|
|
Vời vợi miền trăng
Ninh Ḥa từ lâu đă được gọi là đất thơ. Thơ ca như mạch
nước ngầm, linh khí làm nên sức sống của một vùng đất. Trải qua những bước
thăng trầm của lịch sử, t́nh yêu thơ của người dân nơi đây vẫn luôn nồng
đượm. Có một ngày t́nh yêu ấy đă bừng sáng, thăng hoa làm nên một miền
trăng thơ vời vợi - Trăng quê.
Ninh Phụng - huyện Ninh Ḥa, tỉnh Khánh Ḥa có một địa
thế thật đặc biệt. Đất này là nơi hợp lưu của 3 con sông (sông Cái, sông
Đục và sông Lốt) làm nên con sông Dinh hiền ḥa và thơ mộng, có chùa Thiên
Bửu niên đại gần ba trăm năm… Người là hoa của đất, thơ là hồn của sông
núi. Chính tiếng chuông chùa, những đêm trăng bàng bạc, hương lúa dịu ngọt,
lời hát ầu ơ… đi vào tâm thức của những người con quê hương để rồi một
ngày làm nên Trăng Quê.
Từ nhóm thơ chỉ có 4 người ở làng Điềm Tịnh, đến nay
sau gần 10 năm sinh hoạt, Trăng Quê đă tṛn trịa với 16 thành viên. Giờ
đây, Trăng Quê không chỉ là nơi họp mặt của những người làm thơ ở Ninh
Phụng, mà c̣n là nơi giao lưu gặp gỡ của những tâm hồn yêu thơ. Nhiều
người con của Ninh Phụng về thăm quê, những nhà thơ như Giang Nam, Lê
Khánh Mai… dừng chân ở đất này đều đến góp mặt làm cho vầng trăng thơ thêm
tỏ ngời. Mỗi năm Câu lạc bộ (CLB) thơ Trăng Quê đều có ngày gặp mặt truyền
thống đầu năm, hàng tháng vào ngày 10 âm lịch. Các thành viên và bạn thơ
Trăng Quê ngồi lại bên nhau cùng chia vui những bài thơ vừa được đăng trên
báo, đọc cho nhau nghe những sáng tác mới… Không ít lần thơ - rượu - trăng
đă ḥa quyện với nhau. Theo ḍng thời gian, Trăng quê không chỉ sáng ở quê
nhà mà c̣n lan tỏa đi xa. Ngoài tập thơ Trăng quê 1, các thành viên trong
CLB đều có thơ in trên báo và tạp chí trong và ngoài tỉnh như: Văn nghệ
trẻ, Văn nghệ TP, báo Khánh Ḥa, tạp chí Chiêu Anh Các (Kiên Giang)… và
nhiều tập thơ của Nhà Văn hóa tỉnh. Những lần tham dự hội thơ của các CLB
thơ toàn tỉnh, Trăng Quê đều có giải. Nhiều hội viên bước lên thi đàn một
cách chững chạc như Vơ Xuân Hồng với Hoa nắng, Phạm Duy Tân với Miền xanh
kư ức, của Nguyên Bích - Phạm Duy Tân với Dấu chân… Đặc biệt, Phạm Duy Tân
từ một người viết không chuyên đă vươn lên thành cây bút chuyên nghiệp,
được kết nạp vào Hội Văn học - Nghệ thuật Khánh Ḥa.
Từ xưa, Việt Nam đă tự hào là đất nước của thơ ca. Việc
lập nên những hội thơ không phải là điều mới mẻ (Vua Lê Thánh Tông lập nên
hội thơ Tao Đàn, ḍng họ Mạc ở đất Hà Tiên lập nên Chiêu Anh Các…) nhưng
hội thơ của những con người chân chất, hồn hậu như Trăng Quê không phải là
nhiều. Những thành viên của Trăng Quê mỗi người một hoàn cảnh, công việc
khác nhau. Có người là giáo viên, người là nông dân suốt một đời lam lũ,
người làm nghề lái đ̣ trên sông… Ở họ có một điểm chung là hết ḷng yêu
cuộc sống, yêu thơ ca một cách dung dị, chân thành. Với họ, thơ không phải
là mảnh đất để lưu danh mà thơ là để tu tính, dưỡng t́nh. Nếu như cánh
đồng làng nuôi sống họ th́ thơ chính là cánh đồng nuôi dưỡng tâm hồn.
