ph gin yếu bng quc ngữ để cho con cháu d ghi nh, k từ đời c Tô Huân là đời th năm tr v sau. Tôi là cht ca c Tô Huân, thuc chi th ba.

 

             Tôi được b k cho nghe chuyn him khích gia người Bc người Trung khi c Huân làm Phó Ng S ti Huế, chuyn để thành ph b Pháp chiếm đến ni phi cn lưỡi t t khi c làm Qun Đạo Hà Tĩnh. May mà c có th dân cu sng, nuôi dưỡng c năm tri, và ri được nhà vua ân xá. V sau cụ được vi ra làm Đốc Hc Sơn Tây ri Đốc Hc Hi Dương. Ti đây, c có dy được nhiu hc tṛ thành đạt. Nhưng vinh hin nht là Phó Bng Phm Văn Th sau làm đến H B Thượng Thư, Cơ Mt Vin Đại Thn. C Th thường xuyên thăm hi thy hc cũ, và coi c Huân như nghip sư ca c. Tht là mt cnh cm động và quí hóa. Tôi có hc cùng và quen các cháu c, các anh Phm Công Lăng, Phm Ngũ Tùng con ông Th Hiến Bc Vit Phm Văn Bính. Vào năm 1997 San Diego, tôi may mn được các anh ch Phm Văn Vit và Nghiêm Xuân Húc ti thăm và cho đọc Đàn Viên Kư c Lc ca c Phó Bng Phm Văn Th do Phm Văn K sao trích ti Hà Ni, 1981. C Th có thut li li tiên tri ca ông thy hc qua bài thơ sau, là khoa tuy Phó Bng, nhưng hon th́ vn có thể được d yến Qunh Lâm. Và đây cũng là bài thơ duy nht mà tôi may có được ca c Tô Huân:  

Long vân tương hu mng

Giáp tư qu phùng thn

Bch phát tiu dư văn

Hng chương đắc t tân

Mc trang di chí phó

Khoa thch tráng đồ chân

Min min tin tŕnh đại

Qunh lâm tng th xuân

Nghĩa là:

Rng mây ng mng tt

Độ s nhm khoa xưa

Tóc bc, t già c

Bng son, anh tr thơ

Nn nho ḷng đă tho

Thm đá du c̣n trơ

C gng đường c̣n rng

Yến qunh vn đợi ch

             Ông ni tôi là Tô Thiu, sinh năm 1868. Ông tôi mt sm, b tôi được bác rut là c Tô Nha, c nhân khoa Canh Tư năm Thành Thái th 12 (1900) trông nom. Bà ni tôi là Nguyn Th Tư (1869-1937), thuc chi c nghè Nguyn Gia Cát. Lúc bà ni mt, tôi c̣n quá nh không biết được ǵ.

 

