Thơ và Truyện của Việt Hải             |                 www.ninh-hoa.com


Việt Hải
 

Tên thật: Trần Việt Hải
Sáng tác nhiều thể loại
Văn, Thơ, Biên Khảo,...
tại hải ngoại.

     

 



Hiện cư ngụ tại
Los Angeles - USA

 

 

 

 

  

Chuyện T́nh Của Nhà Văn:

MAX STEELE

Việt Hi Los Angeles

 

 

 

Tuần rồi tôi có đưa bài viết intro sách mới "Văn Nhân & T́nh Sử" của nhà văn Vương Trùng Dương có bài "Lê Trạch Lựu và T́nh Khúc Em tôi", người nhạc sĩ biết yêu năm 16 tuổi, khi chàng gặp Kim Phượng, tiếng sét ái t́nh bỗng đến ngay phút đầu gặp em. Mối duyên t́nh đẹp ấy là mối t́nh theo măi một đời theo xuống tuyền đài.

Phải nói là những mối t́nh ở thuở mới lớn chớm biết yêu, là những kỷ niệm đẹp v́ e dè nhút nhát (FSFL: first sight of first love, première vue d'un premier amour), khi tiếng sét t́nh ái, thunderbolt khiến tim ta bồi hồi xao xuyến đập thất nhịp chỉ bởi v́ yêu em ngay phút đầu.

 

Hôm nay tôi xin intro tiếp chuyện t́nh măng non, loại puppy love mà nhà văn Max Steele để lại thế gian này khi ông ra đi, y như nhạc sĩ Lê Trạch Lựu đă làm. Những puppy love măng non của tuổi 16, lứa tuổi sweet sixteen thật dễ thương. Xin intro bài viết vui tươi mang tên ngộ nghĩnh "Ah Love! Ah Me!", được ng̣i bút Trương Mỹ Vân chuyển ngữ dưới tên "Mối T́nh Đầu Xuân. Đôi nét về nhà văn này nhé:

Max Steele, 83 tuổi (1922-2005, là nhà văn, người cố vấn văn chương và kiêm giáo sư danh dự (Professor Emeritus), dạy môn văn chương Anh văn tại trường học cũ của ḿnh, là Đại học North Carolina tại Chapel Hill, ông đă qua đời vào ngày 01 tháng 8, 2005 tại Chapel Hill.

 

Về thuật ngữ "Professor Emeritus" xin cho tôi dài ḍng, nhiều chuyện tí ti, v́ theo quy chế đại học Hoa Kỳ, khi chuyển ngữ danh từ "emeritus" là vinh hiệu "danh dự" có thể bị hiểu nhầm. Khi tuyên dương sự cống hiến của một vị giáo sư, hay một khoa học gia, hay một nhà bác học,… đă về nghỉ hưu cho họ chữ emeritus là cách để biểu hiện đặc ân tôn trọng và ḷng tri ân đối với người được trao danh hiệu vinh dự này. Một vị emeritus dù không c̣n quyền hạn chính thức như theo chức vụ ngày xưa, nhưng vị này vẫn có thể tham gia vào các buổi lễ nghi hay hội họp chính thức nếu muốn hay được mời, bởi v́ khả năng chuyên môn như trong thời gian ông hay bà c̣n tại vị trước đây. Ví dụ như giáo sư Nguyễn Xuân Vinh khi về hưu ông mang tước hiệu Professor Emeritus of Aerospace Engineering của Đại học Michigan, giáo sư danh dự ngành kỹ thuật không gian. Tuy vậy sự nhiêu khê khi ta dịch không rơ ràng là "giáo sư danh dự" có thể gây ra sự hiểu nhầm với danh hiệu "Honorary Professor". Mà hihi... "Honorary Professor" không kèm điều kiện nghỉ hưu, có công đóng góp lâu dài cho tổ chức này. Chẳng hạn như một trường nọ đại học mời mọc một ông giáo thính giả từ xứ Mấy chú 3 PRC HD981 sang Mỹ dạy vài phùa, cho ông giáo tên hiệu trên giấy tờ "Honorary Professor", "Honorary Fellow". Và rồi một ví dụ khác như "tiến sĩ danh dự" (honorary doctorate) của trường Graduate School Park Jung-ho tại Seoul cấp giấy cho me-sừ Nguyễn Tấn Dũng giảng về kinh nghiệm luật pháp và kinh tế VNCS. Với khả năng "siêu việt" của sừ ni ta không thể dịch hay hiểu y là một Professor Emeritus.

 

 

Học lực: "Y tá tiến sĩ Hàn quốc"

 

Tóm lại quy chế nhà trường ban cho “Giáo sư Emeritus” (Professor Emeritus) là một giáo sư dạy thực thụ, thông thường đă làm việc toàn thời gian, nhưng nay đă nghỉ hưu, ông hay bà vẫn có thể được mời định kỳ để thuyết tŕnh, giảng dạy, tham khảo ư kiến hay được trao một giải thưởng nào đó.

 

Thôi đă ăn gian đi lố đề tài, xin trở lại chủ đề nhà văn Max Steele, các tác phẩm tiêu biểu của ông ni như "Debby", "The Cat và Coffee Drinkers","Where She Brushed Her Hair" và "The Hat of My Mother". Chính những tiểu thuyết của ông đă đưa tên ông lên trên đài danh dự đoạt những giải thưởng điển h́nh như the Harper Prize, the Saxton Memorial Trust Award, the Mayflower Cup Award và O. Henry Prizes. Ông đă nhận được khoản tài trợ đặc biệt cho công tác văn chương của ḿnh từ Quỹ Quốc gia Nghệ thuật (the National Endowment for the Arts).