Nguyên Bích (Chủ nhiệm CLB thơ Trăng Quê) có những lời giăi bày chân thật:
Tôi làm thơ bởi một lẽ b́nh thường/Bằng cảm nhận quanh ḿnh có thật/Dung
dị ngôn từ như mẹ tôi chân đất/Như em áo vải chân quê. Và họ làm thơ bởi "yêu
cánh c̣ trên đồng xanh sông nước", "thương biết mấy người nông dân chân
chất…".
Trăng Quê đă, đang và sẽ làm đẹp thêm cho vùng đất Ninh
Phụng vốn có bề dày văn hóa. Và Trăng quê măi là miền trăng diệu vợi.
XUÂN THÀNH (báo Khánh Ḥa)

VẸM XANH LÊN NGÔI
Nếu tôi nhớ không lầm, vẹm xanh bắt đầu có trong thực
đơn
của các nhà hàng cách đây khoảng 3 - 4 năm. Khi đó, món vẹm xanh hấp
được xem như món lạ, vừa rẻ vừa ngon lại dễ… nhậu. Cái vị của thịt vẹm gần
giống như nghêu nhưng ít tanh hơn, chấm với muối ớt chanh th́ quả là…
tuyệt, càng ăn càng thấy đậm đà, hấp dẫn. Anh Toàn thiệt t́nh: "Lát ghé
lên trển, coi thử có lưới vẹm nào mới bắt, nói anh em đăi nhà báo một bữa
nghen! Thưởng thức tại chỗ mới thấm lận". Nh́n những hàng cọc trải dài một
góc đầm Nha Phu, ít ai nghĩ rằng người nuôi vẹm cũng đă một thời lao đao.
Khi ấy, những hộ đầu tiên đầu tư cho nghề “trồng” vẹm đau đầu khi vẹm tới
ngày xuất vẫn không biết bán cho ai. Bởi hồi ấy người ta chưa biết nhiều
về giá trị của vẹm, bán buôn vẫn mang tính manh mún, nhà hàng nào có nhu
cầu th́ tới mua, vậy thôi. C̣n bây giờ, vẹm xanh Ninh Ích đă có mặt ở Ninh
Thuận, B́nh Thuận, Sài g̣n…, thậm chí có lúc c̣n không có hàng để bán cho
các thương lái. Dọc quốc lộ, người ta để vẹm xanh bán với giá 5 - 7 ngàn/kg.
Những con vẹm như những hột xoài be bé, vỏ óng ánh xanh, được tiếng dễ
tính, dễ nuôi nhất trong các loài nhuyễn thể. Chỉ cần nước có độ mặn thích
hợp, môi trường có nhiều thức ăn th́ vẹm cứ thế mà sống, cứ thế mà lớn,
không đau ốm, bệnh tật ǵ cả. Người nuôi cũng chẳng cần cho ăn, chỉ tốn
công cất cḥi trông vẹm, độ một năm th́ thu hoạch.
Nắng chói chang, hăng hắc cái vị nồng của biển. Ghe cập
bờ. Ḥn Cóc là nơi tập kết của những hộ nuôi vẹm, hầu hết là dân thôn Tân
Đảo. Đàn ông th́ lo cắm cọc, trông giữ vẹm. Đàn bà th́ được thuê làm mấy
công việc lặt vặt khác như nhổ vẹm giống, bó cây… Hộ nào khá th́ sắm hẳn
cọc đúc bằng xi măng, hộ nào vốn không nhiều th́ "trồng" vẹm bằng cọc gỗ.