             B tôi d tính và qung giao. Trong nhng ngày tao lon, ông dy tôi v toán hc, khoa hc, và văn chương Pháp, nh vy tôi mi đậu đạt được. Hà Ni, ông có nhiu dp cho tôi đi ăn ung cùng, ch cá Lă Vng, cơm Siêu Nhiên, Đông Hưng Viên và Lc Quc Đại Tu Gia. Mt đôi ln ông k chuyn v ḍng h, nhưng tôi vn cm thy ông có v hơi nghiêm khc và xa cách. V́ h Tô viết có b tho đầu, nên tên Đồng thuc b này. Người trong họ đông dn nên mun đặt tên trong b này cũng khó kiếm ra ch. Nhng thi trước, cũng có người ly h Tô ca m, cũng có người cho rng con gái h đảm đang. Nhưng nhiu người tin rng h Tô ch đất dy hc. Khi tôi va đậu Toán Hc Đại Cương ti trường Cao Đẳng Khoa Hc Hà Ni năm 1952, bác kư Ch, mt người dâu h Tô, có bo tôi rng cháu có hc ǵ đi na th́ cũng đến làm thy giáo, đất h nhà ta mà! Nghĩa là ch làm ngh bc bo mà thôi. Tôi nghe nói đâm ra nn chí và lo nghĩ. Năm sau tôi theo hc ngành Dược ri li thi vô Quân Dược th́ làm sao c̣n hành ngh nhà giáo được? Thế mà li tiên đoán y ri sau cũng có phn nào đúng đấy. Lúc đậu Hun Đạo hng nht, b tôi cm thy bun v́ trong h ch có ông là ra làm quan vi Pháp. Khi hip định Genève được kư kết, ông đang làm Trưởng Ty Tiu Hc Hà Đông, nhưng không mun vô Nam. Tôi nghĩ có nhiu lư do, v́ ông tiếc nhà đất mua ti Hà Ni và Hi Dương, v́ ông cho rng đời sng min Nam sô b khi ông đă có dp thăm viếng vào lúc trước, v́ ông tha thiết vi bà con quê hương min Bc. Và cũng có th ông tin rng ch sau hai năm là tng tuyn c và thng nht. Nhưng lư do chính có l v́ nghĩ con gái ḿnh theo kháng chiến thành công mà sao ḿnh li n b chy? Tôi đoán ông quí con gái hơn con trai, cho rng nước ta làm con gái thit tḥi quá nhiu, v́ thi tôi vn c̣n thy chế độ đa thê và các cuc to hôn. Riêng v tôi, ông tin rng tôi tuy khó tính nhưng được cái dè dt và ôn ḥa như ông!

 

Quê ngoại  

 

             T quê ni sang làng Kim Ngưu chng mười cây s, thường chúng tôi đi mt mt bui. Làng này nh và nghèo, lũy tre bao chung quanh, có mt s nhà gch, c̣n phn ln là nhà tranh. Đường làng chy ngang dc bng gch, nhiu đon do ông bà ngoi tôi xây ct. Dinh cơ bên ngoi tôi ln nht làng, gm nhiu nhà trên mt khu đất vuông vn hai mt đường. Nhà chính hai tng thông lin vi nhà th ba gian có hàng hiên dài, có gian để sn hai chiếc quan tài s dùng cho ông bà ngoi. Tôi không hay bước vào nhà th v́ s hăi cnh nơi th phng ti âm u, ca đóng then cài im m. Hai nhà ngang ct dưới thp sát lin hai bên cng có nhiu gian, có gian để nhng cót thóc cót ngô, bồ đỗ b go, có gian để dng c cy ba, có gian để ci xay lúa, chy giă go. Nhà ngang trên phía sân cao có nhiu pḥng, treo hoành phi câu đối, chính gia đặt b tràng k, hai bên kê nhiu tm ghế nga. Cũng có mt vài hoành phi ca b tôi mang t tnh v, như Thi Thư Th Bo và Thi Thư Thế Trch. Lúc tn cư, gia đ́nh tôi được căn nhà ngang này. Sân trước thp nhưng tht rng, để phơi thóc lúa vào nhng ngày mùa. Sân trên cao hơn gn c thước nhưng nh hơn. Nhà bếp riêng rt rng, ca bên thông sang mt vườn nh có vi, chum, b nước. Người ta thi cơm bng nhng ni ba mươi đặt trên nhng ông đồ rau to tướng để cho người làm công ăn lúc tng sáng, trước khi h ra đồng làm rung. Có vườn trước trng nhiu cây su tht cao, vườn sau có cây nhăn và mt b ln cha nước mưa. Có chung ḅ, chung ln, sân bên cha đống rơm đống r. Chung quanh dinh cơ rào kín, lũy tre dy đặc, trên cng vào có tháp canh để đao kiếm cung n. Nếu đóng nhng cánh cng g lim nng n li th́ ni bt xut, ngoi bt nhp! Nhà c̣n nuôi mt đàn chó d. Xưa kia khi tôi v thăm bà ngoi, mi ln thy chó sa gm g là kinh s quá sc, chân ríu li, tay bám cht ly người ln!

