PHẦN 1
Vật
chứng ấy có từ bao đời trước, mãi đến đời nay người ở đây quen gọi đó là
Đá đầu rồng
“ Thủ
Long Thạch”. Là một tảng đá
không lớn lắm tọa cạnh trái bờ Long hồ, nằm cạnh phải trên con đường dẫn
vào khu suối mát Ba hồ.
Chúng ta ở khoảng cách 30 hoặc 40m mà nhìn vào một mặt của tảng đá trông
giống như nửa má đầu của con rồng.
TRUYỀN THUYẾT:
Thuở đó của bao ngàn năm cũ, có một đạo nhân pháp thuật cao cường đã ngã
lăn ra chết tức khắc khi ông ta cùng lũ môn đệ vâng lệnh vị vua trẻ
Chiêm bang là Thiết Dật Na ra sức phá tán kỳ vật này.
Thực ra trong mỗi chúng ta chưa ai thấy rồng bao giờ, nếu có chăng thì
hình tượng này được thể hiện qua trí tưởng tượng của một nghệ nhân điêu
khắc tuyệt vời, ở một thời nào đó và đã kế tục bởi những nghệ nhân của
từng thời hoàn thiện duy trì, mà hiện nay chúng ta thường bắt gặp hình
ảnh này là di tích văn hóa nơi các cung điện, đền đài của một thời vua,
chúa hoặc những lăng miếu đình thần khắp mọi địa phương trên mọi miền
đất nước chúng ta.
Vật chứng nêu trên đã một thời dân tộc Chiêm bang hãy còn yêu cõi bờ đã
truyền khẩu cho nhau thành truyền thuyết.
Câu chuyện sau đây qua lời kể của một cụ già người Chăm mà rất tình cờ
tôi đã gặp cụ tại quê nhà, vào một buổi sáng tinh mơ, ở một ngày đầu hạ
năm 1956. Năm đó tôi đang theo học một trường tư thục ở thị xã Nha Trang.
Trước buổi chia tay nhau xa cách mấy tháng hè, như bao nam nữ sinh của
bao nhiêu trường lớp khác nhau, từng quyển lưu bút chuyền tay nhau ghi
vội vào đó vài cảm nghĩ của chính mình, mắt bắt mắt, tay trong tay hẹn
nhau ngày tái tựu. Sau đó ai về quê nấy, tản mạn khắp đó đây.
Phú Hữu, Vĩnh Ích quê tôi nay là Ninh Ích. Trước mặt có vịnh Nha Phu lắm
cá, nhiều cua. Bao quanh thôn làng thì đồng ruộng phì nhiêu, nhà nhà có
ao sâu, vườn rộng, sau lưng có núi lớn vây quanh với nhiều lâm sản quý.
Dấu ấn rõ nhất trong tôi vẫn là dòng sông và bến tắm.
Sông
bắt nguồn từ giữa hai dãy núi lớn phía Tây Nam của quê hương, chạy đổ ra
hồ đầu rồng đưa dòng nước xanh uốn khúc lặng lờ trôi, hai rặng tre xanh
rủ bóng đôi bờ.
Dòng sông tuổi thơ ngày ấy mãi đến nay, từng ấy năm mà đã có quá nhiều
thay đổi, thật đúng với quy luật biển cạn non mòn, bên bồi bên lở. Ngày
ấy của những năm yên bình, mọi làng quê của Khánh Hòa hoàn toàn êm ả.
Quê tôi về đêm vô cùng tĩnh mịch, những mùa trăng đầu đêm của quê hương
rộn ràng tiếng chày khua từ thôn dưới, làng trên, những áng gạo trắng
lao xao vòng quanh mép cối. Một không gian lung linh đầy ắp ánh trăng
vàng, đó đây vang vọng điệu hát câu hò nghe chừng có chút lẵng lơ của
các nàng thôn nữ, làm xao xuyến biết bao con tim của lũ trai làng. Đêm
càng sâu hơn, như thể báo canh, loài chim kịp rúc từng hồi, chốc chốc
giọng Quốc khóc bạn ngân lên giữa đêm trường áo não.
