Sống
ở thành thị mà được ngắm trăng rằm thì thật là quí. Sống trên đất Mỹ mà
được ngồi ngắm trăng rằm hàng tháng thì càng quí hơn. Tôi thật là may
mắn, cứ đến ngày rằm, ngồi ngay của sổ ngôi nhà tôi đang ở tôi có thể
ngắm trăng tròn lên sáng đẹp vô cùng. Nhất là đêm rằm tháng tám, trời
sáng trong, trăng treo lơ lững. Nhìn lên bầu trời tôi thấy đúng là Ông
trăng rằm quê tôi. Nhưng nhìn xuống thấp hơn thì không có mái tranh mái
ngói, không có đường làng quanh co, không đàn em bé rước đèn ca hát.
Lòng tôi thấy buồn man mác…Ông Trăng vẫn còn
trẻ vẫn còn đẹp, còn tuổi thơ của tôi chỉ còn trong ký ức…
Khi
tôi có trí khôn để biết Tết Trung thu là tết của trẻ em thì gia đình tôi
lại ở gần đầu cầu Trung Tâm đi về hướng Ninh Hòa, chỉ cách trung tâm khu
phố Dục Mỹ chỉ 400m thôi. Vậy mà ngày Tết Trung Thu anh em tôi phải ở
nhà vui với Ba Má và vui chơi với nhau chứ không được nhập đoàn với các
trẻ em khác ở Dục Mỹ đi rước đèn Trung thu. Đêm rằm Ba tôi khiêng cái
giường bố nhà binh để giữa sân, thêm mấy cái ghế đặt chung quanh cái bàn
nhỏ. Trên bàn có một bình trà nóng, một hộp bánh Trung thu và mấy gói
quà bánh lúc sáng Ba lãnh trong Lam Sơn đem về còn lại - anh em tôi đã
thưởng thức hết bánh ngon chỉ còn lại mấy viên kẹo cứng mà thôi - Lúc ấy
tôi chẳng biết thưởng thức cái đẹp của trăng rằm, mà chỉ cảm thấy vui vì
nhìn Ông trăng giống như một bóng điện khổng lồ treo trên bầu trời soi
sáng khắp nơi. Anh em tôi vui đùa với những chiếc đèn xếp đủ màu dưới
ánh trăng, sau đó được ăn bánh dẻo bánh nướng và lăn quay ra ngủ trên
chiếc giường bố dưới gió mát trăng thanh. Đến khuya Ba tôi bế từng đứa
vô nhà ngủ. Tôi giật mình thức giấc một cảm giác thích thú vì thấy mình
như đang đi máy bay, hé mắt nhìn trời tôi thấy
Ông Trăng đang nhìn theo tôi, mãi cho tới khi
tôi vào hẳn trong nhà Ông mới hết nhìn theo…
Năm
tôi 9 tuổi Bá Má tôi dọn nhà về ở sau lưng nhà thờ Dục Mỹ. Ở đây có đông
trẻ em tuổi chúng tôi, nên Trung thu vui hơn nhiều. Trước Trung thu mấy
ngày chúng tôi đã xăm soi lồng đèn, thường là những chiếc lồng đèn xếp
có in hình bông hoa chim hạc…và những cây nến bé tí đủ màu thật dễ
thương. Xa xa vọng lại từ trường Nguyễn thành Nguyên tiếng trống kỳ lân
đang tập dợt làm nao nức lòng bọn trẻ chúng tôi. Đêm rằm Trung Thu Ba
tôi vẫn chuẩn bị mọi thứ ở ngoài sân như hàng năm. Khi Ông trăng vừa lên
cao trên ngọn thông, tôi vì là chị lớn nên phải dắt một bầy em 4 đứa đi
với bạn bè trong xóm cùng ra nhà thờ để nhập đoàn rước đèn và lãnh bánh
kẹo. Còn ông anh hai thì đã biến đi theo đoàn Lân từ chiều, khi Ông
Trăng còn chưa kịp thắp đèn. Chúng tôi được các anh chị lớn cho xắp
thành 2 hàng dài thật dài. Lồng đèn thì một hàng cầm phía tay phải, hàng
kia cầm phía tay trái để khỏi đụng nhau cháy lồng đèn. Hai hàng dài
ngoằn nghèo đi vòng quanh xóm nhà thờ vừa đi vừa hát. Tết Trung thu
rước đèn đi chơi, em rước đèn đi khắp phố phường… Đi ra đến đầu
đường chúng tôi thấy đoàn rước đèn của xóm chợ bên kia đường cũng dài
ngoằn nghèo, mỗi khi hai đoàn rước thấy nhau thì la hò í ới. Phe nào
cũng rướn cổ hát thật to, rồi chúng tôi đi vòng trở lại quanh nhà thờ
chứ không băng qua đường. Cứ thế hết một vòng lại mong thấy đám xóm chợ
để la hò.
