Nói
về cá thì xung quanh đời sống con người thì có vô số loại cá. Tuy vậy,
loại cá mà tôi vốn thích nhất vẫn là cá có râu mà người Mỹ gọi là
whiskers, như cá mèo (dịch từ chữ nguyên thủy catfish), cá trê, cá tra, cá
bông lau, cá dứa, cá ngát, cá nheo, cá chốt,... Với đời sống thường nhật
tại Mỹ chúng ta va chạm với loại catfish tươi của Mỹ nhiều hơn cá đông
lạnh nguyên gốc từ Việt Nam. Mấy lúc gần đây người ta nghe xôn xao cuộc
chiến tranh giành thị trường giữa hai loại cá Việt và Mỹ này. Bài viết này
chỉ chú trọng nhiều về kỷ niệm với những loại cá có râu "ăn ảnh" whiskers
đối với tôi mà thôi.
Nói
về cá thì gần hơn hết là các món ăn về cá. Tôi còn nhớ nhân đọc bài viết
của nhà văn Phượng Đăng ở Ohio, ông viết một phóng sự về "Món ăn cầu kỳ
nhất của thi sĩ Tản Đà" đã đăng trên tuần báo Nắng Mai, tác giả là bạn
thân với người con trai lớn của cụ thi sĩ Nguyễn Khắc Hiếu, nên được biết
rất rõ về sở thích ăn rất cầu kỳ của nhà thơ núi Tản sông Đà này. Hồi học
trung học tôi vốn thích bài thơ lục bát "Thề Non Nước" của cụ như sau:
"Nước non nặng một lời thề,
Nước đi mãi không về cùng non,
Nhớ lời "nguyện nước cùng non",
Nước đi chưa lại, non còn đứng không,
Non cao những ngóng cũng trông,
Suối tuôn dòng lệ chờ mong tháng ngày,
Xương mai một nắm hao gầy,
Tóc mây một mái đã đầy tuyết sương,
Trời tây ngã bóng tà dương,
Càng phơi nét ngọc nét vàng phôi pha,
Non cao tuổi vẫn chưa già,
Non thời nhớ nước, nước mà quên non,
Dù cho sông cạn đá mòn,
Còn non, còn nước, hãy còn thề xưa,
Non cao đã biết hay chưa ?
Nước đi ra bể lại mưa về nguồn,
Nước non hội ngộ còn luôn,
Bảo cho non chớ có buồn làm chi,
Nước kia dù hãy còn đi,
Ngàn dâu xanh tốt non thì cứ vui,
Nghìn năm giao ước kết đôi,
Non non, nước nước không nguôi lời thề."
Tản Đà (1889-1919)
Tản Đà là một nhà thơ tiền bối về thơ lãng mạn như trong bài "Tương Tư", "Gió
Thu" hay "Tống Biệt" mà tôi cũng rất thích. Hiểu đựơc án thơ của cụ mà lại
hiểu thêm về lối ăn cầu kỳ mà cụ chủ trương về cách làm thức ăn như thế
nào thì thật là thú vị, chẳng hạn như món ăn ốc bươu nướng cụ làm rất công
phu, chả thua chi món escagots của người Pháp. Món ốc này cụ nhâm nhi với
rựơu nếp than do đích thân cụ cất. Vì bài viết chú trọng về món cá, nên
tôi miễn đi sâu vào cách thức làm ốc của cụ Tản. Dĩ nhiên cụ còn nhiều bí
quyết nấu nướng mà thuở xa xưa ngừơi ta ít ghi nhận bằng sách vở mà chỉ
truyền khẩu. Món cá thu kho mía của cụ cũng là món hấp dẫn tôi. Trước đây
tôi chỉ được thửơng thức món cá thu kho riềng từ gia đình của một ngừơi
bạn thân của tôi vốn di cư từ Bắc vào Sài gòn. Theo bài tác giả Phựơng
Đăng ghi nhận theo cách thức của cụ Nguyễn như sau:
"Cá thu mua về không đựơc rửa nước mà phải lau bằng giấy bản như khi làm
sạch cá ăn gỏi vậy. Không cần rán (chiên) qua cho khỏi tanh. Cá thu là
loại cá biển không mấy tanh. Dưới đáy nồi (cụ Tản Đà đòi hỏi một nồi đất)
bỏ những miếng mía xắt mỏng rồi đến một nắm trà mạn (nếu có trà mạn vào
thì mới ngon, nhà thơ dặn cụ bà), xong xếp các khứa cá lên trên trà mía,
trên cùng là ít ngọn rau răm, đổ vào một số nước mắm vừa đủ sao cho cá
không mặn, không nhạt, rồi bắt lên bếp đun liu riu, khi cá đã khô cạn nước
mắm là ăn được".