 

Điều cao quư là Max là một giáo sư chuyên tâm, tận tuy được nhiều người mến mộ và yêu quư bởi v́ ông là một cố vấn có công đào tạo cho các thế hệ nhà văn đi sau, Steele sáng lập và hướng dẫn chương tŕnh sáng tạo văn chương tại Đại học North Carolina (UNC), tọa lạc tại thành phố Chapel Hill kể từ năm 1967 cho đến năm 1986. Nhiều học tṛ của ông sau này đă trở thành những nhà văn tên tuổi, những tác giả nổi bật như Randall Kenan, Jill McCorkle và Lawrence Naumoff.

 

Nhà văn Max Steele sinh ra vào năm 1922 tại Greenville, tiểu bang South Carolina. Steele đă theo học tại các đại học như Furman (Greenville), Vanderbilt (Nashville, Tennessee), đại học Paris Sorbonne và Academie Julienne (École des Beaux-Arts) ở Paris. Ông đă phục vụ trong quân lực Không quân Hoa Kỳ trong thời Thế chiến II. Bài viết của ông đă được đăng lần đầu tiên trên tạp chí Harper trong năm 1944 và tốt nghiệp từ trường UNC vào năm 1946. Sau đó, ông sống ở Paris, nơi ông là một người bạn và đồng nghiệp của George Plimpton và một biên tập viên (BBT) sáng lập của tạp chí văn học The Paris Review. Ông vẫn kết nối với các văn hữu trong BBT cho đến khi ông qua đời, tên ông được liệt kê trên các quảng cáo tiêu đề là đồng biên tập. Ông cũng là một biên tập viên cho tạp chí Story.

 

Nếu năm 16 tuổi nhạc sĩ Lê Trạch Lựu bị coup de foudre hành hạ khi yêu nên len lén muốn gửi thơ cho nàng Kim Phượng, nhưng rồi chẳng dám. Truyện viết của nhà văn Max Steele cùng thế hệ cũng yêu thầm nàng Sara Nell Workman, phôn mời nàng đi xem ciné mà run như cầy sấy. Sara đồng ư đi xem ciné, xem ciné xong Max muốn mời Sara đi ăn dinner, giờ không đủ v́ hết phép của ông bố Sara, nên đôi bạn ghé vào tiệm drugstore "Shaeffer's" chỉ uống nước, cái khờ khạo măng non, nhút nhát của Dave (mà Max đặt tên trong truyện)  khi uống hai viên Litho-bromide nên uống với nước lă, thuốc ḥa tan trong nước lă sủi bọt như Alka Seltzer, thay v́ như Max viết v́ là khờ dại v́ không biết nên đă diễn tuồng Coke và Litho-bromide (LiBr). Khi LiBr (lithium bromide) liên kết trong phản ứng cùng chất lỏng trong Coke, có chứa sodium carbonate (alkali) dạng thức hóa học CNa2O3, hệ quả cho những phản ứng nhiệt năng, sôi sục exothermic reaction, khó chịu cho cơ thể của Dave. Những khờ dại trong trắng.

 

 

Tôi nhớ ngày xưa cô bạn học Deborah (Debra) và tôi gặp nhau trong thư viện Oviatt của trường chúng tôi, có hôm nàng bảo thức khuya học bài nên nhức đầu, mà library không có thuốc, tôi ra toa ra tay "bắt gió" cho nàng tức véo (squeeze) da non giữa vùng hai mắt của nàng, thời may nàng khỏi chứng nhức đầu nên cám ơn rối rít. Tôi nh́n trên trán nàng có vết bầm đỏ như các mợ Ấn Độ thoa trên trán một chấm đỏ (vermilion dot), theo tục lệ mợ nào có chồng nên "trang sức" bớt đỏ "bindi" theo ngữ Hindi, mà thuở xưa gọi là dấu "tilak", tên Ấn ngữ mà sau này gọi là "bindi" cho cái chấm đo đỏ trên trán hay "vermilion dot", tên khác của mấy mợ 7 cà-ri c̣n gọi là "kumkum", để ra dấu cho mấy cha cao bồi vườn là hoa đă có chủ không nên thả dzê. Có hôm trong Oviatt tôi than văn với Deborah là bị cảm mạo thương hàn nên ho sặc sụa, tiếng ho liên tục gây sự khó chịu cho các sinh viên khác ngồi gần, nàng móc trong ví ra gói Alka-Seltzer và không quên đi lại cái drinking fountain hứng nước (nơi mà tôi gọi là suối nước bà Tư kḥm, khi uống ta phải kḥm lưng mà uống) cho nước suối ngọt lịm vào foam cup. Khi hết ho tôi không quên gửi nàng "un léger bisous" trên suối tóc mịn màng ngày cũ.

Hôm nay xem bài của nhà văn Max Steele xin gửi kèm Deborah link:

http://www.nhaccuatui.com/bai-hat/deborah-the-crickets.UJ6Y1vKDty.html

http://www.nhaccuatui.com/bai-hat/deborah-va.Scu14zr7DNM4.html

 

Xin intro bài văn của GS. Max Steele, bởi một thuở yêu thương, một thuở hẹn ḥ...

 

MỐI T̀NH ĐẦU XUÂN

AH LOVE! AH ME!

 By Max Steele (1922 - 2005)

Trương Mỹ Vân dịch

 

 

 

Lời giới thiệu:

Max Steele là văn sĩ Mỹ sinh năm 1922 tại South Carolina. Ông sáng tác nhiều truyện ngắn, tiểu thuyết, truyện thiếu nhi, và đoạt nhiều giải thưởng văn học. Trước đây ông là giáo sư đại học chuyên về ngành văn chương và kỹ thuật sáng tác. 

 

Truyện "Mối T́nh Đầu Xuân", dịch từ nguyên tác "Ah Love! Ah Me!", là một truyện ngắn tiêu biểu cho loại văn châm biếm trong đó biệt tài của tác giả được thể hiện qua cái nh́n nhẹ nhàng và nụ cười bao dung của người từng trải qua kinh nghiệm ê chề của thời mới lớn.