Tôi
vì phải dắt 4 đứa em nên thỉnh thoảng phải thay đèn nến cho chúng thật
là phiền và mệt, cứ đèn của đứa nhỏ nhất cháy trước, rồi đến đèn của đứa
tiếp theo cháy. Cho đến khi cả 5 chị em không còn cái đèn nào thì cũng
vừa tan hàng ai về nhà nấy. Về nhà, tôi khan cả cổ họng, uống vài ngụm
nước rồi ăn bánh Trung thu mới thấy nó ngon ngọt làm sao…Có một năm
không biết sơ ý thế nào mà thằng em tôi cở 7 tuổi, rời hàng chạy băng
qua đường đi tìm tiếng trống và đoàn kỳ lân lúc nào tôi không biết. Đến
khi về không thấy nó, Bá Má tôi phải chạy đi tìm khắp nơi. Cuối cùng mới
tìm thấy chàng ta đang ngồi thút thít khóc trong đồn Quân cảnh. Những
đêm Trung thu chúng tôi đâu muốn đi ngủ sớm, mãi cho đến khi Ba Má bắt
chúng tôi phải đi ngủ, thì Ông Trăng vẫn còn
thức trên cao. Ông nhìn chúng tôi cười như rủ rê… “ các em thích cuội,
muốn lên cung trăng, cứ hỏi Ông Trời cho mượn cái thang…”
Năm
nào cũng vui như thế, cho đến năm 1974 tôi không còn rước đèn với lũ trẻ
nữa. Thằng em đi lạc vì kỳ lân ngày nào bây giờ đã lớn thêm nên phụ
trách dẫn mấy đứa em nhỏ đi rước đèn. Tôi cùng mấy bạn gái và mấy chị
trong xóm như chị Bích Nga em bác Túc gái, con Vị Thủy con Loan con Giao
con Quy con bác Thư …từ buổi chiều đã chơi cắm trại nấu ăn bên hông nhà
tôi, tức là sân trước của nhà ông Đ.úy Túc. Chúng tôi giăng dây màu trên
sân khấu, và làm văn nghệ. Cũng ra trò lắm, khán giả là cha mẹ chúng tôi,
mấy ông bà già trong xóm. Sau buổi văn nghệ, bọn con gái chúng tôi ngồi
trong lều trại ăn bánh. Đang hí hửng nở mũi với những lời khen thì nghe…
bụp… bụp…bụp…liên tục trên nóc trại, trên sân khấu. Các
dây màu dăng trên sân khấu đứt tung, bông trắng bay tứ phía. Hốt hoảng,
sợ hãi chúng tôi vội chạy ra khỏi trại. Sau mấy bụi cây chúng tôi nghe
tiếng cười, tiếng chân chạy của bọn con trai, cầm đầu là ông anh hai
quái quỷ của tôi và tiếng hô to… “pháo kich… pháo kích…” Những
trái bông gòn khô đem đập cho bể ra, mấy tướng dùng để pháo kích
chúng tôi. Chúng tôi đành phải dọn trại dẹp sân khấu. Cuộc vui của chúng
tôi phải đành chấm dứt trong tiếc rẻ. Trên
cao Ông Trăng dường như cũng tiếc rẻ với bọn con gái chúng tôi, Ông nhìn
theo lũ con trai lầm bầm mắng “ Mấy thằng giặc”…
Tuổi
thơ của tôi với Ông Trăng cũng chấm dứt từ tiếng lầm bầm mắng đó. Trung
Thu năm sau đến, chỉ cách mấy tháng sau ngày di tản trở về. Người lớn ai
cũng phải lo làm tập thể, cứ quẩn quanh họp hội, học tập, tính công điểm,
kiểm điểm lao động… Dường như mọi sự đều lạ lẫm lúng túng, hoang mang
hốt hoảng bao trùm đời sống. Chẳng còn lòng trí nào để họ chú ý đến Tết
của bọn trẻ. Không có lồng đèn, không bánh mứt, không hát rước. Chỉ có
mấy anh con trai trong xóm lấy thuốc đạn Pháo binh lượm được trong trại
Pháo binh, cuốn trong giấy bạc (của gói thuốc lá) như viên kẹo rồi đốt.