Tương tự như khi kho cá của người miền nam, mẹ tôi kho cá bông lau (cá
whisker nước ngọt) hay cá dứa (cá whisker biển) theo lối rất đồng quê lục
tỉnh, để lửa nhỏ riu riu để cá từ từ thấm. Mẹ tôi băm hành hương (hành tím)
và tỏi cho giã nhuyễn ướp vào cá, bà ướp cách đêm, hôm sau bà đem cá từ tủ
lạnh ra kho. Bà thích dùng niêu đất khi kho. Cá được cho vào tí nước màu
như khi thắng đừơng caramel, rồi nêm bằng nước mắm ngon, loại Phú Quốc hay
Phan Thiết, thêm nước lã vào hổn hợp sao cho nước lã và nước mắm xăm xắp
các khứa cá, rồi giằn thêm đừơng thẻ (đừơng mía) cho vị ngọt của mía thấm
vào cá. Khi nước cạn xuống hơn phân nửa độ dầy của cá, nước sốt sền sệt,
xong cho cá ra diã bà rắc tiêu sọ giã to từng hạt. Khi ăn vào cá quyện vào
những hạt tiêu sọ vừa cay cay, hương vị cá vừa bùi bùi của mùi đừơng mía,
rồi hương vị hành hương thơm lừng phải nói là rất bắt khẩu vị.
Quê ngoại tôi ở Vũng Tàu mà quê nội lại ở tỉnh Tây Ninh, nên ngày xưa khi
hè về anh em chúng tôi được luân phiên chia làm 2 tốp, nếu tốp này về thăm
nội, tốp kia thăm ngoại, như thế hoán chuyển mỗi mùa hè khi được bãi
trường hay nghỉ học. Cả hai địa danh này đều cho tôi nhiều kỷ niệm êm đềm
đáng nhớ về sông rạch, về biển cả và cá, đặc biệt cá có râu whiskers. Tôi
còn nhớ những ngày hè trước năm 75, khi quân đội đồng minh Mỹ và Úc đến
vùng biển Vũng Tàu, thì nơi đây có sinh hoạt kinh tế rất sinh động, phồn
thịnh và tấp nập. Ở tuổi trẻ thích vui khi được về Cấp, tôi theo ông ngoại
tôi ban đêm ra Cầu Đá trước Ty Bưu Điện ở bãi trước Vũng Tàu câu cá đến
khuya 1 hay 2 giờ sáng. Miệt biển có loại cá dứa tương tự như cá bông lau
sông rất ngon. Thú câu đêm rất vui, hai ông cháu đèo nhau trên xe gắn máy
ra biển. Để phòng cái lạnh về khuya tôi nhớ tôi trang bị cho mình chiếc
quần blue jean dầy và khoác áo xanh lá cây treillis thật ấm của quân đội
Hoa Kỳ những lần câu đêm như vậy. Sau khi thả mồi nhìn biển cả xa xa tâm
hồn thư thái, an nhàn vô cùng, gió biển vào hè mát lạnh khi trời càng về
khuya, thỉnh thoảng tôi ngó phao xem có cá cắn câu chưa. Đèn pha của ngọn
hải đăng từ trên núi thỉnh thoảng quạt một vệt sáng trên trời, không trung
có hàng triệu vì sao lấp lánh, những tinh tú ẩn hiện tận chân trời xa xăm
cho thấy vũ trụ thật bao la. Giựt mình trong phút giây mộng mị vì cá lớn
đã cắn câu và run mạnh cần, tôi vội xoay nhanh ghì cần kéo cá lên. Ồ, một
chú cá dứa thật to. Có hôm ông cháu chúng tôi câu đựơc bốn, năm con cá dứa
và nhiều cá mú đá màu xám hay mú lửa màu đỏ, rồi có hôm có cá ngộ halibut
rất ngon. Bà ngoại tôi nấu ăn rất khéo. Bà nấu canh súng cá dứa, cá dứa
chưng tương hoặc cá dứa kho me. Tôi không biết món canh súng tiên khởi
phát xuất từ tỉnh nào, nhưng chỉ biết nhà ngoại tôi thường ăn món này.