 

             Khi ông ngoi tôi mt vào ngày 8 tháng 4 năm t Du 1945, lúc đó được coi là ngày Pht Đản, tôi đi theo b m về đưa đám. My ngày lin nhà bếp m ḅ m ln, c̣n nh dành riêng cho tôi my chiếc bong bóng ln để đem phơi khô thi làm bóng đá. Trong sân dng nhng rp tht ln để đón tiếp quan viên mi nơi đến tin đưa, phúng viếng. Ri người ta ăn ung, nói năng n ào, tiếp theo nhng đợt khóc lóc, kèn trng m ĩ. Có các c rượu vào mt đỏ tía tai, ăn nói ḥ hét hăng say trong mâm c. Mi bui chiu, nhng nhà bếp gii chuyên cht tht thành tng miếng đều đặn, ri chia ra thành phn. Mi phn là mt xâu tht đủ loi, có tht th, tht m, tht nc và mt nm xôi. Quan viên mang phn ra v, tùy theo vai vế được ly nhiu hay ít. Lúc này đang có nn đói, người ăn xin mi nơi đổ v ngi cht c quăng đường t nhà đám ra đến cng làng. Mi khi cng nhà m bui chiu, người nhà phi mang tng thúng cơm ra phân phát trước cho hành kht. Tuy thế mà các quan viên lúc ra v vn phi tay đưa phn chia lên quá trên đầu v́ s b git!

 

             Cũng ti ông bà ni tôi mt sm nên sau đám tang ông ngoi, tôi ch c̣n được chuyn tṛ vi bà ngoi. Mi ln v quê thăm bà, tôi li được ăn cơm riêng cùng bà. Cơm go d thi niêu đất, thc ăn thơm ngon tinh khiết. Bà sinh mt trai là bác Hu, mt gái là m tôi. Bà có nhiu cháu, nhưng có l quí tôi nht, v́ bà thương m tôi hơn hết, lúc nào cũng gi cô Hun cô Hun. Và tôi, nhc đến t́nh quê, li bâng khuâng nghĩ ti thi thơ ấu khi c̣n được gn bà ngoi thân thương. Hi tn cư, gia đ́nh tôi được căn nhà ngang bên ngoi trong hơn bn năm, nên tôi may mn có thêm nhiu k nim tht đẹp v bà ngoi. Ti đây, m tôi c̣n by tám mu rung cho cy r, đỡ lo miếng ăn. Dinh cơ ch có hai gia đ́nh, bên bác tôi và bên m tôi. Bác trai lên dy hc trên Yên Phong, Bc Giang, anh K theo bộ đội để vợ ở li vi my đứa nh, anh Nhương đi hc trường Đào Giă Phú Th. nhà ch c̣n hai bác gái, và các con trc tui anh ch em chúng tôi, sng bng my chc mu rung. B tôi cũng ra đi công tác ti Hưng Yên. Khi có dp thun tin, b tôi cho người về đón ba anh em chúng tôi xung cùng để ăn hc. Khi t́nh h́nh bt n li gi chúng tôi v quê ngoi. Ch tôi và em Yên con chú Phng đă theo chú lên Tuyên Quang t ngày đầu kháng chiến. Lúc đó, bà ngoi tôi tr thành ct tr tinh thn cho cả đại gia đ́nh. Bà bo chúng tôi có ǵ đă có bà! Lâu lâu mi thy bà chng gy đi thăm rung vườn và bà con li xóm. Cũng có khi đi ra sinh phn coi m ông ngoi. Nhng ngày gic v càn quét, sau khi dn ḍ con cháu n np cho k, bà tôi ngi li mt ḿnh trong căn nhà gác, thn thái ung dung như không biết s mũi tên ḥn đạn. May mà con cháu không ai b gic giết hi. Ln anh K bị đạn liên thanh ca địch xuyên thng đùi ti mt trn, nhưng may không trúng vào xương, được đem v nhà dưỡng sc my tháng, sau li tr v bộ đội. Phúc đức chăng? Đố ai mà biết được! Có ln gic ti làng Đa Ngưu kế cn, mt làng giàu nht vùng này vi đường gch, nhà ngói san sát. Đây là quê ca nhiu người dân ph hàng B và Phúc Kiến Hà Ni, và cũng là quê ca sinh viên trường k sư công chánh Phó Đức Chính, mt đảng viên cách mng Vit Nam Quc Dân Đảng, mt trong mười ba người lit sĩ Yên Bái. Chúng đốt phá nhà ca tan hoang, bn giết và hăm hi nhiu dân lành. Hôm sau tôi đi ch Trâu tt qua thăm, c̣n thy gia súc cháy xám chưa kp thu dn, sinh vt chết chương ph́nh bên đường, đống rơm cót thóc khói lên âm . Ôi, cnh tàn phá chết chóc nơi quê hương này thy mà biết bao hăi hùng chua xót!