Cọc gỗ có tuổi thọ không bằng cọc xi măng, cắm xuống nước một mùa là mục,
không dùng lâu dài được. Người dùng cọc gỗ th́ chẳng phải tiêu tốn ǵ
nhiều, cứ bỏ công làm lời, lên rừng rồi chuyển cọc về, bó ni lông chặt cho
vẹm dễ bám. "Được cái này th́ mất cái khác. Từ khi có phong trào nuôi vẹm,
nạn giă cào, giă nhủi hết hẳn, người ta thôi không c̣n khai thác thủy sản
bằng chất nổ, kích điện nữa. Có điều, để có hàng trăm cọc gỗ cắm nước như
vậy, dân lại phải sống dựa vào rừng" - Anh Toàn vừa săm soi mấy cọc gỗ vừa
nói.
Ngồi nghỉ trưa sau mấy lùm cây, anh Mai Mỹ - một người
có duyên nuôi vẹm ngay từ những ngày đầu bộc bạch: “Hồi đó, thấy mấy ông
khuyến ngư khuyến nông ǵ đó hướng dẫn, động viên trồng vẹm, tui cũng ham
nên xung phong làm. Năm đầu tiên chỉ đủ chi phí, coi như huề. Lúc vẹm
không t́m được thị trường, tui nản quá bỏ ngang. Thấy không đặng lại quay
trở lại, tới giờ đă theo nó được 4 năm rồi đó”. Hiện tại, ông Mỹ cắm được
4.000 cọc, cuối năm này là thu hoạch. Đứa con trai đầu của ông không chịu
thua, cũng đầu tư riêng 4.000 cọc. Tính trung b́nh, mỗi cọc thu được
khoảng 5kg vẹm. Sơ sơ, nhà ông Mỹ kết thúc mùa cũng đă có trong tay 20 tấn
vẹm. Ông Mỹ cười khà khà: "Nuôi con này dễ nên cũng ít lo, nó mà khó tính
như tôm th́ chắc tui theo không nổi. Tui đang tính vụ sau nếu lăi th́ "chơi"
cọc xi măng chứ cọc gỗ mau găy quá!". Đám đàn ông nhao nhao phụ họa, bàn
tán sôi nổi về những dự định khi cuối năm thu hoạch vẹm. Cạnh đó, mấy phụ
nữ che mặt kín mít cặm cụi ngồi nhổ vẹm giống. Những con vẹm bé xíu được
chọn riêng ra, bán với giá từ 15 - 20.000 đồng/kg. Khi nào thiếu giống th́
người ta mới mua, c̣n không cứ cắm cọc xuống, nếu thiên thời địa lợi th́
vẹm tự nhiên sẽ bám đầy. Không ngoa chút nào khi nói vẹm xanh là cứu tinh
của người dân nghèo xă Ninh Ích. Tính ra, nếu đủ nguồn giống tự nhiên,
không phải mua th́ có thể lời đến 20 triệu đồng/ha/vụ. Như ông Mỹ, vụ năm
ngoái, trừ hết các chi phí, gia đ́nh ông vẫn kiếm được hơn 50 triệu đồng
từ vẹm.