Trong nước lèo nêm canh súng có tương đen (hoisin sauce), đậu phọng rang
giã nhỏ, xã băm, hành hương, tỏi phi và nêm thêm gia vị căn bản nước mắm,
đường. Các loại rau độn có bạc hà, ngó sen chẻ cọng, giá và rau ngò om.
Những khứa cá dứa thật ngon và béo ngậy. Tôi cũng được nghe về loại cá
ngát, một giống whiskers nhưng lại sống ở vùng nước lợ ranh giới của nước
sông và nước biển như Bà Rịa hay Cát Lở. Tựu trung thì Vũng Tàu vẫn cho
tôi nhiều kỷ niệm, nhưng thú câu cá về đêm vẫn hấp dẫn tôi nhiều hơn cả.
Có vài người bạn tôi hỏi tại Việt Nam có 4 loại cá có râu thông dụng là cá
basa, ca tra, cá hú và cá dứa biển. Vậy thì làm sao ta phân biệt các loại
này được ?
Tôi tìm tòi tài liệu và hỏi han các vị có kiến thức chuyên môn về cá
whiskers thì sau đây là cách phân biệt cá tra và cá ba sa đại loại như sau:
- Basa có màu xanh nhạt hơn cá tra và khi cầm cá tra lên sẽ thấy có màu
sáng bạc ở sống lưng cá.
- Độ dài con cá basa ngắn hơn cá tra nhưng bụng lại to hơn một chút. Mỡ
trong bụng cá basa có hai múi giống như múi bưởi và có màu trong hơn mỡ cá
tra.
- Đầu cá tra to, gồ và bè ra, dẹp hơn cá basa. Đầu cá basa thon cao hơn và
có lỗ hõm ở giữa xương sọ nông, nhỏ nhưng dài hơn lỗ hõm ở cá tra sâu rộng
nhưng ngắn hơn.
Trong trường hợp làm sạch sẽ và cắt cá ra thành từng khúc, từng khoanh rồi
thì càng khó phân biệt hơn. Thớ thịt cá basa nhỏ, đều hơn và có màu trắng
hơn cá tra. Nếu là thịt cá tra nuôi hầm thì có màu vàng và hôi hơn, khi
kho với gừng thì mùi hôi sẽ càng nồng hơn.
Riêng về cá hú, cá dứa có màu trắng hơn cá basa. Cá dứa trắng nõn nà còn
cá hú chỉ có màu xanh một ít ở sống lưng cá. Đầu cá dứa, cá hú nhỏ và ngắn
hơn cá basa nhưng bụng cá hú lại to hơn vì có nhiều mỡ hơn, và mình cá dẹp
hơn.
Những ngày hè về quê nội ở Gò Dầu Hạ, một
quận lỵ sầm uất của tỉnh Tây Ninh, vì từ quận Gò dầu Hạ đi thêm 3 cây số
về hướng tây là đến Gò Dầu Thượng, nơi có khu Chợ Trời Miên-Việt nổi tiếng.
Tại đây bạn có thể mua bất cứ những món hàng lậu thuế giữa hai quốc gia từ
chén diã bằng sứ, đồng hồ, quạt máy, sà bông, mỹ phẩm, dầu thơm Pháp, áo
Montagut, rượu Cognac, rựơu chát Dubonnet, thuốc lá Craven A hay 555,...
Tôi ghé Chợ Trời vài lần trong cái nắng chói chan, nóng hừng hực của Tây
Ninh. Tôi nhớ bạn bè ngâm nga câu vè về cái nóng oi bức của Tây Ninh như
sau khi so sánh với tình người:
"Tây Ninh nắng cháy da ngừơi,
Phố đông thân thiết hỡi ngừơi Tây Ninh?"
Mùa hè năm 69, tôi về Gò Dầu và được ngừơi anh bà con, anh Tài, chở vào
Rạch Sơn câu cá. Rạch Sơn cách Gò Dầu khoảng một cây số nằm trên quốc lộ
22 đường lên Tây Ninh. Tại Rạch Sơn có cầu Rạch Nho mà bề rộng con rạch
thiên nhiên này chừng 20 thước được nước sông cái là Vàm Cỏ Đông đưa vào.