 

             Ch mt vài năm sau ngày toàn quc kháng chiến, làng Kim Ngưu tr thành làng t. Ban ngày có lư trưởng để giao dch vi quân Pháp và chính quyn quc gia. Ban đêm th́ bộ đội v làng, sinh hot và n np cùng dân chúng. Lúc này tôi có dp được đọc nhiu loi chuyn, tp chí, sách báo thi đó. Có tp truyn Nhng Cnh Hoang Tàn Đế Thiên Đế Thích t cuc sng mai danh n tích ca mt chàng trai cách mng, nhn làm công cho mt gia đ́nh khá gi vùng Bin H. Trong tp chí Tri Tân, có chuyn Đêm Hi Long Tŕ k mi t́nh oan nghit gia qun chúa Qunh Hoa, ái n ca Tĩnh Đô Vương Trnh Sâm, vi Bo Kim, v́ b cu tri Đặng Lân em ca Tuyên Phi bc hi. Có sách v tính dc Nam N Pḥng Trung Bo Him.

 

             Tôi đă hc được trong sách báo đông tây kim c biết bao nhiêu điu hay th l xưa nay. Có lúc tôi cũng ph giúp m tôi trong vic bếp nước, như làm tương, làm mm, mui dưa, mui cà. Ngày giáp Tết th́ tước ng giang làm lt, ct lá dong, thi đậu, ngâm go nếp. Ri giúp m tôi gói nhng chiếc bánh chưng vuông vn và trông ni luc bánh đêm ba mươi. Tôi cũng hc đ̣i ph vi người làm để đi tát nước vô rung, biết dùng gu giai, gu ṣng. Ri xay lúa, giă go. Ri trng cà, trng ngô, trng lc. Mà đời sng thôn quê nhiu lúc tht là thanh thn, tôi đă quên đi tiếng động n ào ca xe c, tu bè, máy nước và quên luôn c ánh đèn thành ph. Tôi c̣n nuôi được mt đàn vt my chc con, cho ăn ngô ăn thóc, chúng ln nhanh như thi. Lúc tri mưa th́ tôi đội nón lá, tay cm cn tre đầu buc mt túm vi vn để lùa vt ra đồng rung bt giun. Dân làng trông thy thường ví đùa tôi chăn vt vi ông Tô Vũ chăn dê! Tht ra, tôi đă sng nơi đây trong khung cnh tuyt đẹp hương quê, và được hưởng tràn đầy t́nh thương ca bà con li xóm. Nhưng thú nht là tôi gây được mt đàn gà hai ba chc con. Có nhng con trng tht đẹp mă, lông óng mượt, mào đỏ chót, ca sc, dáng đi hiên ngang. Tôi gi tên là Mă Siêu, Trương Phi, Triu T Long, Hoàng Trung, như người hùng thi Tam Quc. Riêng hai con trng hin lành b tch thư sinh, chân cao, là Liêm Khê và Hi Ngc, thường đi thư th theo sau mt con mái vàng tuyn, chân thp, là L Dung. Tên chúng được đặt theo mt truyn t́nh cm cách mng ca Nguyn Công Hoan. Lâu dn my em tôi cũng nh tên ca đám gà này, con nào đi lc, con nào đă v chung là có th biết ngay. Nhưng ri mt trn dch làm gà toi gn hết, tôi li không biết cách cu cha ra sao, nên chán chng bun nuôi na.