Càng khuya quê hương lại khác, cùng khắp thôn trang, tiếng vỗ cánh bình
bịch của hàng trăm chú gà trống vang vang tiếng gáy, thôn làng thực sự
bừng thức. Mọi nhà đây đó những đóm đèn dầu lạc vụt lóe sáng rồi tù mù
nơi xó bếp, tiếng xoèn xoẹt của các ả gái quê lia chổi quét lá trước
cổng nhà, xen lẫn giọng ơi ới của các bà mẹ quê, giục đàn con chổi dậy
thúc trâu ra đồng, chăm lo cây lúa.
Những tia hồng thẳm hình rẻ quạt xòe lên, nổi bật phía đằng đông. Thời
gian, không gian lúc bấy giờ cấp bách hơn, các loài thượng cầm sau một
đêm dài bình yên ngủ nghỉ giờ đây trỗi dậy xôn xao vỗ cánh hướng về một
miền đất lạ. Ngộ nhất là lũ cò vì cứ vô tư co đầu vào đôi cánh ngủ lì
trên những táng gạo cổ thụ ở đầu thôn.
Càng ngộ nghĩnh vui tai hơn, từ trên khóm trúc, tàng me các chị chào mào
ngõ lời thăm hỏi nhau ý ới. Dưới thấp trên liếp mía các ả manh manh xòe
cánh vụt vù bay, rớt lại những tiếng lanh tanh như những tiếng thuỷ tinh
rơi vỡ vụn. Chăm chỉ hơn là các cặp vợ chồng nhà giòng dọc, những cái mỏ
óng vàng xinh xinh nhỏ xíu mổ mổ lia lịa như cố đan xen cho xong cái tổ
vốn còn dang dỡ từ hôm qua, đang tòn ten đu đưa trên những đọt tre cao.
Từ
xa hơn, có lẽ phía lũy tre dọc dòng sông giọng các bác chim cu gù, thúc
nhau gấp gáp. Cái thứ âm vọng “ Cù cụ, cù cụ” hòa lẫn giọng nhừa
nhựa khàn sệt nhà bác cu lửa “Tuộc luộc-Tuộc luộc, thu đủ luật, thu
đủ luật”. Ngần ấy âm vang có ma lực vực tôi thức giấc, tôi tốc chăn
tuộc khỏi bộ ván gỏ bóng láng có từ đời cụ tổ để lại, thống nhanh ra lụ
nước trước hiên nhà, chụp cái gáo sọ dừa vục đầy nước ập vào miệng, đoạn
dùng ngón tay trỏ thông lia lịa như lùa bóng mấy cái răng, rồi bâu môi
xục xục vài cái là phun cái rẹt coi như hoàn thành vệ sinh buổi sáng.
Nhớ trực lại cái bụng thì cồn cào, vội loan một vòng vào bếp, cái gụ đất
đen nhẻm vãn tọa trên đầu ba ngài táo đất, thò tay bốc mấy đụn khoai vôi
mà chị tôi luộc từ tối hôm trước, thuận kề ngang qua ngạch cửa vớ lấy
giàn ná thun quàng vào cổ, đôi chân trần ù một hơi lên kho đạn. Nói đạn
cho oách xì xằng chứ thật ra là bãi sạn, lựa thứ sạn tròn tương đương
đầu ngón tay cái dùng để bắn giàn thun. Đạn nằm lủ khủ dưới bờ quai đập
nước hồ đầu rồng. Tự khắc hai túi quần sooc của tôi đầy nhóc. Cũng vì
thế mà bao phen túi quần toác hoác, mỗi lần nhờ chị gái khâu hộ chị cứ
làu bàu bởi cái thứ dạn trời ơi đất hởi này.
Xem Phần 2


NGUYỄN HƯƠNG


Vườn Hoa Văn Học
Nghệ Thuật của Nguyễn Hương