Chúng tôi đi câu dọc theo con rạch này, nơi đây có nhiều thứ cá đồng từ cá
lóc, cá bông lau, cá trê, cá sặc hay cá rô đồng. Nhà ngừơi bạn thân của
anh Tài, anh Sơn, ở gần sát con rạch này và nhà lại có hàng dừa nặng trĩu
quằn cây, hàng dừa xanh mơ rất sai trái cạnh bờ rạch, tôi nhìn những cành
dừa xiêm nghiêng lá rũ che bóng ngả xuống mặt nước là nơi mà cá thường trú
ẩn. Nhà anh Sơn vách ngói cũ kỷ, các cạnh hông nhà lợp bằng gỗ khá bạc màu.
Xung quanh nhà còn có rất nhiều cây ăn trái như cốc, xoài, ổi, sa pô chê,
vú sữa, mãng cầu, bưỡi, tầm ruột,... Chúng tôi ra bờ rạch gần nhà anh thả
mồi câu cá. Nước con rạch thật trong vắt cho ta thấy cá đùa giỡn qua lại,
gió thổi dâng nước mát lên, tôi thấy hồn thật thú vị, nhẹ nhõm, khác xa
với cái ồn ào, náo nhiệt của những con phố đông đúc Sài Gòn. Rồi không
gian vang tiếng ve kêu khi hè về, tiếng chim muông hót, tiếng ểng ươn kêu
tạo thành bài họp ca của vùng đồng quê thật sự. Buổi chiều ngày hôm đó ba
người chúng tôi vác về nhiều cá. Nào là cá lóc, cá trê vàng, cá rô đồng và
cả cá bông lau mà tôi thích. Tôi mê món cá lóc và cá bông lau nướng đất
sét do gia chủ làm. Lột bỏ lớp đất sét bao phần ngoài là những phần thịt
cá trắng tươi, vị ngọt và thơm tự nhiên, thịt cá được cuốn chung với bánh
tráng, rau sống, đọt chiết, đọt cốc, đọt xoài, ngó sen, khế, chuối chát...
món nước mắm được pha rất ngon. Mẹ anh Sơn cẩn thận tước từng múi chanh ra,
pha tỏi, ớt, kiệu băm nhỏ nên nước chấm không bị loãng. Ngoài ra món cá
bông lau nấu canh chua bông so đũa rất ngon miệng, rồi cá trê vàng dầm
nước mắm gừng kèm với xoài sống thái sợi, cá rô vàng kho xã, ớt và nghệ.
Ôi, thật tuyệt cú mèo! Đồng quê Việt Nam như tại tỉnh nhà nơi tôi chào đời
thiên nhiên quả thật ưu đãi ngừơi dân về các thổ sản từ ruộng đồng, sông
rạch, đời sống nông thôn lại nhàn hạ, hiền hòa, chất phác làm sao ấy! Nếu
đồng quê hay bờ biển Việt Nam có những loài cá whiskers như cá bông lau,
cá trê hay cá dứa thì đồng quê Mỹ có những loại cá catfish, tôi thích Việt
ngữ hóa là loài cá mèo.