 

             Câu chuyn thi tn cư th́ k sao cho hết. Mt ln có bộ đội v làng ăn my ba, và hôm y người ta làm l xut quân. Ti mt sân đất rng ca nhà mt bà m nuôi, tri ti m m không trăng sao, my chc anh em du kích gác súng, ngi quây thành ṿng tṛn. Ri k chuyn đời chiến khu, hát các khúc quân hành, và ha s phá đồn gic ti huyn Văn Giang trong đêm. Có đông dân làng ngi nghe, im lng thán phc. Tôi được cử đứng lên hát bài Chiến sĩ vô danh ca Phm Duy để tin đoàn trai tr ra đi trong muôn li thiêng c̣n vang:  

M trong bóng chiu

Mt đoàn quân thp thoáng,

Núi cây rng

Lng tiếng nghe h́nh dáng,

Ca người anh hùng

Lnh lùng theo trng dn,

Trên khu đồi nương

Im trong chiu buông.

Ra biên khu trong mt tri sương âm u,

Âm thm chen khói mù.

Bao oan khiên đang về đây hú vi gió,

Là hn người Nam nh thù.

Khi ra đi đă quyết chí nuôi căm hn,

Muôn li thiêng c̣n vang

Hn qut cường c̣n mong đến phút chiến thng,

Su hn đời nut tan

Gươm anh linh, biết bao ln ung máu

Làm sác xây thành.

Thi gian lung nhng vô t́nh.

Rng trm phai sc

Thp thoáng tàn canh,

Hi người chiến sĩ vô danh!

             Ngày hôm sau và nhng ngày sau đó, tôi có ư nghe ngóng tin tc, php phng lo s cho tính mnh người V quc. Nhưng ri không thy đồn gic b phá, nên làng cũng may không b Pháp tr thù.

 

             Huyn Văn Giang có mt khu ch, mà hi mi tn cư, m tôi có dn mt gian hàng xén nh, để kiếm thêm ít tin tiêu cho gia đ́nh. Hàng hóa th́ mua ca bác Úy gái mang t Hà Ni v, đủ th vi vóc, kim ch, bút máy, bút ch́, bt la, đá la. Vào nhng ngày phiên ch, người làm là anh Phúc quy gánh hàng theo m tôi lên huyn. Lúc ch chiu anh li đến dn dp ri quy hàng v nhà giúp m tôi. Thnh thong tôi theo m lên ch ngi ph bán hàng. Mi khi bán được mt si giây dù, mt sp vi, mt tp giy, ch li dăm ba đồng bc là thy tht yêu đời. Có mt ln tôi lên ch t sáng sm. Đột nhiên người trong ch chy nhn nháo, ri có tiếng c̣i, tiếng súng n, tiếng đóng ca m m. Bác Úy vi vàng lên xe ca theo các bn hàng tr v li Hà Ni. Tôi thy mt chiếc cáng chy qua, ch mt người lính ngy va b du kích quân đâm mt dao lút cán, máu chy lênh láng. Lính trên đồn ta xung bao vây quanh ch ri bt tt cả đàn ông con trai v doanh tri bên huyn. Tôi cũng không thoát và b bt ngi sut ngày trong sân nng, chờ đến lượt b hi khu cung. Lúc tri đă nhá nhem ti mi được th ra v. Tôi mng mun khóc v́ gp li m tôi c̣n đang đứng lóng ngóng ch nơi cng tri! Đêm khuya hai m con mi dt nhau v ti làng Kim Ngưu. Từ đó m tôi không cho tôi ph giúp bán hàng na, bà gi ba anh em trai chúng tôi xung Hưng Yên đi theo b.