Tuy đă sáu năm qua nhưng tôi vẫn c̣n nhớ như in mùa xuân năm ấy khi tôi vừa quen Sara Nell Workman. Dạo đó tôi học lớp Mười Một và thật t́nh mà nói, tôi thích Sara ngay từ lúc đầu. Tôi mê cô nàng đến nỗi chịu khó vào thư viện trường đọc hết các tấm thẻ trong sách để t́m những cuốn sách nào Sara đă mượn. Tôi mang hết mớ sách đó về nhà đọc kỹ từng chữ, ngay cả quyển "ThêuThùa May Vá". "Tôi mượn cho chị tôi", tôi ấp úng trả lời khi bà quản thủ thư viện nh́n tôi với ánh mắt ṭ ṃ đầy nghi hoặc. Trong cuốn này có nhiều hàng chữ bằng bút ch́ bên lề, và tuy không biết có phải của Sara không, nhưng với tâm trạng tôi lúc đó, tôi vẫn tưởng tượng do chính Sara viết. V́ thế tôi đọc đi đọc lại nhiều lần: "Hai khoanh chỉ màu đen, hai khoanh màu cam, một khoanh màu vàng của hoa uất kim hương. Chỉ c̣n mười bảy hôm nữa thôi là đến ngày Lễ Mẹ rồi."

Thế nhưng ở vào lứa tuổi mười sáu, không ai đủ kiên nhẫn đọc măi những ḍng chữ vô t́nh này, cho nên cuối cùng tôi quyết định mời Sara đi xem xi-nê. Hôm đó tôi t́m măi không thấy Sara đi một ḿnh, và vào lứa tuổi tôi không ai dám ngang nhiên mời một cô bạn gái đi chơi ngay trước mặt bạn bè cùng lớp.

 

Vậy là tối hôm đó tôi quyết định gọi nàng sau khi cẩn thận ghi số điện thoại trên mẫu giấy con bên cạnh hàng chữ "Tối thứ sáu này có phim Jezebel, Sara có thích đi xem với tôi không?" Sự việc đơn giản chỉ có thế nhưng khi nghe chuông điện thoại reo đầu dây, bỗng dưng tôi đâm ra hồi hộp và ṿ nát mảnh giấy con trong tay. Vừa định gác máy bỗng tôi nghe giọng nói trong trẻo:

- A-lô

Tôi bối rối trả lời:

- À... à... cho tôi nói chuyện với Sara Workman.

- Tôi là Sara đây.

- Ồ Sara! Tôi là Dave...

- Vâng.

Bỗng dưng tôi hỏi nàng:

- Sara có biết bài tập Sử kư ngày mai không?

- Chờ tí nhé!

Rồi Sara trở lại cho tôi số trang bài tập ngày mai. Tôi cám ơn nàng, cúp máy và trở về pḥng ngồi rầu rĩ một ḿnh.

Măi một giờ sau tôi đột ngột quyết định gọi Sara lần nữa. Thế là tôi đứng phắt dậy, nhưng vừa ra đến cửa, tôi vụt quay trở vào trước gương ngắm nghía, chải lại mái tóc trước khi chạy ra khỏi pḥng. Lần này khi Sara trả lời, tôi hỏi ngay:

- Sara có thích đi xi-nê với tôi tối thứ sáu này không? Dave đây!

Giọng Sara điềm tĩnh tuy hơi có vẻ hững hờ:

- Tôi không biết. Phim ǵ vậy?

- Tôi cũng không biết nữa. Hay là đi chơi lang bang tà tà dưới phố?

- Hả? Nói cái ǵ?

Nàng hỏi hơi lớn giọng khiến tôi đâm ra bối rối:

- Tôi không biết ở rạp chiếu phim ǵ. H́nh như "Lucy Bell" th́ phải.

Thật t́nh lúc đó tôi không c̣n nhớ ǵ nữa nhưng giọng Sara đầy hớn hở:

- A! Đúng rồi. Phim "Jezebel" với Bette Davis đóng. Ồ, tôi thích xem phim này lắm.

- Được rồi. Thôi chào nhé.

Suốt ngày hôm sau ở trường tôi tránh không dám gặp Sara một ḿnh, thế nhưng lúc tôi đang sắp hàng ở pḥng ăn trưa, Sara nhoài người qua trước hai cô bạn và hỏi tôi:

- Có phải tối hôm qua anh gọi không?

- Ừ.

Tôi đáp gọn. Sara mỉm cười và bỗng dưng lúc đó tôi cứ sợ nàng sẽ cười lớn trước mặt mọi người, nhưng may quá Sara lại quay sang tiếp tục nói chuyên với hai cô bạn.

Tối thứ sáu, tôi đến nhà Sara đón nàng lúc tám giờ tối. Lúc chúng tôi vừa ra khỏi nhà, cha nàng, một người đàn ông lực lưỡng, mày râu rậm rạp y hệt các lănh tụ nghiệp đoàn lao động với nét mặt khó đăm đăm, vội hỏi:

- Ai lái xe?

- Dạ cháu lái.

- Có bằng lái không?

- Thưa bác có ạ.

Ông ta c̣n hét theo khi Sara và tôi vừa bước xuống cuối bực thềm:

- Nhớ đưa Sara về trước mười một giờ nghe không?

- Vâng.

- Mười một giờ, nhớ không Sara?

Ông hét lớn khiến Sara thẹn ra mặt, nàng ngoái cổ lại hét theo:

- Vâng.

Lúc đến rạp, chúng tôi phải sắp hàng chờ và cuối cùng khi vào bên trong th́ đă gần hết chỗ nên tôi và Sara phải ngồi hàng thứ ba. V́ quá gần màn ảnh và phải ngẩng đầu lên nên cổ tôi bắt đầu đau khi vừa xong phim thời sự. Sara trái lại vẫn thản nhiên nghểnh cổ chăm chú xem.

Khi phim gần chấm dứt, bỗng Sara thấy tôi nh́n trộm nàng, vội hỏi:

- Có chuyện ǵ thế?

- Tôi nhức đầu quá v́ ngồi sát màn ảnh.

- Suỵt ...