Khi đất nước Việt Nam đổi đời năm 75 chạy sang Mỹ tị nạn, tôi lại có dịp
đi đó đâỵ Tôi đến thăm Sacramento lần đầu vào mùa hè được ngừơi cậu vợ chở
đi thăm những cánh đồng lúa vàng bao la, bát ngát của thành phố đồng quê
Davis, tôi cảm thấy thích thú vô cùng, vì nó đem tôi về những cánh đồng
trù phú của miền quê Việt Nam như Bạc Liêu, Sóc Trăng hay Long Xuyên năm
nào trong sự thu nhận của ký ức cũ của tôi. Tôi còn được cậu chở đến thăm
trang trại nuôi cá do ngừơi Mỹ địa phương làm chủ. Tại đây tôi thấy nhiều
hồ cá nuôi theo công nghiệp, hồ xây nhân tạo, có nhiều loại cá được nuôi
từ cá mèo, cá mè cầu vòng (rainbow trout), cá hanh sọc (striped bass), cá
chép, cá trắng (white fish) và cá rô phi (tapilia). Cá được cho ăn đúng
giờ bằng máy bơm thức ăn, nước được hệ thống sửơi điều hòa nhiệt độ thích
ứng cho cá sinh sống. Thức ăn là những viên mồi hạt tròn nhỏ pha bởi bột
lúa mì, bột bắp, bột đậu nành, vitamins và khoáng chất. Cá con đựơc nuôi
riêng sau thời gian cá mẹ ấp trứng sinh nở. Mỗi cá mèo mẹ cho từ 4,000 đến
7,000 trứng. Kỹ nghệ nuôi cá có số thu hoạch khá đáng kể. Số thu hoạch
hằng năm tại các nông trại ở miền Mississippi khoảng 450 triệu lbs cá mèo
có trị giá tương đương hơn $350 triệu mỹ kim. Do đó khi số lượng cá nước
ngoài đổ vào thị trừơng cá Hoa Kỳ thì thường thường bị các tổ chức ngư
nghiệp Mỹ phản đối như các vụ thưa kiện giữa cá basa Việt Nam và cá mèo
Hoa Kỳ.
Rồi tôi đến thăm tiểu bang Minnesota vào một mùa hè khác và được anh bạn
cũ quen trong trại tị nạn Guam, anh Hoàng, đưa đi câu cá mèo tại đồng quê
của tiểu bang này. Trước đây anh Hoàng trong đơn vị tuần thám giang đoàn
của hải quân đóng ở vùng đồng bằng châu thổ sông Cửu Long, anh rất am hiểu,
rành rẽ về việc câu cá và sông ngòi. Nó như một nỗi đam mê của anh. Anh
dẫn tôi đi câu cá tại vùng Hidden Falls, cạnh bờ sông Mississippi. Sông
Mississippi dài 4,000 miles chảy qua nhiều tiểu bang Hoa Kỳ, từ Wisconsin
ở miền bắc xuôi xuống miền nam là Lousiana và đổ ra vịnh Mễ Tây Cơ. Lấy
freeway 94 từ Minneapolis đi về hướng nam chúng tôi ghé vào một biển hồ
bao la, tôi thấy người ta khệ nệ xách những chú cá mèo vừa câu lên, làm
lòng tôi càng phấn khởi hơn. Cá có râu whiskers tại đây được liệt kê gồm
có mấy loại khác nhau như khi tôi đọc trên bảng chỉ dẩn phân loại, loại
đầu bò, bullhead, cá có đầu rất to và cứng, loại này có 3 giống, 3 màu
khác nhau là: nâu, đen và vàng. Loại cá mèo thừơng gặp trong chợ là cá mèo
kênh, hay channel catfish, thuộc loại phổ thông, tức loại ictalurus
punctatus. Loại này màu xám lợt có khá nhiêu trong sông Mississippi này.
Cá đẻ khá nhiều vào mùa hè khi thời tiết ấm áp thích hợp cho sự thụ tinh
và sinh sản. Khác với cá nuôi, ngoài thiên nhiên cá cái có thể sản xuất 20
ngàn trứng. Cá mèo đầu dẹp, flathead catfish là loại cũng được ghi nhận ở
đây. Chúng tôi dùng lưỡi câu số 8 hoặc 10 khi câu cá mèo. Ném cần khi ngồi
ven sông, tôi ngó đám lục bình xanh hoa tím trôi lững lờ trên dòng
Mississippi, tôi thấy sao cảnh thiên nhiên đồng quê êm đềm, dễ chịu như
quê tôi, như khi tôi đứng tựa chân cầu Gò Dầu Hạ, chiếc cầu đúc màu trắng,
có 5 nhịp được xây từ thời Pháp thuộc, cầu bắc ngang sông Vàm Cỏ Đông,
ngày xưa Vàm Cỏ Đông cũng có những đám lục bình và hàng cây bần mọc ven
sông. Ngày nay Mississippi cũng có lục bình y chang như trên quê hương
Việt Nam. Tuy vậy điều thắc mắc là tôi không thấy cây bần, có thể ở Mỹ
không có (?). Cũng tại bờ sông Mississippi này ngày xưa nhà văn hào Mark
Twain thường đem con sông quyến rũ, thơ mộng và đầy lợi ích này vào văn
chương của ông như tác phẩm "Dòng đời trên sông Mississippi" (Life on the
Mississippi), mà trong đó ông đưa những tình tự thiên nhiên và đồng quê
trong những mảnh đời ven dòng sông Mississippi. Thực vậy, chính dòng sông
này đã nuôi sống không biết bao nhiêu ngừơi dân Hoa Kỳ. Hồn tôi cảm thấy
thật thú vị, thư thái khi kéo cần kéo thêm một chú cá mèo đang giẫy giụa
ăn trúng mồi của tôi. Trời về chiều hai chúng tôi vác ra xe hơn một chục
chú, thiếm cá mèo channel và vài con cá đầu bò bullhead nâu và đen. Tối
hôm đó chúng tôi có bữa họp mặt bạn bè thật no nê tại thành phố chị em
Saint Paul – Minneapolis.