 

             Có mt ngày va sang h, rung c̣n ngp nước và lúa đang mc xanh um, gic bng tràn về đốt phá nhng huyn phía nam tnh Hưng Yên. Lúc đó c̣n m m ti, tri sp rng đông. Dân chúng nghe tin s hăi, n núp trn tránh quanh qun. Hoc lũ lượt bng bế nhau thoát ra khi làng. Bn bề đều có la cháy, súng n. Ba anh em tôi vi chy ra gia cánh đồng, núp yên trong mt tha rung. Măi ti quá trưa, nng đă xiên quai, mi nghe im tiếng súng. Nh́n xung chân, cả đám đỉa đen ng̣m bám vào mà không hay biết. Gt xung đất thy chúng no tṛn v́ đă hút máu tha thê! Tuy c ngày không có mt ht cơm trong bng mà v́ s hăi nên không thy đói. Tôi tính phi t́m đường v li ngay quê ngoi, dù cách xa ngoài hai chc cây s. Thôi đành đi theo hướng nhng h́nh dáng m xm quen thuc vươn lên tng cao ca nhà th, cây đa, rng tre, hàng cau, nghĩa là da vào h́nh bóng riêng bit ca làng mc hin ra phía chân tri. Tay git em Đằng, có lúc lưng phi cơng em Giang, chúng tôi ln theo đường rung, đường làng, băi hoang, gn đến ti đêm mi v ti Kim Ngưu. Gp được người làng mà ḷng mng vô hn, như con tr bt được cái đinh, như người ln bt được ca. M tôi có tin vùng dưới b càn quét, nên khi thy chúng tôi về được b́nh yên, đă thp hương lâm râm khn vái cám ơn Tri Pht. Chúng tôi tht đúng như nhng con chim nh di trôi dt trong cơn băo táp, may mà c̣n t́m v li được tổ ấm.

 

             Nhng k nim khó quên ngày tn cư làm tôi thân thiết nhiu vi h hàng bên ngoi. Các ch Phi, Kha, Đĩnh, Phú, Lê, Cnh, các anh K, Nhương, T, Chi con bác Hu. Các em Ty, Tèo, Kha con chú Vin. Và biết bao bà con li xóm!

 

             Ông ngoi tôi là Chu Thế Trường (1864-1945), đậu c nhân khoa Quí Măo, năm Thành Thái th 15 (1903) làm Hun Đạo huyn Bch Hc, Vĩnh Yên. Bà ngoi tôi là Nguyn Th Vũ (1867-1952). Khi bà mt, dù t́nh h́nh quê ngoi đă mt an ninh và rt nguy him, b tôi t Hà Ni cũng c tr li Kim Ngưu để đưa tin bà v nơi yên ngh ngàn thu. Bà được chôn gn ông, trong mt sinh phn đă xây t lúc ông bà c̣n sng. Thi ci cách đin địa, nơi này cũng b phá hy. Hơn năm chc năm sau, nghĩa là va mi đây, con cháu đă phi dùng phương pháp riêng ca nhà Pht để t́m kiếm li phn m.

 

M tôi tuy không đảm đang tài gii nhưng hin t và rt khng khái.

 

             quê ngoi trong nhng ngày tn cư thiếu thn, m tôi vn gi mt cuc sng độc lp, làm ăn buôn bán thêm v́ không mun nh cy ai. M tôi cũng ít ghen tuông, để b tôi trong thi b́nh được t do gii trí t tôm, tài bàn, cô đầu hay th thao cưỡi nga, qun vt. Có th v́ vy tôi chưa thy b m tôi to tiếng hay căi nhau bao gi. M tôi nh́n đời bng con mt b́nh thn, và không my khi lo nghĩ. Tuy tha hưởng tính khí khái và trí nh phi thường ca m, tôi li d lo âu như b tôi. V h́nh dng, tôi ging m tôi được đôi mt!