° ĐỔI ĐỜI:
Không riêng ǵ hộ ông Mỹ, giờ đây số hộ nuôi vẹm xanh
càng ngày càng tăng. Năm 2002, cả xă chỉ có 10 hộ nuôi vẹm, đầu năm 2003
có thêm 20 hộ nữa và hiện nay con số này đă là 60 với tổng số hơn 60 ngh́n
cọc. Đội quân nuôi vẹm ở thôn Tân Đảo chiếm số nhiều. Những năm đầu, chỉ
có thôn Tân Thành, Ngọc Diêm nuôi vẹm nhưng rồi sau đó, phong trào ở những
nơi này yếu hẳn do môi trường không thuận lợi. Người dân ở đây hay đùa
“Tân Đảo đi sau về trước” là vậy. Hộ nào ít vốn nhất cũng thu được hơn 10
triệu đồng/năm. Nuôi vẹm dễ nên người dân cũng lai rai bỏ giống, lai rai
thu, lai rai bán và tích cóp dần. Anh Nguyễn Hùng - người đi cùng chúng
tôi ra Ḥn Cóc - là một trong số những hộ đổi đời từ vẹm. Trước đó, anh
làm nghề đánh lưới, một con nước chỉ làm được 7 ngày, mỗi ngày kiếm được
dăm ba chục, không đủ để nuôi một bầy con 5 đứa đang tuổi ăn tuổi lớn.
Cuối năm 2002, gia đ́nh anh bắt đầu tập nuôi vẹm, một năm sau thu được 9
tạ. Lần đầu tiên vợ chồng anh cầm 9,5 triệu đồng trong tay, mừng rơi nước
mắt. Anh tậu hẳn một chiếc ghe máy để phục vụ cho việc đi lại, trông coi
vẹm ở ngoài Ḥn Cóc. Năm nay, vợ chồng anh lại tiếp tục “trồng” thêm 2.000
cọc nữa, hy vọng cuối năm sẽ thu được vài chục triệu. Chị Mười - vợ anh
phấn khởi: “Tụi tui định chuyến này để tiền sửa nhà". Nét mặt chị ánh lên
những niềm vui, có lẽ chị đang mơ về những giây phút vợ chồng con cái được
quây quần bên nhau trong căn nhà mới - điều mà chị đă mơ ước từ rất lâu.
Giấc mơ ấy rồi sẽ thành hiện thực từ vẹm?
C̣n nhớ khoảng giữa năm 2000, khi chủ trương phục hồi
vẹm xanh được thực hiện trên đầm Nha Phu, anh Nguyễn Sĩ Thắng ở thôn Tân
Đảo là một trong những người thử nghiệm đầu tiên. Anh cùng làm chung với 2
hộ nữa. Năm đó, lăi được 30 triệu, mỗi người thu về 10 triệu đồng. Họ lại
tiếp tục thử vận với vẹm xanh. Vụ sau đó, vẹm lao đao v́ không t́m được
đầu ra. Anh Thắng chuyển sang nuôi tôm. Tiếc mấy cây cọc, anh đem ra cắm
thử xuống nước, không ngờ vẹm lại bám đầy. Anh cắm luôn 50 trụ, cuối mùa
thu về 1 tấn, lăi 5 triệu. Năm vừa rồi, anh lại thắng lớn khi thu được 4
tấn. “Vụ này tui cắm 500 cọc, thằng con lớn cắm 100 cọc nữa. Vẹm nuôi dễ,
chỉ sợ không có nơi tiêu thụ như mấy năm trước” - anh Thắng nói - “Đúng là
có vẹm, người dân như chúng tôi bớt khổ nhiều". Ngay cả những người không
nuôi vẹm trong thôn, kể từ ngày phong trào này phát triển, họ cũng kiếm
sống được từ những việc thuê lao động chân tay, mỗi ngày từ 25 - 30.000
đồng. Ở Ḥn Cóc, phụ nữ cũng có quân số đông ngang bằng cánh mày râu. Họ
ra đây từ sáng tinh mơ, bó cây, thu vẹm, lo việc cơm nước… Ḥn đảo nhỏ lúc
nào cũng rộn ră tiếng nói cười, vui nhất là đến mùa thu hoạch vẹm. Người
dân ở đây đă thôi không c̣n những ngày lênh đênh theo con nước, sống bằng
nghề đánh lưới bữa có bữa không… Ông Trần Ngọc Ninh vừa vui vừa lo: “Người
dân đổi đời từ vẹm, cuộc sống khá hơn. Tuy nhiên, nếu không có quy hoạch
về lâu về dài, hợp lư, việc phát triển nghề nuôi vẹm xanh chắc sẽ gặp khó
khăn”. Bài học kinh nghiệm thiếu thị trường tiêu thụ cách đây không lâu
dường như vẫn c̣n tạo tâm lư không an tâm cho những người quyết định gắn
bó với nghề nuôi vẹm. Nhưng “vạn sự khởi đầu nan”, hy vọng rồi đây vẹm
xanh sẽ có một chỗ đứng vững chăi trên thị trường, không chỉ có ở các nhà
hàng mà c̣n ở các chợ, siêu thị… với tên gọi đặc sản của xứ biển. Lúc đó,
chắc chắn người nuôi vẹm cũng sẽ nhiều hơn, những hộ giàu ở Ninh Ích cũng
sẽ nhiều thêm…
Quá trưa, khói bếp bay lên từ những cḥi canh vẹm xanh
gợi mở một không gian thanh b́nh và no ấm. Không kịp thưởng thức món vẹm
xanh hấp tại chỗ, anh Hùng lại tất bật lái ghe đưa chúng tôi vào đất liền.