Một kỷ niệm khác câu cá mèo tại Mỹ nữa là khi tôi sang Houston, Texas,
thăm ngừơi bạn học cùng trừơng Petrus Ký và đại học Kinh Tế Minh Đức cách
đây 2 năm. Bạn tôi, Phước tính hiền hòa, thích sống an nhàn, thanh tịnh,
anh thích lái ca nô ra biển hay ra hồ hửơng thú vui trở về với thiên nhiên.
Tôi nhớ hôm đó sáng ngày thứ bảy, Phước rủ theo một ngừơi bạn khác cũng
học Minh Đức nữa là Đức, vì Đức có tiếng là tay sát cá khi đi câu, mỗi lần
anh thả mồi là hầu như luôn luôn bắt đựơc cá. Chúng tôi ba đứa chất nhau
lên chiếc van Ford của Phước kéo theo chiếc ca nô phía sau đi câu tại biển
hồ Lake Conroe. Sở dĩ tôi gọi là biển hồ vì đây là cái hồ thiên nhiên bao
la rộng 22 ngàn mẫu Anh. Xe đi về hướng bắc trên xa lộ I-45, cuối cùng rẽ
vào hồ Conroe. Chúng tôi cho tàu xuống bờ hồ, Phước chủ động tay lái hướng
ra khơi, biển hồ mênh mông, gió thổi nhè nhẹ mát mẻ, phía bắc của hồ là
nơi nước khá sâu và tương đối vắng vẻ là nơi tập trung nhiều cá. Hồ Conroe
có nhiều loại cá khác nhau, trong đó cá mèo có khá nhiều. Đức mang theo 2
thứ mồi là mồi trùng và mồi tôm nhúng nước mắm. Mồi nên ngâm nước mắm
trước vì lý do khi mùi nồng của nước mắm tỏa ra mấy chú, thiếm cá lại đê
mê tâm hồn vây quanh cho cần câu chúng tôi hoạt động liên tục. Hai bạn tôi
kéo cá khá nhiều, tôi thích cảnh hồ quá đẹp, thơ mộng và tôi còn nhớ hôm
đó tôi mang theo một ít sách đọc giải trí khi tàu neo giữa hồ, trên trời
có mây, bên dưới có nước, phần tôi buông cần để tìm những ý nghĩ cho riêng
mình. Tôi đọc một quyển thơ Anh ngữ để tìm thấy những vần thơ trẻ trung,
bình dị về thú câu cá biển hồ như hai bài thơ tiêu biểu, mà tôi đoán các
tác giả hãy còn rất trẻ như lời văn hồn nhiên như sau:
"Let the lake show
you
Let the lake guide you
Let the lake lead you onward
Peace, I know you will fịnd."
Thật vậy, quanh cảnh bao la hùng vĩ của thiên nhiên, của những ngọn gió
mát rượi tâm hồn, sự yên bình trong tâm thức làm con người quên đi mọi
muộn phiền của cuộc sống bon chen, những ngày giờ ganh đua, bận rộn chạy
theo nhịp kim đồng hồ. Bên trang khác có hình vẽ một ngừơi đàn ông đăm
chiêu ôm cần câu cá trên chiếc thuyền với lời thơ như sau:
"The water is
peaceful
While fishing in my boat
Watching birds flying my head
Watching fish comes afloat."