Nàng ra dấu cho tôi im v́ phim đang đến hồi hấp dẫn. Trên màn ảnh, Bette Davis đang hy sinh tính mạng ḿnh để tận t́nh chăm sóc cho người yêu của ḿnh đang trải qua cơn bệnh ngặt nghèo v́ sốt xuất huyết.

Lúc ra khỏi rạp, Sara đâm ra im lặng khi chúng tôi đi trên đường phố. Tôi hỏi nàng:

- Sara có nghĩ rằng Bette Davis nên chăm sóc người yêu của cô ta không? Cô dám lây bệnh sốt xuất huyết lắm!

Sara thản nhiên đáp:

- Vấn đề ở đây không phải là cô ta nên hay không nên chăm sóc người yêu v́ khi đă yêu rồi, không ai có thể chia rẽ họ được.

Tôi chỉ biết đáp lại:

- Trời đất!

Trước mắt tôi, ánh đèn nê-ông nhiều màu của các bảng quảng cáo nhấp nháy như chỉ chực nổ tung lên.

Khi chúng tôi bước vào tiệm thuốc "Shaeffer's" th́ đồng hồ chỉ đúng mười giờ mười lăm nên Sara tỏ ư lo ngại muốn về. Nàng bảo tôi:

- Chỉ uống tí ǵ thôi chứ không có th́ giờ ăn đâu.

Rồi nàng kêu một ly sữa sô-cô-la. Thật ra tôi cũng muốn gọi cho ḿnh một ly nhưng đổi ư định. Tôi muốn làm ra vẻ sành sơi, đầy kinh nghiệm nên gọi anh hầu bàn và hỏi có thuốc ǵ trị cơn bệnh nhức đầu của tôi lúc đó không. Thật t́nh tôi không nhớ đă nói "Ammonia và Coke", và anh ta đáp:

- Có nhiều thứ như Aspirin, muối Epsom, Litho-bromide. Tùy ư anh.

Tôi trả lời, vừa cố làm ra vẻ mệt mỏi:

- Mang cho tôi Litho-bromide và một ly Coke.

Sara hỏi khẽ:

- C̣n đau không?

Tôi nh́n nàng, mỉm cười không đáp.

Đúng lúc đó, John Bowerman và hai người bạn cùng học lớp Mười Hai bước vào tiệm và ngồi xuống bên cạnh bàn chúng tôi. Chẳng mấy chốc quán nước trong tiệm thuốc đầy khách hàng vừa từ rạp hát ra.

Anh hầu bàn trở lại với khay thức uống. Ly Coke của tôi nằm cạnh chiếc ly trống với hai viên Litho-bromide ở trong và kế đó là một ly nước lạnh lớn.

 

Thật t́nh tôi chưa bao giờ uống thứ thuốc này và không hề biết rằng phải bỏ hai viên thuốc vào ly nước lạnh, chờ cho chúng sủi bọt trước khi uống. V́ thế tôi thản nhiên bỏ hai viên thuốc vào miệng nuốt chửng tựa hồ người ta uống Aspirin. Xong tôi uống thêm nửa ly Coke trong lúc Sara nhấp thử ly sữa sô-cô-la của nàng.

 

Ngay lúc đó, bụng tôi bỗng dưng nổi lên tiếng kêu ọc ạch càng lúc càng lớn dần. Tôi uống hết nửa ly Coke c̣n lại và làm vẻ thản nhiên như không có chuyện ǵ xảy ra. Sara đặt ly sữa xuống bàn và trừng mắt nh́n tôi đầy sợ hăi. Càng lúc thứ tiếng động quái gỡ trong bao tử tôi càng kêu lớn khiến tôi có cảm tưởng như cả một thùng nước lèo to tướng đang sôi sùng sục trong bụng tôi. Tôi mạnh dạn đáp liều:

- Bao giờ tôi uống thuốc này cũng như vậy cả.

Thế nhưng bụng tôi sôi to quá cỡ khiến mọi người ngồi ở các bàn chung quanh đều phải quay sang nh́n trừng trừng vào tôi. Sara khẽ bảo:

- Mọi người đang nh́n anh ḱa.

Và mặt nàng lúc này đỏ bừng như sắp khóc. John Bowerman bỗng dưng đứng dậy tiến về phía chúng tôi:

- Tiếng ǵ kỳ quá, nghe như có ai đun nước sôi!

Anh chàng hầu bàn năy giờ bận bịu với đám khách hàng đông đảo cũng dừng lại nói chen vào:

- Trông ḱa! Bụng anh này kêu vang như sấm. Anh ta đang sủi bọt đấy!

Hắn ta hét lớn khiến mọi người trong tiệm càng chú ư đến tôi hơn. Lúc đó tôi chỉ muốn bảo khẽ với Sara, nhờ nàng đưa tôi ra khỏi tiệm ngay, nhưng tôi vừa mở miệng gọi "Sara" th́ bụng tôi càng kêu lên ầm ỹ khiến tôi không thể nào nói thêm ǵ nữa.

Sara quay sang kể sự t́nh cho John Bowerman nghe nên John hét lớn:

- Bác sĩ Shaeffer ơi!

Bác sĩ Shaeffer nhảy thoắt qua quầy thuốc và ra lệnh cho mọi người đang tụ tập quanh tôi giăn ra xa. Ai nấy vừa lùi bước vừa e ngại nh́n tôi như nh́n một quả bom sắp nổ. Bác sĩ Shaeffer trấn an họ:

- Không có ǵ đáng sợ cả. Nào, giúp tôi một tay khiêng anh này. Nhớ chúc đầu anh ta xuống thấp hơn bụng.

- Anh ấy bảo bao giờ uống thuốc này cũng bị như vậy cả.

Sara vội nói tiếp nhưng bác sĩ Shaeffer đă ngắt lời nàng:

- Thật t́nh tôi thấy khó tin lắm.