Trên ghe, những lưới chất đầy vẹm xanh c̣n tươi màu, óng ánh dưới ánh nắng…
Vẹm xanh (tên khoa học là
Pernaviridis) là nguồn lợi của đầm Nha Phu. Tháng 5-2000, Viện Hải dương
học Nha Trang triển khai mô h́nh phát triển nguồn lợi vẹm xanh tại đầm Nha
Phu, với 240kg giống lấy từ Thừa Thiên - Huế. Sau một năm, sản lượng vẹm
xanh đạt gần 2,5 tấn. Nghề nuôi vẹm xanh phát triển, hạn chế được nạn giă
cào, giă nhủi đồng thời phục hồi nguồn lợi vẹm xanh, góp phần làm sạch môi
trường v́ vẹm xanh ăn thực vật phù du và vật lơ lửng, góp phần làm giảm
chất thải trong nước. Ngoài ra, vỏ vẹm xanh c̣n dùng để sản xuất hàng mỹ
nghệ.

Nuôi vẹm xanh trên đầm Nha Phu.
Vẹm xanh.
L.H báo Khánh Ḥa

L ời
khẩn cầu của rừng
Trước mắt chúng tôi là hàng trăm cây rừng bị đốn hạ,
những ḷ than rực lửa, tiếng cưa máy chát chúa vang động khắp các cánh
rừng. Không những thế, những con thú hiếm hoi đang từng ngày, từng giờ bị
con người nơi đây tận diệt không thương tiếc. Lời khẩn cầu của rừng Ninh
Ḥa không biết có khi nào ai tỏ, ai hay…!
