|
|
|
LÁ
THƯ
Ngày
Hiếu
()
Mục
Đồng |
---š
{ › ---
Kính lạy đức
Phật Đại Hiếu Thích Ca Tôn.
Kính lạy đức Bồ
tát Mục Kiền Liên.
Kính ngưỡng
vọng thầy Chỉ Đạo khả kính.
Thưa cô Sương
và vườn hoa Tuệ ngát hương hiếu hạnh.
N gồi
trên mảnh đất thiêng, hướng lòng về Kỳ Viên tịnh xá, nghe đâu đây ngát
hương hiếu hạnh của đấng Đại Từ hiền triết họ Sakya, cùng đệ tử là ngài
Mục Kiền Liên tôn giả, người cùng tử này thấy lòng gợi lên nhiều xúc cảm,
xin mượn cơn gió Từ lan xa, gởi về quê cũ sẻ chia niềm đạo cảm.
T rước
tiên, trong khói hương trầm của mùa báo hiếu Tứ Ân quyện toả, đệ tử con
xin cuối đầu cảm niệm ân đức sâu dày của bậc Ân sư. Kính bạch Thầy! Bao
mùa Vu Lan qua, con chưa hề có dịp cài lên ngực Thầy một đoá hồng báo ân.
Nay hữu duyên, được ngồi yên trầm mặc, con mới có cơ hội suy tư nhiều về
ân đức vô biên, xem như đây là đoá hoa vàng rực rỡ ngát hương, xin mượn
không khí kính thành của buổi lễ Báo Ân, kính dâng lên Thầy với tấm lòng
tha thiết. Thầy ơi! Có lẽ nhân duyên định sẵn, ngoài đức từ mở lối đưa
đường của thầy Bổn Sư, con còn được về bên Thầy như một nơi nương náu an
lành lớn lao không kém. Kể từ ngày đầu tiên bước chân vào mảnh đất thân
yêu "trường Cơ Bản", con chưa hề quen biết một góc nhỏ nào của Thành phố
Nha Trang, chỉ có nơi đây - Hoa viên chùa Long Sơn, dưới khóm trúc vàng
của vị Thiền sư thong dong ngoài vòng tục luỵ - là nơi nghỉ chân và dùng
bửa cơm trưa đầu tiên trong đời học Tăng. Con còn nhớ, buổi chiều trước
khi vào lớp đầu tiên, thầy đã đánh thức con bằng một giọng từ hoà như xôi
nếp một như đường mía lau: "Nè, dậy
đi học chứ ngủ dữ dzậy ông?" Buổi vào lớp thứ hai, Thầy liền phân công
con vào vai trò thị giả, thật khó lòng mà tả hết niềm vui mừng, hãnh diện
của con lúc bấy giờ. Nhưng nào có phải vậy đâu, bây giờ con mới hiểu, Thầy
mới nhìn tướng đã biết con nghiệp nặng, cho cận kề để Thầy có dịp nhắc nhở,
khuyên răn. Chính đây mới là lòng thương thật sự của Thầy, mà dù hơi muộn
con cũng đã nhận ra.
R ồi
tình thương ấy theo tháng năm dần nuôi lớn, trong âm thầm hay hiện thành
cử chỉ, giáo từ. Thầy đưa tay cất roi đánh trò, mà con thấy trong khoé mắt
Thầy ngân ngấn ướt: "Roi này tui đánh cho Thầy ông, roi này tui đánh
cho cha ông, còn roi này của tui phạt ông." Biết bao lần con lầm lỡ,
vi phạm, thậm chí kinh sư động chúng, nhưng qua cách hoá độ của Thầy,
chuyện lớn hoá nhỏ chuyện nhỏ hoá không, mà đại chúng vẫn vui và thâm tâm
con hối ngộ được lỗi lầm càng sâu sắc. Qua đó con mới biết, giới luật chỉ
để răn người, nội quy kỷ luật chỉ là phương tiện dắt người vào quy trú;
nếu chấp chặt vào giới mà không buông thư uyển chuyển, thì khác nào người
hành giới cấm thủ trong các nẻo tà. Thầy vẫn thường xuyên
lấy Đức độ chúng, dùng người như
thợ hay xem gỗ. Với khả năng hạn hẹp của chúng con, Thầy vẫn tuỳ cơ
giao phó cho nhiều Phật sự nhỏ bé, nhưng chính đó là những bực thang quý
giá nâng bước chúng con trên nẻo đường hành đạo sau này.
T ình
thương bao la của Thầy không giới hạn, cả khi chúng con không còn trong
nôi ấm, tung cánh bay về muôn nẻo xa. Tuy bước chân thầy có hơi chùn nhưng
trái tim Thầy vẫn đầy năng lượng dõi theo săn sóc con; tuy mắt Thầy hơi có
tuổi nhưng Đạo phong và Đức độ của Thầy vẫn luôn rực sáng soi đường. Thầy
bây giờ vẫn như hôm nào, như gà mẹ xoả rộng cánh che chở đàn con, gà con
có đi đâu xa cũng quay về chờ mẹ ấp. Dù không là Phật bà Quan Âm hay có
ngàn tay ngàn mắt, nhưng công hạnh Thầy vẫn như mẹ hiền của bao thế hệ,
đôi tay lo cho đàn em nhỏ, đôi mắt hướng nhìn đàn con trưởng thành, đôi
chân đi vì hạnh phúc tha nhân, và trong thai tạng vẫn sẵn sàng dưỡng nuôi
những đứa con sắp sinh ra để bước vào nẻo Đạo.