Lúc này John Bowerman và hai người bạn cùng lớp với anh ta đă khiêng tôi đến đặt nằm dài trên quầy thuốc. Họ để đầu tôi chúc ngược xuống nên miệng tôi há rộng. Giá lúc đó có đám đánh lộn cũng không thu hút được nhiều kẻ hiếu kỳ như cảnh tôi nằm sóng soài, mồm há hốc trên quầy thuốc như lúc này. Bác sĩ Shaeffer mang chiếc khăn ướt ra và bảo Sara đứng bên cạnh, đắp khăn lên trán tôi. Tôi hỏi nàng:

- Sara không bỏ tôi chứ?

Có lẽ với mọi người chung quanh, giọng tôi lúc đó đầy vẻ lâm ly, nhưng Sara như sực tỉnh:

- Trời đất ơi! Mấy giờ rồi?

John Bowerman đáp:

- Mười một giờ kém mười.

Sara ném chiếc khăn ướt lên mặt tôi và bảo:

- Tôi phải về nhà trước mười một giờ!

John chụp ngay lấy cơ hội:

- Để tôi đưa cô về.

Tôi nhấc chiếc khăn lên chỉ vừa vặn thấy John đưa Sara ra cửa và nàng không hề ngoảnh mặt lại nh́n tôi một lần. Bốn năm người đứng quanh tôi cũng tản mát trở về bàn của họ, chỉ c̣n ḿnh tôi nằm yên lặng trên quầy thuốc, nh́n thẳng lên ánh đèn nê-ông chói sáng trên trần và lắng nghe tiếng ồn ào càng lúc càng thưa dần trong tiệm nước. Khách hàng từng cặp theo nhau ra về và tiếng người hầu bàn thu dọn bát dĩa cũng càng lúc càng im vắng. Tôi nh́n anh ta cầm từng chiếc ghế đặt ngược trên bàn trước khi lau chùi sàn nhà và cảm thấy tủi thân cho tôi, tội nghiệp cho anh ta và cho cả thế giới đáng thương này.


Trương Mỹ-Vân
dịch từ "Ah Love! Ah Me!"

-----------------------------------------------------------

 

Chiều Cuối Tuần bên "Văn Nhân & T́nh Sử"

 

 

Hôm nay chiền thứ 6 cuối tuần ông đưa thư có hàm râu xồm xoàn như lăo Fidel Castro bấm chuông trao colis sách. Cuốn sách mới của nhà văn Vương Trùng Dương, sách nóng hổi và dày cộm. Ông đưa thư quay gót đi, tôi "bóc nhăn" xem ngay ông bạn Dương Trần viết ǵ trong đấy. Nhân nhận được sách mới, cám ơn ông anh văn nghệ vui tính, một thuở làm báo chung, khi Vương Trùng Dương (thường được viết tắt VTrD), ra tờ tuần báo Caliweekly do anh làm chủ nhiệm tự layout báo lấy, Nguyễn Ngọc Chấn làm chủ bút, và tôi giữ dốp TTK, khi ấy có bài vở của Phan Bá Thụy Dương, Vũ Uyên Giang, Phương Triều, Dương Viết Điền, Phan Nhật Nam, Trần Quang Hải, Thiết Trượng, Trạch Gầm, Trần Trung Đạo, Nguyễn Vy Khanh, Nguyễn Quư Đại, Tiểu Tử, Tiểu Thu, Hồ Trường An, Hạo Nhiên Nguyễn Tấn Ích, Bùi Ngọc Tuấn, Phan Anh Dũng, Hoàng Thy, Quách Nam Dung, Khiếu Long, Đào Vũ Anh Hùng, Vũ Hối, Hồng Vũ Lan Nhi, Thái Tú Hạp, Trần Hoài Thư, Vũ Đ́nh Trường, Mạc Phương Đ́nh, Viên Luông, Hải Đà Vương Ngọc Long, Thanh Huy,... Nguyên băng l'amour yêu văn học è cổ ra viết bài, chủ nhiệm lo dốp quảng cáo, chủ nhiệm lo đánh đông dẹp bắc cả trăm thứ, chủ nhiệm mỏi mệt kiệt sức, đồng tiền ra nhiều mà vô ít, mà quảng cáo là huê lợi chính, báo măi rỉ máu, bác sĩ chê bảo chúng tôi đ́nh bản tờ Caliweekly sau gần 2 năm tung hoành.

 

VTrD yêu văn học, phải nói văn học nằm trong máu của VTrD, anh nhai nằm ḷng những Thủy Hử, Tây Du Kư, Đông Châu Liệt Quôc, Tam Quốc Chí, rồi những tác phẩm kiếm hiệp của Kim Dung anh nhai nát cả. Đấy là bên văn chương HD891. Bên văn chương quốc văn phe ta, anh đọc Doăn Quốc Sỹ, Thanh Tâm Tuyền, Mai Thảo, Bùi Giáng, Vũ Hoàng Chưong, Vũ Khắc Khoan, Nguyễn Mạnh Côn, Vơ Phiến, Dương Nghiễm Mậu, Nguyên Sa, B́nh Nguyên Lộc, Tự Lực Văn Đoàn, Hồ Biểu Chánh,... VTrD có sự hiểu biết rộng, sức viết khỏe, mỗi trưa thứ ba anh gọi phôn nhắc tuồng "Bài xong chưa bồ tèo?", hay "Gần lễ

noël cho ḿnh bài giáng sinh nhe bạn hiền!". VTrD đọc Ernest Hemingway, Mark Twain, Charles Dickens, Fyodor Dostoyevsky, Leo Tolstoy, Aleksandr Solzhenitsyn, William Faulkner,... Truyện dịch hay nguyên bản Anh ngữ. Thật vậy, anh em chúng tôi thân nhau và c̣n thở được là do nguồn nhiệt năng ham vui chữ nghĩa văn học tiếp dẫn goût chơi chung.

