Cầu Sắt Sông Dinh năm 2000 - Nguyễn Văn Thành
Trang Thơ & Truyện: Mục Đồng                |                 www.ninh-hoa.com



 Trần Thanh Thiên
Bút hiệu: MỤC ĐỒNG

   Người làng B́nh Thành,
xă Ninh B́nh.

 Cựu học sinh trường
Trung Học Nguyễn Trăi
niên khóa 1992-1995.

---˜ ] ---


Hiện đang du học
tại Delhi, Ấn Độ.

 

 

 

 

 

NGÀY XUÂN ĐỌC BÀI T
XUÂN NHẬT TỨC SỰ”
Của HUYỀN QUANG THIỀN SƯ

? ˜ { @


T
hư pháp Hán tự:

Phiên âm:

Nhị bát giai nhân thích tú tŕ

Tử kinh hoa hạ chuyển hoàng ly.

Khả lân vô hạn thương Xuân ư

Tận tại đ́nh châm bất ngữ th́.

 

Dịch thơ:

Giai nhân mười sáu thêu thùa

Dưới thềm hoa nở, líu lo oanh vàng,

Thương Xuân bao nỗi bàng hoàng

Là khi không nói chợt dừng đường kim.


Vài nét và tác giả và tác phẩm
:

 

Đây là bài thơ nổi tiếng của Thiền sư Huyền Quang, tổ sư thứ 3, phái thiền Trúc Lâm Yên Tử - Việt Nam. Có nhiều người mới nghe qua bài thơ này đă hiểu lầm, v́ cho rằng tác giả là một Thiền sư, lại là Tổ sư của một Thiền phái lớn, sao lại viết nên một bài thơ tả h́nh ảnh thiếu nữ ủy mị, đậm màu trần tục. Tâm hồn c̣n vướng víu t́nh cảm ướt át như thế, th́ làm sao giải thoát? làm sao đạt ngộ chân tâm? Nhưng xét kỹ, nếu chỉ hiểu trên b́nh diện từ ngữ đơn thuần như vậy, th́ quả là một sự hiểu lầm đáng tiếc. Nhân dịp Xuân về, các thi hữu cùng nhau khai bút đầu năm, thưởng hoa ứng vận. Kẻ cùng tử này cũng xin vài ḍng góp vui và chia sẻ niềm Xuân tao ngộ.

 

Trước hết, xin ghi lại đôi ḍng về tiểu sử tác giả: Thiền Sư HUYỀN QUANG (1254 - 1334), tên thật là Lư Đạo Tái, sanh năm Giáp Dần (1254), ở làng Vạn Tải, thuộc lộ Bắc Giang. Thân phụ là Huệ Tổ, thuộc ḍng dơi quan liêu, nhưng đến đời ông th́ không thích công danh, chỉ ưa ngao du sơn thủy. Thân mẫu họ Lê là người hiền đức. Ngày ra đời của ngài c̣n ghi lại với một câu chuyện đầy vẻ huyền nhiệm: gia đ́nh ngài ở gần chùa Ngọc Hoàng, thầy trụ tŕ chùa là Thiền sư Huệ Nghĩa. Buổi tối, sau khi tụng kinh trên chùa, xuống pḥng ngồi trên ghế trường kỷ, Thiền sư Huệ Nghĩa ngủ quên, mộng thấy trên chánh điện chùa đèn đuốc rực sáng, chư Phật, Bồ tát tụ hội đông đủ như hội Linh Sơn thuở nọ. Hộ Pháp, Kim Cang, Long Thần về chầu chật cứng quanh chùa. Bấy giờ, đức Phật dạy tôn giả A-nan: “Ngươi hăy thác sanh để làm pháp khí cơi Đông”. Lúc ấy, có một người gơ cửa, thiền sư mới tỉnh giấc, liền viết một bài kệ viết trên vách chùa với nội dung là: người vốn có tâm Phật, nay được thấy điềm lành ắt là trên đường t́m Đạo có cơ duyên, người tâm đầu sẽ hội ngộ nay mai, không phải t́m đâu xa.