Những vần thơ mộc mạc, thơ ngây đó đã diễn tả đúng tâm trạng chúng tôi
ngày hôm nay khi sau hơn một phần tư thế kỷ loạn lạc xa nhau rồi gặp lại
nhau trên quê hương người, chúng tôi những bạn bè cũ gặp nhau trong thú
điền viên vui tuế nguyệt của cụ Tản Đà hay cụ Nguyễn Khuyến ngày xưa. Một
tài liệu khác tôi đọc về loài cá mèo cho thấy những lợi ích từ những chất
bổ dữơng của cá như chất đạm, sinh tố B12 và Omega-3 Fatty acids. Trung
bình cứ 100 grams cá mèo tươi thì cá cho ta 100 calories, 2.5 grams chất
béo chưa bão hòa, khoảng 1 gram chất béo bão hòa, 50mg lượng Cholesterol,
2.0mg sinh tố B3 (Niacin), 0.4mg Pyridoxine (B6), 12.8mcg Folic acid (B9),
0.2mg Riboflavin (B2), 2.0mcg Cobalamin (B12), 54mg Sodium, 0.9 mg Să‘t,
22.0mg Magnesium, 0.3g Potassium và 17grams chất đạm Protein. Do vậy mỡ
trong cá là loại mỡ tốt nhiều hơn mỡ xấu, nên nhiều tài liệu nghiên cứu y
khoa vẫn khuyên chúng ta ăn cá vẫn tốt hơn ăn thịt. Việc tiêu hóa trong
tiến trình biến dữơng những chất sinh hóa bổ dữơng sẽ nhanh hơn khi chúng
ta ăn thịt. Vả lại, nguồn cung cấp về trữ lượng chất đạm và Potassium rất
dồi dào trong cá, vốn rất tốt cho vấn đề bảo vệ sức khoẻ theo quan niệm y
khoa tây y. Còn bên đông y cho rằng ăn cá rất tốt cho tỳ và vị. Khi bổ tỳ
có nghiã là khí tăng đối với ngừơi mang bệnh và cơ thể suy nhược hoặc yếu
đuối. Bổ vị là rất tốt cho dạ dày, đại tràng dễ dàng tiêu hóa, ngăn ngừa
chứng bệnh táo bón.
Điều không chối cãi từ ngàn xưa, ngừơi Việt Nam vẫn ăn cá nhiều vì hệ
thống sông ngòi chằng chịt và bờ biển quá dài về hướng đông của quê hương,
chạy dài từ Bắc xuôi Nam của đất nứơc chúng ta. Cá sông hay cá biển vẫn là
nguồn thức ăn quý báu và phì nhiêu cho dân tộc ta. Hơn nữa, khi ăn cá
ngừơi Việt lại thừơng độn thêm vô số rau quả trong các món ăn thường nhật
ví dụ món canh chua khóm, canh chua bạc hà, canh chua măng,..., rồi bông
so đũa, cà chua, me, giá, rau muống, bắp cải, bông súng, ngó sen, mít non,
đậu bắp, đậu rồng, rau cần celery, bắp chuối, thì là, ngò om, ngò gai...
đến các loại rau cải, đậu, nấm tươi đi kèm cho các món xào hay hấp. Có thể
nói từ ngàn xưa ngừơi Việt Nam chúng ta đã ăn đúng sách vở y khoa đông hay
tây phương đã chủ trương.
Viết lên những dòng chữ này, tôi nghĩ đến cụ tiền bối Tản Đà Nguyễn Khắc
Hiếu chủ trương ăn cá, nhớ đến cụ ngoại tôi ngừơi Vũng Tàu rất thích thú
đi câu ban đêm, nghĩ đến bạn bè, thân thuộc khắp nơi hay những ngừơi dân
chân chất thôn quê từ Tây Ninh, Bình Dương, Châu Đốc, Vĩnh Long, Bến Tre,
Long An, Long Xuyên, Cần Thơ, Rạch Gía, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Phú Quốc đến
Minnesota, Texas, Mississippi, Tennessee, Missouri, Louisiana, Hawaii,
Oregon hay California mà tôi đã chia sẻ những kỷ niệm yên vui trong đời.
(Gởi Phạm Thành Đức & Trang Sĩ Phước KTMD Houston và người săn cá Nguyễn
Đình Phú Nam Cali)
Việt Hải, Los Angeles