 

 

Viết về sách mới, xin đơn cử một chuyện t́nh đẹp về kỷ niệm và thơ mộng như: "Lê Trạch Lựu và T́nh Khúc Em tôi", ở trang 167, đây là một mối t́nh mang theo măi một đời người. Nhạc phẩm Em Tôi ra đời đầu năm 1953 đến nay vẫn tiếp tục đem đến cho người nghe những xúc cảm như gần, như xa của một thời tưởng như đă thuộc về dĩ văng nhưng vẫn tiếp tục làm rung động trái tim những thính giả trẻ tuổi ở thế hệ bây giờ. Đằng sau ca khúc lăng mạn này là một cuộc t́nh mang theo từ thuở vừa biết yêu cho đến tuổi xế chiều khi nhạc sĩ sáng tác liên lạc lại người xưa qua đường dây điện thoại viễn liên. Nay chuyện ấy đă ch́m vào danh sách những thiên t́nh sử đẹp trong lăng mạn và lưu luyến kèm theo bạn t́nh ca Em Tôi bất hủ theo ư riêng cùa hàn bút ni.

 

 

http://www.nhaccuatui.com/bai-hat/em-toi-le-trach-luu-quang-tuan.vklK0n9I5u.html

 

Trong một buổi nói chuyện ở buổi họp mặt Thu Tao Ngộ tại Paris 2009, nhạc sĩ Lê Trạch Lựu kể về câu chuyện t́nh đă đưa đến bài t́nh ca Em Tôi. Vào tháng 5 năm 1946 ông tham dự trại hè Sầm Sơn, đi với đoàn Hướng Đạo cùng nhiều đoàn khác, tập trung tại sân ga Hà nội. Thoáng thấy một cô gái xinh xinh, dáng người phong nhă, có đôi mắt đẹp tuyệt vời, ông bị tiếng sét ái t́nh ngay phút đầu. Rồi mỗi ngày ông đều thấy cô gái ấy, đội nón, dưới nắng trang trang rũ áo, ông ngồi bên cửa sổ nh́n cô ta. Thỉnh thoảng cô nàng ngửng đầu lên, vành nón che đôi mắt, nhưng ông biết là cô ta đang nh́n chú ư đến ông. Khi về lại Hà Nội ông t́m nhà cô ta, v́ có duyên nên t́m được ngay, nhà cô ta ở gần nhà ông. Dạo ấy có một chú bé đi theo ông bén gót, đó là chú Mỹ, em cô Phượng. Một hôm, ông viết một lá thư và chẳng dám trao đến cô, v́ không đủ can đảm trao lá thư đến Phượng, nên ông nhờ chú Mỹ giúp cho công tác liên lạc.

 

Gia đ́nh Phượng phải đi tản cư v́ biến cố toàn quốc kháng chiến. Phần khác Lê Trạch Lựu sang Pháp du học. Tháng ngày qua khi ở Paris cũng là thời gian mà nỗi nhớ quay cuồng chàng thanh niên say trong cơn yêu, điều này đă là nguồn suối trào dâng để một ngày nọ bên những bạn bè văn nghệ như Nguyên Sa, Hoàng Anh Tuấn, ông bấm lên phím đàn, đưa "Em Tôi" vào đời. Sau đó tác giả gửi bài nhạc tới nhà xuất bản Tinh Hoa. Những tháng năm trôi qua. Khi nhạc phẩm cất cánh bay cao tại Việt Nam, ông ở Paris nên không biết rơ t́nh trạng nó ra sao.

 

Rồi một hôm Lê nhạc sĩ t́m ra được địa chỉ của Phượng rồi viết về cho chú Mỹ, Mỹ cho biết cô Phượng đợi ông trong một năm dài, thấy ông không về Phượng tưởng ông đă mất. Rồi ba năm sau khi cô để tang ông, cô đi lấy chồng, gia đ́nh đă êm thấm với chồng và con. Măi về sau này, sáu chục năm sau, ông được biết tin qua một người bạn cùng trường năm xưa cho ông số phôn, thế là ông gọi thăm người yêu cũ. Nàng vừa ngạc nhiên vừa bối rối, phải chăng người chết trở về. Phượng ̣a ra tiếng khóc ngất ngây. Nhạc sĩ hỏi về lá thư t́nh năm xưa, thuở văn thời 16 viết trong thơ ngây, trong lúng túng. Phượng trả lời ông: "Em để vào trong một cái hộp, nó đi theo em tất cả mọi nơi, trong đó có cả tập ảnh chụp hồi đó, nhưng chồng em thấy lúc nào em cũng buồn, nói với em nên giấu nó đi một chỗ, khi nào vui th́ hăy mở ra. Thế là ông ta bỏ vào đâu không rơ, mấy năm sau ông ta mất, t́m kiếm khắp nhà không ra. Em chỉ nhớ anh viết dài lắm... viết dài lắm... Hôm nọ em muốn t́m cái h́nh anh hồi đó, mà không thấy đâu. Tủi thân, em lại ngồi khóc, may rằng con và cháu em bữa đó tụi nó không có ở nhà...".

 

Ông cho biết: "Mối t́nh đối với cô Phượng theo tôi suốt đời, v́ rằng đó là mối t́nh đầu, mà ḿnh không biết nhau ở đâu, không biết người ta sống hay chết, tôi nhớ đến cô và tôi đă làm bài "Em Tôi"."

 

 

(Photo Design courtesy of Cỏ Thơm/PAD)

 

Tôi nghiền ngẫm đọc trang 175, Vương Trùng Dương cho đoạn kết bài:

 

"Nhạc sĩ Lê Trạch Lựu đă qua đời tại Paris ngày 6 tháng 2, năm 2015, hưởng thọ 84 tuổi. Với công việc phóng viên, ông không sinh hoạt trong môi trường âm nhạc, có lẽ sự sáng tạo khởi nguồn từ cảm hứng... nhưng không c̣n!

Để tưởng nhớ đến nhạc sĩ để lại cho đời t́nh khúc tuyệt vời xin trích những đ̣ng trên để mỗi khi nghe t́nh khúc Em Tôi nhớ lại bóng h́nh xưa."