° Phá rừng vô tội vạ
Khó khăn lắm, tôi mới thuyết phục được anh C., một
thanh niên người địa phương dẫn đường lên núi Ḥn Ông, thuộc xă Ninh Tân (Ninh
Ḥa), một điểm nóng về cháy rừng và khai thác lâm sản. Khi vừa tới cửa
rừng, chúng tôi bắt gặp một tốp người vừa gánh than xuống núi. Dưới các
hốc đá ở khe suối, trên 10 chiếc xe máy, xe đạp được ngụy trang một cách
khéo léo bằng những nhánh cây rừng rất khó phát hiện. Nói là đường ṃn,
nhưng nó bị lơm khá sâu giống như một con mương nhỏ. Theo anh C., đây là
vết tích của những khúc gỗ mà bọn lâm tặc kéo xuống núi tạo nên. Gần 1
tiếng đồng hồ, vượt qua khỏi 1 con dốc, trước mặt chúng tôi là những mảng
đồi chỉ c̣n trơ trọi đất với những gốc cây cháy đen x́. Chỉ cho tôi 2
người đang h́ hục xới đất, anh C. nói: “Họ đang t́m sắt đó”. Quá ngỡ ngàng,
tôi hỏi: Trong rừng mà cũng có sắt à? Anh đáp: "Không có th́ t́m làm ǵ,
hồi chiến tranh, mảnh bom đạn và những tấm thép bị vùi trong rừng khá
nhiều. Ngặt một nỗi, sắt chỉ bán có 3 - 4 ngàn đồng/kg mà họ phải đốt rừng
để ḍ t́m. Để đỡ chặt cây, phát quang đường, trước khi xuống núi, họ châm
mồi lửa để sáng mai lại tiếp tục quay lại t́m kiếm”. Dọc đường đi, chúng
tôi gặp một người vác khúc gỗ đi xuống núi đang ngồi nghỉ. Thấy người lạ,
người đàn ông này có vẻ dè dặt khi chúng tôi hỏi chuyện. Vừa lau mồ hôi,
anh nói: "Hồi trước, rừng ở đây rậm lắm, chỉ cần cả đi lẫn về chừng 2
tiếng đồng hồ là có gỗ mang về. Giờ phải lên đến đỉnh núi, họa hoằn lắm
mới kiếm được khúc gỗ cho ra hồn. Để có được khúc gỗ vuông vắn như thế này,
tôi phải mất 10 ngàn đồng tiền thuê cưa xẻ". Anh c̣n cho biết: Do nắng
nóng, hôm nay người lên núi không nhiều. Riêng tại khu vực núi Ḥn Ông,
thường ngày có trên 10 người đi đốt than và khai thác gỗ.
Chúng tôi có mặt ở khu vực những ḷ đốt than cách chân
núi khoảng 2km. Tại đây, hàng chục ḷ than đang ngùn ngụt bốc khói. Xung
quanh đó, sự sống của cây rừng bị hủy hoại một cách vô tội vạ chỉ c̣n trơ
trọi gốc. Theo quan sát của chúng tôi, các ḷ than có diện tích từ 5 -
10m2 được thiết kế theo kiểu bán kiên cố. Hầm th́ khoét sâu vào trong núi,
hầm th́ được xây bằng xi măng và đá chẻ. Những người làm than cho biết, để
làm được 1 tạ than họ phải đốt khoảng 1m3 gỗ (nếu gỗ tốt). Từ khi nhóm lửa
đến khi có than phải mất từ 3 - 4 ngày. Để ngày nào cũng có than xuống núi,
người làm than phải luân phiên đốt từ 3 - 5 hầm than. Rời khỏi khu vực Ḥn
Ông, chúng tôi chạy dọc theo đường ṃn để sang Tỉnh lộ 8B đi ngược lên địa
bàn Khánh Vĩnh. Trên đường, những chiếc xe đạp, xe cọc cạch, xe ḅ chở gỗ
đi hiên ngang.
Chúng tôi có mặt tại khu vực Suối Tre, núi Ḥn Hèo
thuộc xă Ninh Thủy (Ninh Ḥa). Ngay tại khu vườn cây dưới chân núi, gần 20
chiếc xe đạp đặc chủng của người đi rừng được khóa vào nhau khá cẩn thận.
Không phải chờ đợi lâu, một lúc sau chúng tôi đă phát hiện 2 người vác gỗ
len lỏi từ con suối đi ra. Tưởng chúng tôi là Kiểm lâm, 2 người thả gỗ
xuống rồi bỏ đi mất hút. Lúc này, đoàn người gánh than đă xuống đến chân
núi. Khi biết chúng tôi không phải là Kiểm lâm, họ lại nhanh chóng chất
than lên xe rồi đi thẳng. Ông B., một người giữ xe dưới chân núi cho biết:
Hàng ngày, riêng thu nhập tiền giữ xe ông cũng kiếm trên 10.000 đồng.