 

Thuở nhỏ, ngài có dung nhan kỳ lạ, ư chí xa vời, được cha mẹ mến yêu dạy cho tất cả các loại học thuật. Ngài tư chất thông minh, học một biết mười. Niên hiệu Bảo Phù thứ 2 (1274), đời vua Trần Thánh Tông, ngài thi đỗ Tiến sĩ (Trạng nguyên), lúc ấy được 21 tuổi. Cha mẹ tuy đă định hôn, nhưng chưa cưới. Sau khi thi đậu, nhà vua gả công chúa cho, ngài vẫn từ chối. Ngài được bổ làm quan ở Hàn Lâm Viện. Có lần phụng chỉ tiếp đón sứ thần Trung Hoa, văn chương ngôn ngữ của ngài vượt hơn sứ thần, khiến họ phải nể phục, đem lại niềm lại hănh diện lớn cho tất cả triều thần.

 

Một hôm, ngài theo vua Trần Anh Tông đến chùa Vĩnh Nghiêm ở huyện Phụng Nhăn nghe Thiền sư Pháp Loa (tổ thứ hai) giảng kinh, ngài chợt tỉnh ngộ. Ngài đă nhiều lần dâng biểu xin từ chức để xuất gia tu hành, nhà vua lúc ấy cũng rất kính mộ Phật giáo, nên sau cùng phê chuẩn. Đến niên hiệu Hưng Long thứ 13 (1305), ngài xuất gia thọ giới tại chùa Vĩnh Nghiêm, theo làm thị giả Điều Ngự (Sơ Tổ, cũng chính là vua Trần Nhân Tông), được pháp hiệu là Huyền Quang.

 

Niên hiệu Hưng Long thứ 17 (1309), theo lời di chúc của Sơ Tổ, ngài theo hầu Thiền sư Pháp Loa. Năm Đại Khánh thứ 4 (1317), ngài được tổ Pháp Loa truyền y bát và trụ tŕ chùa Vân Yên (Hoa Yên) trên núi Yên Tử. Do ngài vốn đa văn bác học, tinh thâm đạo lư, nên đồ chúng bốn phương nghe danh tụ hội về tham vấn rất đông.

 

Ngài thường phụng chiếu chỉ đi giảng dạy khắp các nơi. Kinh điển, công văn và những khoa giáo trong nhà thiền nói chung đều phải qua tay ngài duyệt. Ngày rằm tháng giêng năm Quí Sửu (1313), vua Anh Tông mời về Thăng Long, ngài ở chùa Báo Ân giảng kinh Lăng Nghiêm, sau đó về quê thăm viếng cha mẹ, lập chùa Đại Bi và trở về chùa Vân Yên, lúc đó đă 60 tuổi. Về sau, ngài trụ tŕ ở Thanh Mai Sơn sáu năm, rồi đến Côn Sơn giáo hóa đồ chúng. Đến ngày 23 tháng giêng năm Giáp Tuất (1334), ngài viên tịch tại Côn Sơn, thọ 80 tuổi. Vua Trần Minh Tông phong thụy là “Trúc Lâm Thiền Sư Đệ Tam Đại”, đặc phong Từ Pháp Huyền Quang Tôn Giả.

Ngài tuy là thiền sư, nhưng cũng là một thi sĩ tài hoa. Sau khi viên tịch, ngài để lại rất nhiều tác phẩm như: Ngọc Tiên Tập, Chư Phẩm Kinh, Công Văn Tập, Phổ Tuệ Ngữ Lục… và nhiều bài thơ nổi tiếng trong diễn đàn thơ văn Việt Nam: Cúc hoa, Sơn vũ, Thạch thất, An tử sơn cư am… và “Xuân Nhật Tức Sự” là một trong những bài đó.