Công ơn của Thầy lẽ ra chúng con không nên nói đến, vì
nó có bóng dáng nào đâu trong thẩm sâu hạnh đức của Thầy. Nó không hình
không tướng, mắt nhìn không thấy, tay sờ không tới, chỉ khi nào trực nhận
bằng lẽ sống "cảm ứng đạo giao" thì may ra mới mong được mảy trần nào theo
gót Thầy tiếp bước. Với những cái "bất khả tư nghì" mà có gắng gượng nói
ra cũng chỉ là vô nghĩa. Chúng con chỉ biết cùng nhau dồi trau học hạnh,
nguyện từng ngày nhìn rõ việc mình làm, để theo gương Thầy tương chiếu,
thẳng tiến trên đường tìm đến bến bờ chơn tâm. Thành tâm cầu nguyện Thầy
luôn được pháp thể khinh an, đèn thiền toả rạng.
Thưa cô Sương cùng các Tuệ mến yêu.
H ôm
nay chúng ta có niềm vui của mùa Vu Lan, mùa Hiếu hạnh, niềm vui của ai
cũng đầy ấp trên khuôn mặt an vui và đôi môi hỷ lạc. Không phải người còn
cha mẹ mới vui và người mất cha hoặc mất mẹ thì không vui. Niềm vui mà
thầy muốn nói với các Tuệ ở đây là niềm vui xuất phát từ tấm lòng của
chúng ta. Khi chúng ta nghĩ về công ơn cha mẹ là chúng ta đã có niềm vui,
vì chúng ta biết mình đang có mặt với hai người yêu thương nhất. Chúng ta
đang tồn tại nơi đây là sự bắt nguồn từ máu thịt của cha mẹ, hơi thở chúng
ta đang có là của cha mẹ truyền sang, từng cử chỉ nhấc tay động chân hằng
ngày cũng đều là năng lượng của cha mẹ trích một phần gởi gắm cho ta. Ta
chính là truyền nhân của cha mẹ, vậy thì giữa chúng ta và cha mẹ đâu bao
giờ có sự cách xa, cho dù cha mẹ không còn bên ta để mỗi ngày đưa vòng tay
thân yêu ôm ấp vỗ về.
N gày
lễ Vu Lan, các Tuệ ngồi quây quần lại bên nhau dưới sự chứng kiến của quý
Thầy, của các bậc phụ huynh, đây là cơ hội tốt nhất để chúng ta thể nghiệm
lại Hiếu tâm và Hiếu hạnh của mình. Bao nhiêu thi từ, ca dao đã viết về
công ơn cha mẹ và ca ngợi những tấm gương hiếu thảo của nhân loại, mà ít
hay nhiều lần các Tuệ đã được nghe hoặc chia sẻ. Dĩ nhiên, chúng ta không
ai có thể quên đi cái đạo đức làm người căn bản, đó là Hiếu. Nếu bất hiếu
với cha mẹ rồi thì không còn có cơ hội nào khác để làm những việc lương
thiện. Ngược lại, nếu hiếu thuận cha mẹ đúng nghĩa thì muôn hạnh lành khác
có thể tròn đầy. Như trong Kinh Nhẫn Nhục, đức Phật dạy:
"Điều thiện tối cao là chí hiếu; điều ác
cùng cực không gì hơn bất hiếu".
Rải rác trong các kinh điển khác, Đức Phật cũng thường
nhắc nhở hàng đệ tử rất nhiều về công ơn cha mẹ. Trong kinh Tăng Chi, Ngài
dạy: "Có hai hạng người, này các Tỳ- kheo,
Ta nói không thể trả ơn được, đó là cha và mẹ. Đó là ân nghĩa sâu dày khó
đền đáp". Hoặc trong kinh Tương Ưng, Ngài tuyên bố rằng hiếu thảo với
cha mẹ là đức tính cao cả nhất: "Giữa các loài hai chân, Chánh giác là
tối thượng. Trong các hàng con trai, hiếu thuận là tối thượng".