Trong đó, riêng tiền giữ xe cho người làm than và làm gỗ ít nhất 7 ngh́n
đồng. Hiện nay, các điểm nóng về khai thác lâm sản ở Ninh Ḥa tập trung ở
các xă Ninh Sơn, Ninh Tây, Ninh Tân… Từ đầu năm đến nay, qua tuần tra truy
quét, Hạt Kiểm lâm huyện Ninh Ḥa đă bắt và thu gữ trên 67m3 gỗ
các loại, trên 1.000kg than. Tuy nhiên, con số này chưa thấm vào đâu khi
đất rừng ở Ninh Ḥa đang từng ngày, từng giờ bị con người tùng xẻo.
° Diệt thú rừng
Cũng như bao thợ săn khác, ban đầu chỉ là thú vui,
nhưng lợi nhuận nhiều nên anh C. coi nghề đi săn là cách để kiếm cơm. Anh
C. phấn khởi kể cho tôi về chuyến đi săn của ḿnh đêm qua: "Hôm qua cứ
tưởng ḿnh trúng mánh, đang chạy xe trên đoạn đường xuống Nhà máy Tàu biển
Hyundai Vinashin, ḿnh cứ tưởng vớ được con nai ai ngờ lại bắt gặp một con
cú”. Anh giải thích: Ban đêm, các loài thú lớn như: nai, hoẵng… hay xuống
đồng cỏ ăn đêm. Khi đi xe máy, nếu bật đèn pha sẽ làm chúng sợ chạy mất. "Đi
săn kiêng nhất là gặp con cù lần (giống loài khỉ) gặp nó chỉ có nước về
không. Trước đây, rừng Ḥn Hèo c̣n rậm lắm, một lần đi ḿnh cũng kiếm được
hai ba chục kư là ít. Gặp nai, hoẵng hay lợn rừng th́ chỉ cần một phát
súng là không có sức mà mang xuống núi. Nhiều khi ḿnh chỉ xẻo 4 cái đùi,
c̣n thịt th́ phải ngày mai trở lại mới lấy hết. Giờ thú th́ ít, người đi
săn th́ nhiều, họa hoằn lắm mới gặp một con thú lớn, c̣n không chỉ bắn
được vài con cheo, nhím, chồn hay gà rừng. Để thịt thú được ngon, khi bắn
xong, nhiều con thú người đi săn phải mổ để vứt bộ ḷng" - anh nói.
Tôi hỏi anh C. về tính năng của khẩu súng săn. Anh nói:
Súng này không cần phải ngắm chuẩn, bởi trong viên đạn được nhồi 60 - 70
viên bi. Khi bắn ra, trong một phạm vi rộng con thú vẫn bị trúng đạn. Khẩu
súng này được anh mua với giá 3 triệu đồng. Anh C. c̣n cho biết: Ngoài
những người đi săn bằng súng, riêng tại khu vực núi Ḥn Hèo có chừng trên
500 cái bẫy, c̣n tại khu vực Đá Bàn số lượng bẫy nhiều gấp đôi, từ 1.000 -
1.200 bẫy do người địa phương đặt. Loại bẫy được sử dụng là dây cáp và bẫy
ḷ xo (bẫy kẹp). Hiện nay, số lượng người lên núi săn bắt trên địa bàn
huyện Ninh Ḥa rất nhiều. Do đó, số lượng thú trong rừng đang ngày càng ít
đi.
Sau 3 ngày khám phá, được chứng kiến các khu vực rừng ở
Ninh Ḥa với những ḷ than rực lửa, hàng ngàn héc-ta rừng đang mất dần màu
xanh, thêm vào đó là những con thú hiếm hoi đang từng ngày, từng giờ bị
con người tận diệt. Không biết cảnh tượng này c̣n diễn ra cho đến bao giờ,
lời khẩn cầu của rừng không biết có khi nào ai tỏ, ai hay
Báo Khánh Ḥa

Công ty Khánh Việt đưa trại nuôi đà điểu gây giống vào
hoạt động
Tổng công ty Khánh Việt (Khatoco) đă đưa trại nuôi đà
điểu gây giống với qui mô lớn vào hoạt động sản xuất tại khu trại rộng
25ha ở thôn Đại Cát, xă Ninh Phụng, huyện Ninh Ḥa, Khánh Ḥa. Theo ông
Nguyễn Xuân Hoàng, chủ tịch hội đồng quản trị Khatoco, trong hai năm tới
sẽ cung cấp cho thị trường toàn quốc mỗi năm 2.000 tấn thịt đà điểu.