 

Nhiều bạn bè hỏi tôi sao tên Vương Trùng Dương nghe giống tên kiếm hiệp Kim Dung quá vậy, tôi thầm nghĩ hỏi là đă trả lời rồi. Nay xin vắn tắt về Vương Trùng Dương Tàu sĩ HD981 nhe.

 

Vương Trùng Dương (中神通王重陽, Wang Chongyang) là một đạo sĩ ở vào đời nhà Tống. Ông là người sáng lập ra Toàn Chân giáo, là Bắc Tông của Đạo giáo bên xứ Tàu HD981 của thuở xa xưa. Sơ qua về gốc gác Vương Trùng Dương tên thật là Vương Trung Phu (1113 - 1170), theo trong tiểu thuyết hóa của Kim Dung là Thần Điêu Hiệp Lữ, tên của ông trước khi xuất gia là Vương Triết), ngoài đời tự là Duẫn Khanh, sinh ra tại Hàm Dương trong một gia đ́nh giàu có. Thuở nhỏ ông chăm chỉ, tinh thông cả văn lẫn vơ, lớn lên nhờ vậy mà nổi tiếng gần xa. Khi người Kim xâm lấn, ông tụ họp dân chúng nổi dậy chống lại nhưng không thành công. Theo sự loan truyền th́ vào năm 1159, ông được gặp Lă Động Tân và Hán Chung Ly, hai vị tiên trong nhóm tám vị tiên sống ở Bồng Lai tiên đảo của xứ Tàu rắm rối, được truyền thụ khẩu quyết luyện đan là Toàn Chân. Ư nói bảo toàn tam bảo (toàn tinh, toàn khí, toàn thần) hội tụ trung cung, kim đan thành tựu. Nên từ đó ông chuyên tâm nghiên cứu Đạo giáo, đổi tên là Triết, tự là Tri Minh, thành lập ra giáo phái mang tên là Toàn Chân giáo. Tôn chỉ của Toàn Chân giáo là cứu giúp chúng sinh nên nhân dân rất kính trọng. Học tṛ t́m đến ông rất đông, nhưng ông dạy dỗ nghiêm khắc, thường đánh đập để thử thách nên cuối cùng chỉ c̣n lại bảy người. Đó chính là Toàn Chân thất tử.

 

 

Vương Trùng Dương (中神通王重陽)

 

Đấy là Vương Trùng Dương Tàu sĩ của xứ Tàu HD981, c̣n Vương Trùng Dương aka me-sừ Dương Trần của xứ Việt ta vốn say mê hai phạm vi văn học và âm nhạc. V́ vậy cho nên trong tác phẩm mới ra đời này Vương Trùng Dương - Dương Trần xoáy bút vào 2 phạm trù này khá nhiều, nếu bạn đọc có sách trên tay như tôi vừa đọc và vừa gơ keyboard...

 

 

Nhà văn Vương Trùng Dương

 

Hăy đọc tiếp ở trang 36 phần trên của sách, Vương Trùng Dương trong bài viết khác mang nặng chất kiếm hiệp như "T́nh sử Phượng cầu Hoàng" cho ta những chi tiết về ngôn ngữ và âm nhạc. Thiết nghĩ đọc một tác phẩm học được hay hiểu thêm điều mới, ấy là sự lạ lẫm, thích thú, phải không chứ lị? Tác phẩm này có nhiều và nhiều điều lư thú như thế. Hăy xem trích đoạn sau đây:

 

"Ngôn ngữ của âm nhạc rất đơn giản nhưng biến thành ngôn ngữ vô cùng đa dạng, phong phú, vi diệu. Đó cũng là ngôn ngữ chung của nhân loại, không c̣n không gian, thời gian, không c̣n phái tính, tuổi tác... cho cả lúc tỉnh lúc mê, cho cả cảm nhận của kẻ chính người tà. Ngôn ngữ âm nhạc là ngôn ngữ chung của con người, không có biên cương, bất luận thời gian... cảm nhận, thưởng thức, rung cảm theo từng giai điệu, cung bậc....

 

Âm nhạc Trung Hoa h́nh thành từ Linh Luân, Hậu Quỳ; đời Ngũ Đế, Tam Vương, âm nhạc trở thành lễ nghi trong cung đ́nh; đời Xuân Thu nổi danh với Sư Khoáng tinh thông âm pháp đưa âm nhạc đến mức vi diệu, cao siêu. Và, Tư Mă Tương Như đời Hán với khúc “Phượng Cầu Hoàng” trở thành bất tử, lưu truyền hậu thế.

 

Tố Như tiên sinh trong thi phẩm “Kiều” đă đề cập về âm nhạc Trung Hoa cũng như Đông phương:“Cung thương lầu bậc ngũ âm...

Lọt tai nghe suốt năm cung”.

 

Ngôn ngữ, âm giai của âm nhạc Đông phương chỉ có ngũ âm - năm bậc, năm cung: Cung, Thương, Dốc, Thủy, Vũ (Cống, Xừ, Xang, Xế, Líu) nhưng cũng được biến hóa muôn sắc, muôn âm, rất phong phú và huyền diệu. Theo Lê Qúy Đôn trong Vân Đài Loại Ngữ : "Lấy hoàng chung làm cung, lấy lâm chung làm chủy, lấy thái  tấu làm thương, nam lă làm vũ, cô tiến làm giốc, ứng chung làm biến cung, sanh tan làm biến chủy. Đấy là thất luật để làm đờn cho thanh âm điều ḥa...".

 

Nhạc khí Đông phương gồm đàn, sáo, nhị... Riêng sáo, có đến 6 loại, tên gọi khác nhau tùy theo thổi ngang, thổi dọc, không và có lưỡi gà, 2 ỗ, 6 lỗ, 7 lỗ, chín lỗ...: Tiêu, Địch, Hoàng, Quản, Tŕ, Huân.