Thuốc đạn bị dồn ép nên khi cháy bay vèo vèo xem cũng vui mắt. Trung thu
trôi qua thật buồn và lặng lẽ với mùi thơm thơm của khói thuốc đạn. Văng
vẳng xa xa từ cái đài của ông cán bộ trong xóm, có tiếng của mấy
em bé thiếu nhi miền Bắc hát “ đêm qua em mơ gặp Bác Hồ”…Nhà
nào cũng tắt đèn đóng cửa ngủ sớm. Ông Trăng
cũng buồn thiu, lẫn sau đám mây mù Ông Trăng cũng tắt đèn đi ngủ sớm…
Những
năm tiếp sau đó, mong muốn được chơi trăng Trung thu của trẻ em trong xứ
tôi như bừng tỉnh. Bắt đầu có múa lân, trẻ em lại rước đèn. Vào lúc ấy
không ai bán lồng đèn, bánh Trung thu được thay thế bằng bắp rang, đường
thẻ, đường non. Tôi lấy cây sóng lá bẻ khung đèn bánh ú, lấy giấy bóng
mờ - là bìa bao vở cũ của thời học ở THNH mà tôi đã cất giữ rất kỹ - Nay
đành phải tháo ra để phết lồng đèn cho các em. Những đứa trẻ khác không
có lồng đèn thì lấy mấy ống lon sữa bò cũ, cắt dọc theo sườn lon những
đường sọc song song, rồi đè ép hơi thấp xuống để lon phồng ra. Thế là có
chiếc lồng đèn không bao giờ cháy. Lồng đèn lon sữa bò còn được chế biến
thành những chiếc xe đẩy rất ngộ nghĩnh. Để làm chiếc xe đẩy đèn lon,
trẻ em dùng một ống lon còn nguyên hai mặt, xuyên một sợi thép cứng qua
tâm của hai mặt lon như là trục của bánh xe. Một đầu bẻ cong quấn vào
một thanh tre dài để đẩy, đầu còn lại bẻ cong lên trên khoảng giữa của
bánh xe rồi gắn một cái lồng đèn lon vào khúc giây thép bẻ cong
đó. Các loại lồng đèn ú, đèn lon, xe đẩy đèn lon đều được vào xếp hàng
để rước đèn, còn một loại đèn khác đặc biệt hơn thì tuyệt đối
không được vào hàng ngũ vì sợ làm phỏng người khác. Đó là
đèn
đốt bằng lốp bánh xe. Một số trẻ nam kiếm mấy miếng
rẻo của lốp xe người ta đã cắt làm dép râu bộ đội đốt lên và cứ
thế cầm chạy theo đoàn rước, khói đen bay khắp nơi, đêm Trung thu vui và
vương đầy mùi khói khét lẹt. Bài hát Tết Trung thu rước đèn đi chơi…Tết
Trung thu bánh quà đầy mâm không được hát hay không muốn hát tôi
cũng không biết. Thay thế vào đó là những bài hát mới được dạy cho trẻ
em như Ông trăng tròn, tròn như cái mâm con. Ai treo ông cao quá hỡi
ông trăng tròn. Và bài Ai yêu bác HCM bằng các em nhi đồng…
Nhìn
mấy đứa em nhỏ và đàn trẻ trong xứ tôi cảm thấy buồn và thương chúng,
tuổi thơ lam lủ chưa biết gì đến bánh mứt, lồng đèn trung thu. Đối với
tôi, chỉ vài năm tuổi thơ được vui chơi Trung thu cũng đủ để nhớ suốt
đời. Rồi đến những năm 1978-1979 cả nước đói khổ, quê tôi cũng tả tơi.