 

Nghĩa của đề thơ là “tức cảnh ngày Xuân”, cho nên tác giả phải mượn khung cảnh nhân gian để tô vẽ, phác hoạ cái nền của mùa Xuân thiên nhiên. Khung cảnh đó dĩ nhiên phải có chim chóc, hoa cỏ và con người. Con người của mùa Xuân không có ǵ đẹp hơn là h́nh ảnh thiếu nữ c̣n đôi tám, “Em như cô gái hăy c̣n xuân, trong trắng thân chưa lấm bụi trần…”. Là con người có tấm ḷng Từ Bi bao la, thương yêu tất cả những cái mà thiên hạ không thể thương yêu, Huyền Quang đứng trước khung cảnh ư Xuân hân hoan và t́nh Xuân chan chứa như thế cũng không thể không thốt lên: “Ôi! Xuân đẹp và đáng yêu quá!”

 

Nhưng điều quan trọng và cũng là cái tứ chính của bài thơ là ở câu kết thúc: “Tận tại đ́nh châm bất ngữ th́”. Tác giả không chỉ thương Xuân bằng cái t́nh thương tầm thường của thế gian. Thế gian th́ có đẹp mới thích, có hay mới ưa, cái sự yêu thương ấy nó tuỳ thuộc bản năng tự nhiên của con người. Nó chưa thể đạt đến trạng thái “vô phân biệt” hay “b́nh đẳng” được, nghĩa là một người b́nh thường không thể thương một bông hoa và một đống rác như nhau. Với con mắt Thiền quán, trong hoa có rác, trong rác có hoa, và do đó tâm hồn đối với hoa và rác là sự chánh niệm, nhận thức thật tướng, không phải là sự luyến ái hoa và chán bỏ rác.

Với cảm quan đó, tác giả Thiền Sư đă nói lên cảnh giới cực điểm của “t́nh yêu Xuân” bằng một ḷng thương vô hạn của ḿnh, chính là “khi không nói chợt dừng đường kim”. Có phải là Thiền sư thương cô gái chăng, thương hoa, thương tiếng chim hót…? Tất cả chúng đều được bao dung vào một trạng thái đặc biệt: “CHỈ”, sự dừng lại của tâm thức, cũng là khoảng lặng của nhạc, là nhịp ngừng của thơ, là khoảng không gian của họa, và là cái cô tịch của haiku… Vậy th́, câu nói “Tận tại đ́nh châm bất ngữ th́” phải chăng chính là câu “ngôn ngữ đạo đoạn, tâm hành xứ diệt” trong nhà Thiền? Vâng, chính là đây vậy, bặt dứt đường ngôn ngữ, cắt đứt mọi tâm hành - đây là kết quả của người tu Thiền. Người tu hành mà đạt đến đây mới giải thoát khỏi đường sanh tử. Cảnh giới cao tột như thế mà không thương tha thiết th́ c̣n thương cái ǵ nữa? Chỗ này chính là mùa xuân bất diệt trong con mắt của một người giải thoát.

 

Như vậy, với bốn câu thơ ngắn gọn, từ chỗ tả cảnh Xuân, bày tỏ nỗi ḷng thương người, yêu cảnh đơn thuần, tác giả đă nâng cao giá trị tâm linh của bài thơ lên đến đỉnh cao, vượt ngoài ṿng kiềm toả của ngôn ngữ, mọi yếu tố tác động đều vắng lặng, một sự dừng nghỉ tuyệt đối trong khi vạn vật vẫn cứ biến chuyển. Ở đây, trong cảnh giới cao tột của cơi thơ, ta cũng bắt gặp một h́nh ảnh Xuân tương tự như thế: “Đêm qua sân trước một cành mai”. Giữa vạn vật vô thường biến chuyển, xuân đến, xuân đi, cành mai đêm trước vẫn bất diệt trong tâm thức của con người tự tại, thong dong.

 

                                                                  

Xuân Đinh Hợi,

q mục đồng

? ˜ { @

Tham khảo:

 

“Thiền Tông Việt Nam” của HT. Thích Thanh Từ.

“Thiền Học Đời Trần”, nhiều tác giả.

 

 

Trang Thơ & Truyện: Mục Đồng                |                 www.ninh-hoa.com