Năm 1964,  khúc “Phượng Vũ” với nghệ thuật sáng tác của Nguyễn Đ́nh Nghĩa  dựa vào giàn nhạc Bát Aâm ở cung đ́nh Huế qua tiếng sáo điêu luyện được tŕnh diễn ở trong nước và hải ngoại đă làm vang bóng, giới thưởng thức say mê, ái mộ. Nghe “Phượng Vũ”, h́nh dung được h́nh ảnh phượng hoàng đập cánh, x̣e cánh...lúc rỉa đuôi, giủ đuôi, cụp, x̣e, quay, múa... nhặt, khoan theo từng vũ điệu.

 

Qua năm tháng, qua bao biến thiên, vật đổi sao dời, khúc “Phượng Cầu Hoàng” dù đă thất truyền nhưng t́nh sử... vẫn vượt thời gian, không gian với dấu ấn cuộc t́nh.

Vương Trùng Dương"

 

Tôi giở trang 7 là Lời Ngỏ của "Văn Nhân và T́nh Sử", Vương Trùng Dương cho lời dáo đầu dẫn nhập như sau:

 

"T́nh yêu vẫn là đề tài muôn thưở. Văn hào Nga Tolstoy cho rằng: “T́nh yêu biến những điều vô nghĩa của cuộc đời thành những ǵ có ư nghĩa, làm cho những bất hạnh trở thành hạnh phúc”. Ngay cả Mahatma Gandhi cam chịu khổ hạnh để đấu tranh cho sự tồn vong của đất nước, người dân Ấn Độ tôn vinh như vị Thánh đă nói: “Nơi nào có t́nh yêu, nơi đó có sự sống”. Trong cuộc sống, mỗi người có lẽ mang theo h́nh ảnh mối t́nh nào đó, nhưng khi được bầy tỏ qua thơ văn, âm nhạc... không c̣n thầm kín nữa mà lưu truyền ở thế gian.

 

Đầu thế kỷ 19, Felix Arvers xuất bản tập thơ đầu tay Mes Heures Perdues, trong đó có bài thơ t́nh Un Secret (Sonnet d’ Arvers) chỉ có 14 câu, sau này nổi tiếng. Năm 1940, Khái Hưng dịch thành T́nh Tuyệt Vọng, đăng trên báo Ngày Nay, được nhiều người ái mộ qua các thập niên. Chỉ có Un Secret gắn liền tên tuổi Felix Arvers. Quyển sách Văn Nhân & T́nh Sử trích trong các bài viết của tôi gần hai thập niên qua. Quyển sách nầy, với tôi, không thuộc loại biên khảo, nhận định mà có tính cách tản mạn, tạp ghi về tác giả qua các khía cạnh cuộc sống, t́nh yêu và sáng tác (bài thơ, ca khúc...) được phổ biến. Một số bài lưu trữ trong computer đă bị virus, nhờ internet mới t́m lại được.

 

Trong thời gian đảm trách về văn học nghệ thuật cho các tờ báo, bài viết nhân dịp ngày sinh, ngày mất hay đọc bài viết liên quan đến tác giả. V́ viết trong thời đểm đó nên khi thực hiện thành sách, tôi viết bổ túc thêm. Năm 2004 tôi ấn hành quyển Ngẫm Chuyện Nhân Sinh, v́ cộng tác các báo nên không có thời giờ để gom góp bài viết. Trong lúc chỉ c̣n đảm trách một tờ báo nên bạn bè gợi ư việc thực hiện sách. Cảm ơn anh em thân hữu, không biết thương hay ghét đă ‘xúi’ tôi làm công việc nầy. Những văn nhân trong quyển sách nầy đă ra người thiên cổ, chỉ có hai nhà văn c̣n sống ở quê nhà. C̣n nhiều tác giả gắn liền với tác phẩm và đời sống như Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, B́nh Nguyên Lộc, Lê Trọng Nguyễn, Lê Mộng Nguyên, Hoàng Anh Tuấn, Doăn Quốc Sỹ, Nguyễn Văn Đông, Nguyễn Thị Hoàng, Lệ Hằng.... đă viết trong thời gian qua nhưng tôi nghĩ với 372 trang cho quyển sách, không dày và không mỏng.

 

Cảm ơn các tác giả, văn hữu, đồng nghiệp với các tài liệu, bài viết được phổ biến mà tôi trích dẫn trong quyển sách nầy. Cảm ơn vị mạnh thường quân khi nghe tôi đề cập đến việc thực hiện quyển sách đă có nhă ư đảm nhận việc ấn hành và quảng bá nhưng tôi từ chối v́ vài anh em thân quen ở trong nước có tác phẩm mà bị cấm ấn hành cần sự hỗ trợ nầy.

Bậc thi hào tài hoa như Nguyễn Du để lại cho đời tác phẩm Truyện Kiều với 3.254 câu thơ lục bát, trở thành áng thơ tuyệt tác cho đất nước đă khiêm nhượng khi kết thúc bằng hai câu thơ:

 

“Lời quê chắp nhặt dông dài

Mua vui cũng được một vài trống canh”

 

Với kẻ hậu sinh, kiến thức giới hạn chỉ hy vọng độc giả sau khi đọc xong c̣n nhớ tựa đề bài thơ, ca khúc, cuộc t́nh, tác giả nào đó chắp nhặt trong quyển sách nầy mỗi khi nhắc đến... cũng là niềm vui.

Vương Trùng Dương

 

------------------------------------------------------------

Tôi xin ghi ra chi tiết liên lạc với tác giả để có sách nhé.

 

Sách do Amazon ấn loát – Sách dày 372 trang

Ấn phí: 20 Mỹ kim

Sách có thể mua trực tiếp từ tác giả:

Xin liên lạc: vuongtrungduong20@gmail.com ,

hay:

Duong Tran

9353 Bolsa Ave. # E47

Westminster, CA 92683

------------------------------------------------------------

 


 

 

Trần Việt Hải
Los Angeles, 6/2015

 

 

 

 

 

 

 

Thơ và Truyện của Việt Hải               |                 www.ninh-hoa.com