Để mang lại chút niềm vui cho trẻ em trong đêm Trung thu, Ông Cha xứ trẻ
và các anh thanh niên trong xứ đạo từ ngày hôm trước đã trang hoàng một
chiếc cộ bò bằng những tàu lá dừa. Bọn con gái chúng tôi rang bắp xong
đem ngào đường, gói lại thành những gói nhỏ. Mài khoai mì nướng thành
bánh, cắt thành từng miếng nhỏ. Chiếc cộ bò do người kéo với đèn, hoa,
bánh, bắp rang. Được kéo đi vòng vòng trong xứ phân phát cho trẻ em, trẻ
em đốt đèn lon, đốt lốp xe chạy theo ca hát cũng vui. Ngược chiều với
chúng tôi, đoàn lân đang nhảy múa. Tôi thấy ông địa mập ú ngày nào bây
giờ sao trông ốm tong teo, bụng ông đã độn thật nhiều mà vẫn thấy ốm.
Còn con kỳ lân thì mệt mỏi tội nghiệp, Chắc ban chiều nó cũng chỉ được
ăn vài củ lang củ sắn mà phải nhảy múa giúp vui cho bầy trẻ, nó đang cần
được bồi dưỡng… Ông Trăng xót xa nhìn xuống
và lẩm nhẩm hát theo bầy trẻ “bóng trăng trắng ngà, có cây đa to, có
thằng cuội già ôm một mối mơ…”
Sau
đó tôi sống xa quê, những đêm Trung thu ở Nha Trang, Sài Gòn tôi hay thả
hồn về quê, nhớ Ông Trăng, nhớ đàn em bé. Thế rồi đời sống người dân mỗi
ngày đã một khá hơn. Dép râu đã bị đào thải nên đèn lốp xe cũng
biến mất. Lồng đèn làm bằng khung tre phết giấy bóng kiếng đủ hình dáng
đã được bày bán, bánh dẻo bánh nướng cũng có mặt khắp nơi. Có một người
bạn gái ở Sài Gòn đã dạy tôi làm bánh dẻo, hàng năm vào dịp Trung Thu
tôi bỏ công làm và gởi về quê một thùng với 50 bánh dẻo, các trẻ em hàng
xóm cũng được chia phần. Và Tết Trung thu ngày nay, đèn lồng của Trung
Quốc tràn ngập ở Việt Nam. Loại đèn này thắp sáng bằng pin nên chỉ cháy
bóng chứ không cháy đèn, trẻ em quê tôi gọi là đèn điện tử. Chơi xong
cất sang năm có thể chơi tiếp. Nhưng trẻ con lại không thích như thế, cứ
đến Trung thu lại đòi đèn mới kiểu mới. Nếu các bậc “tiền bối” có bảo “
chơi lại đèn cũ cũng được, hồi xưa Ba Má, cô chú chơi toàn bằng
đèn lon, đèn lốp xe đó thì sao”. Thì các bé thường đáp lại “
Ba Má cứ nhắc ngày xưa hoài, bộ Ba Má muốn tụi con khổ giống dzậy lắm hả”…
Bầy trẻ lại rước đèn, người lớn ngồi uống trà với nhau huyên thuyên kể
chuyện đèn đóm ngày xưa rồi cười vui. Ai cũng công nhận rằng ngày xưa
rước đèn vui hơn, vì đèn mà không bị cháy thì không vui. Tôi cảm thấy
mừng vì ngày nay trẻ em quê tôi đã có lại được niềm vui trong những đêm
Tết Thiếu nhi. Còn Ông Trăng thì dường như
cũng trẻ lại, nhưng từ trên cao Ông ngỡ ngàng xa lạ nhìn những chiếc
lồng đèn… “ hiện đại”…
Những
đêm rằm xa quê hương, tôi hay ngồi buồn ngắm trăng nhớ lại thời thơ ấu.
Chưa đến nửa đời người mà đã có quá nhiều sự thay đổi trong cuộc sống.
Những kỹ niệm giữa tôi với Ông Trăng cũng xoay vần theo. Những đêm Trung
thu nơi đây với bánh ngọt với trà ngon nhưng lòng thấy buồn xa vắng. Lại
mơ nhớ đến quê nhà, thương lắm quê hương đã cho tôi nhiều ngọt bùi cũng
như nhiều cay cực. Nhớ lắm quê hương với những đêm trăng thật vui và có
những đêm trăng buồn day dứt. Ông Trăng vẫn
thân quen và dễ thương như ngày nào, ông đang nheo mắt nhìn tôi như trêu
chọc “ có thằng cuội già…ôm một mối mơ…”

Lan
Đinh
Spolane, WA
Vườn Hoa Văn Học
Nghệ Thuật của Lan Đinh