Theo Tuoitre
Phát hiện 50kg tiền cổ tại Khánh Ḥa
Một chiếc chum chứa 50kg tiền cổ vừa được những người
dân địa phương t́m thấy tại khu vực trại nuôi đà điểu thuộc xă Ninh Phụng,
huyện Ninh Hóa, tỉnh Khánh Ḥa.
Địa phương đă giao nộp chum tiền trên cho Bảo tàng
Khánh Ḥa, tuy nhiên vẫn có khoảng 20kg tiền cổ đă bị phát tán ra ngoài.
Phó Giám đốc Bảo tàng Lê Đ́nh Chi cho biết bảo tàng đă
niêm phong số tiền cổ c̣n lại, chờ Viện Khảo cổ kiểm tra, xác định niên
đại.
Theo TTXVN
Phát hiện 3 trống đồng cổ tại xă Ninh Phụng, huyện Ninh
Hoà
Chiếc trống đồng thứ nhất do một số người đào phế liệu
trên đám đất đang san ủi làm trại chăn nuôi đà điểu phát hiện thấy trưa
7.3. Tuy nhiên do không biết đây là cổ vật nên những người này đă làm vỡ
rồi đập vụn để cân bán đồng nát.
Chiếc thứ 2 do 2 nông dân tên là Hà Văn Kiệt và Nguyễn
Văn Biên ở xă Ninh Đa đào t́m được vào trưa 9.3 cũng tại địa điểm trên.
Khi 2 người vận chuyển trống về nhà th́ bị UBND xă Ninh Trung lập biên bản
thu giữ.
Nghĩ rằng chung quanh khu vực chuẩn bị làm trại đà điểu
có đồ cổ nên ngay trong đêm 9.3 một số người đă sử dụng máy ḍ t́m kim
loại và tiếp tục đào được chiếc trống thứ 3 rồi đưa đến nhà một người quen
ở xă Ninh Thân nhờ cất giữ, sau đó thông tin cho huyện biết để đ̣i quyền
lợi. UBND huyện Ninh Hoà và Pḥng VHTT đă lập biên bản xác nhận hiện vật,
tạm thời giao cho chủ nhà cất giữ.
3 chiếc trống đồng nằm gần như cùng một địa điểm, chỉ
cách nhau khoảng 60m. Chiếc trống đồng cổ c̣n gần như nguyên vẹn, đường
kính mặt trống 0,72m; đường kính đáy dưới trống 0,76m, chiều cao 0,55m, có
4 quai đôi. Căn cứ trên hoa văn h́nh sao 10 cánh và 10 hoa văn hoạ tiết
h́nh người, h́nh lông chim trang trí trên mặt và thân trống, các chuyên
gia khảo cổ học nhận định trống đồng này thuộc loại I Heger từng được phát
hiện ở Thanh Hoá. Những chiếc trống đồng này có niên đại cách nay khoảng
2.000 năm, h́nh dáng rất giống trống đồng Đông Sơn, kích cỡ giống hệt 2
trống đồng trước đây t́m thấy ở Nha Trang.
Báo Lao Động
|
www.ninh-hoa.com
Trang 1
Trang 2
Trang 3
Trang 4
Trang 5
Trang 6
sưu
Tập:
Dương
Tấn
Long
Huỳnh
Trịnh
Tuyết
Hoa
Hải
Lộc
Hà
Thị
Thu
Thủy
|