D o
đó, không chỉ trong mùa Vu Lan mà suốt cuộc đời này, chúng ta hãy trân
trọng và thường xuyên tư niệm về hai nguồn tình cảm bất tận thiêng liêng
nhất của mình. Đồng thời, các Tuệ cũng hãy chấp tay nguyện cầu cho mọi
người con trên trái đất này hiểu sâu sắc hơn về tình cha, ơn mẹ. Niệm tư
để hành động, tri ân để báo ân, chúng ta cùng nhau ôn lại công ơn trời
biển của các bậc sinh thành cũng chỉ là để đền đáp một phần nào. Có rất
nhiều phương diện của hạnh Hiếu thuận, nhưng với những người nguyện suốt
đời nương tựa ba ngôi báu, thì cách báo ân cao nhất là đưa cha mẹ trở về
chánh kiến, chánh tín Tam bảo, hướng dẫn cha mẹ vào con đường giải thoát,
hầu giúp cha mẹ đoạn trừ ác kiến, tăng trưởng tuệ đức, thoát ly sinh tử
khổ đau. Chính sự đền đáp này mới là sự đền đáp của người con Phật, và chỉ
có cách ấy mới hy vọng đáp đền xứng đáng với công ơn sinh thành dưỡng dục
của cha mẹ. Đức Phật dạy: "Cha mẹ chưa an trú trong Chánh pháp thì làm
cho cha mẹ an trú trong Chánh
pháp; cha mẹ chưa an trú trong điều lành thì làm cho cha mẹ an trú trong
điều lành."
K hi
nào cha mẹ giải thoát an vui thì sự báo hiếu của người con mới thành tựu.
Cho nên Cổ Đức có câu:
父母得離塵孝道方成就."Phụ
mẫu đắc ly trần, hiếu đạo phương thành tựu." (Cha mẹ được giải thoát lìa
trần thì người con mới tròn hiếu đạo).
Kinh Hiếu Tử nói: "Cung dưỡng cha mẹ không gì bằng
khuyên cha mẹ làm việc lành, bỏ việc ác". "Nếu không thể cải hoá cha mẹ
phụng trì Tam bảo thời ta có hiếu dưỡng cha mẹ cũng gọi là bất hiếu".
Khi con cái khuyên cha mẹ quy y Tam bảo, bỏ dữ theo lành là muốn cha mẹ
được sống giác ngộ, giải thoát. Sống giác ngộ là sống đúng với sự thật,
không còn mê mờ mù quáng. Sống giải thoát là sống vượt ra khỏi sự trói
buộc của dục vọng. Chỉ có vậy mới là chân thật báo ân cha mẹ.
G iờ
đây, trong ý niệm Vu Lan, chúng ta hãy dừng lại thật nhiều giây phút, đặt
tay lên ngực để tưởng niệm ân sâu, mắt nhìn thật chăm chú để nhận diện
từng nếp nhăn trên khuôn mặt cha mẹ. Nếu các Tuệ không thực tập cái nhìn
mỗi ngày thì khó báo hiếu cho cha mẹ trọn vẹn lắm. Pháp môn nào cũng vậy,
trước hết chúng ta cần có cái nhìn và sự lắng nghe thật sâu sắc, chánh
niệm. Có chánh niệm dẫn đường, làm gì hay nghĩ gì, các Tuệ cũng thấy cha
mẹ có mặt với mình. Khi mình vui, cha mẹ cũng vui; khi mình an lạc, cha mẹ
cũng an lạc. Và cứ thế, các Tuệ không còn sợ mình là người bất hiếu. Vì
trong con luôn có hình bóng mẹ cha, và trong ánh mắt song thân, chân ảnh
thiên thần của đứa con luôn tuyệt vời, hoàn mỹ.
C ũng
như những mùa Vu Lan trước, các Tuệ hãy để phần cho thầy một đoá hoa màu
hồng nhé. Tuy không hiện diện với các Tuệ trong buổi lễ báo ân này, nhưng
thầy cũng xin được giao hoà cùng không khí trang nghiêm của buổi lễ báo ân
để nhất tâm hướng về công ơn sinh thành dưỡng dục cao cả của người mẹ hiền
nơi chốn làng quê mà thầy hằng yêu quý nhất:
"Mẹ
kính yêu, trong giấc ngủ hằng đêm, con mơ thấy nhữ ng
đoá hồng lung linh, những đóa hồng thơm ngát phủ kín giấc ngủ của con. Mẹ
ơi, phải chăng đó là những đoá hoa tình yêu mà mẹ lúc nào cũng muốn dành
cho những đứa con yêu của mình. Hạnh phúc biết bao nhiêu khi con còn có mẹ
trên đời. Dù đi đâu về đâu, con cũng mang trong tim mình những đoá hồng
tươi thắm nhất, những cánh hoa hồng ân cần, dịu thơm như vòng tay mẹ suốt
đời ôm con vào lòng và ánh mắt mẹ luôn trông nhìn theo bước chân của chúng
con."
C uối
cùng, con xin được cùng Thầy Chỉ Đạo và các Tuệ thân yêu cùng các bậc phụ
huynh chắp tay ngang ngực chí thành, cầu nguyện cho cha mẹ nhiều đời được
thoát sinh vào những vùng đất đẹp, vui nhiều khổ ít; cầu nguyện cho cha mẹ
hiện tiền được sống an lành; và thân bằng quyến thuộc cùng khắp pháp giới
chúng sanh đều hưởng trọn một mùa Vu Lan ngát hương Từ Bi và đượm màu giải
thoát.
Nam Mô Đại Hiếu Mục Kiền Liên Bồ Tát.
Delhi, ngày đầu mùa Hiếu năm Bính Tuất,
Một người thầy.
{
    

Mục
Đồng
|