 

T́nh quê hương

 

             Ai nói đến quê ni quê ngoi, mà không thy cnh quê hương êm đẹp, t́nh quê hương thân thương. Tôi cht nh có ln bác Tiên Đàm Nguyn Tường Phượng đă bt tôi t cnh quê nhà trong mt mùa thu khói la, da vào hai câu Kiu ca Nguyn Du:

 

Thú quê thun húc bén mùi

Giếng vàng đă rng mt vài lá ngô

 

             Câu dưới ly t Ngô đồng nht dip lc, thiên h cng tri thu th́ tôi d hiu. Mt lá cây ngô đồng rng xung, ai mà chng biết mùa thu đă ti. Min Bc đông hàn, h thử, xuân ôn, thu lương, có mùa đông rét mướt, mùa hè nóng nc, mùa xuân m áp và mùa thu lnh lo. Riêng mùa thu là tiết tri nh nhàng êm du nht. Để nht lá vàng rơi sau cơn gió thong, để câu cá nơi ao h nước trong leo lo, để ngm trăng rm sáng ngi tṛn trĩnh. Hay d coi nhng đám cưới thôn quê, vui v nhn nhp ngay c thi bui đang gic dă. Nhưng c̣n câu trên có rau thun và cá húc, chng hiu có phi là rau rút và cá riếc trong mùa thu không? Tôi đă c viết được mt hai trang, k thêm nhng món ăn quê vi canh cua rau rút khoai s, canh cá rô rau ci, tht ḅ xào rau cn. Khói la đâu phi lúc nào cũng làm gim được thú quê!

 

             Nhưng làm sao nói hết v t́nh quê hương hay đất nước được, nếu không có nhng bài ca tuyt đẹp ca Hoàng Trng, Thm Oánh, Phm Duy, Châu K, Hoàng Thi Thơ, cùng nhng li sau đây ca Hoàng Quí:

 

Quê nhà tôi chiu khi nng êm đềm

Chy dài trên khóm cây, đàn chim ríu rít ca

Bao người ra ngi hay đứng bên thm,

Chuyn tṛ chung vi nhau đời sng thn tiên...

 

Vit Lang:

 Ngàn dâu xanh ngát, my nếp tranh xa m,

Tiếng sáo bay dp d́u đường v thôn xưa...

Ta ra đi, mt chiu thm vang li ca bun trong khóm lá,

Ni u hoài, ngày tháng khôn nguôi...

 

Chung Quân:  

Làng tôi có cây đa cao vút tri xanh,

Có sông sâu lơ lng vn quanh, êm xuôi v Nam.

Làng tôi bao mái tranh san sát k nhau,

Bóng tre ru bên my hàng cau, đồng quê mơ màng...

 Hoàng Giác:  

V quê xưa để sng êm đềm gic mơ,

V quê xưa t́m bóng dáng ngày đă qua,

Và say sưa cuc sng bên ngàn lũy tre,

Xa lánh cuc đời kht khe, trăm đau ngàn thương.

Và thơ ca Phan Lc Tuyên, Đan Th ph nhc:  

Anh v qua xóm nh,

Em ch dưới bóng da.

Nng chiu lên mái tóc,

T́nh quê hương đơn sơ...

             Có l tm t́nh đơn sơ ấy đă cho chúng ta bao hoài nim v quê hương, v tui tr. Dù đang sinh sng mt phương tri mi, nơi văn minh tiến b quá sc tưởng tượng ca con người. Vi công viên đẹp đẽ, lâu đài tráng l, nhà ca nguy nga, xe c ti tân. Đầu năm 1995, chúng tôi may mn có dp v thăm quê ni. Nhưng c̣n quê ngoi, biết ngày nào mi tr v thăm được? Li e rng cnh xưa, nay đà đổi khác, và người cũ, biết t́m nơi đâu? Thế th́ lo v mà làm chi? Thôi hăy để cnh sc quê ngoi êm trôi theo ḍng thi gian, và đành gi trn t́nh quê hương trong tâm tưởng!

 

Mùa Giáng Sinh 2003

 

 

 

             

 Xem tiếp CHƯƠNG 4

 

 

 

 

Giáo Sư Tô Đồng
Khoa trưởng
trường Đại Học Dược Khoa Sài G̣n
1974-1975.

 

 

  

 

 

www.ninh-hoa.com