Thơ và Truyện của Việt Hải           |                 www.ninh-hoa.com


Việt Hải
 

Tên thật: Trần Việt Hải
Sáng tác nhiều thể loại
Văn, Thơ, Biên Khảo,...
tại hải ngoại.

     

 



Hiện cư ngụ tại
Los Angeles - USA

 

 

 

 

 

 

 

CUNG TRẦM TƯỞNG

VIỆT HẢI Los Angeles
 


 

Intro chapeau:

 

Bùi Ngọc Tuấn - "Cung Trầm Tưởng, tiếng Việt, lời thơ"


Hôm nay t́nh cờ được email của nhà thơ Bùi Ngọc Tuấn ở trên xứ Minnesota, đất của địa linh văn học Việt Nam, nơi đó bao nhiêu nhân tài đă dừng chân làm xứ tạm dung một thuở hay đă ở vĩnh viễn với nó, chẳng hạn như Tô Thùy Yên, Thanh Tâm Tuyền, Cung Tiến, Bùi Ngọc Tuấn,... và Cung Trầm Tưởng. Các bạn trẻ trong forums của chúng ta, khi năm 1975 nếu dưới 10 tuổi có thể không biết về Cung Trầm Tưởng. Với những anh chị em khác trước 1975 có lẽ thơ Cung Trầm Tưởng là những âm thanh thân quen; với tôi, tôi thích nét lăng mạn trong thơ của ông. Thơ vốn dĩ là áng văn chương cô đọng, cao quư nhất trong phạm vi văn học chữ nghĩa. Tôi xem bài nhận định của thi sĩ Bùi Ngọc Tuấn, mang tựa đề "Cung Trầm Tưởng, tiếng Việt, lời thơ".

 

 

 

Đôi nét về thi sĩ Cung Trầm Tưởng, theo trang mạng Wikipedia, ông sinh ngày 28 tháng 2 năm 1932 tại Hà Nội. Năm 15 tuổi (1947), ông bắt đầu làm thơ, và có tập thơ đầu tay tên là Sóng đầu ḍng (chưa in).

Năm 1949, ông rời Hà Nội vào Sài G̣n, học tiếp trung học tại trường Chasseloup Laubat (về sau đổi tên là Jean Jacques Rousseau).

Năm 1952, sau một năm học đại học, ông sang Pháp du học tại Trường Kỹ sư không quân ở Salon-de-Provence.

 

Năm 1957, ông tốt nghiệp trở về nước làm trong ngành không quân của Việt Nam Cộng ḥa. Trong năm này, hai bài thơ của ông là Mùa thu Paris và Vô đề (thơ trường thiên) xuất hiện trong tuyển tập Đất đứng của nhóm Quan Điểm (gồm Mặc Đỗ, Vũ Khắc Khoan, Nghiêm Xuân Hồng), và đă làm người đọc chú ư.

 

Năm 1958, ông đứng ra chủ trương tờ Văn nghệ mới và cộng tác thường xuyên cho các tạp chí Sáng tạo, Hiện đại, Nghệ thuật, Văn, Khởi hành...

Trong khoảng thời gian này, nhạc sĩ Phạm Duy đă phổ nhạc một số bài thơ của ông, đó là bài Mùa thu Paris, Chưa bao giờ buồn thế (Phạm Duy đổi tên thành Tiễn em), Bên ni bên nớ, Khoác kín (Phạm Duy đổi tên thành Chiều đông), Kiếp sau, Về đây.

Năm 1962, ông sang Hoa Kỳ học về khí tượng, đậu Tiến sĩ khí tượng học tại Đại học Saint Louis. Sau đó, ông trở về Sài G̣n tiếp tục làm trong ngành không quân với cấp bực cuối cùng là Trung tá (1975).

 

Năm 1993, ông sang Hoa Kỳ định cư.

Tác phẩmTác phẩm của Cung Trầm Tưởng đă in:

T́nh ca (Nxb. Công đàn, Sài G̣n, 1959)
Lục bát Cung Trầm Tưởng (Nxb. Con đuông, Sài G̣n, 1970)
Lời viết hai tay (Nxb.Imn, Bonn, 1994)
Bài ca níu quan tài (tác giả tự xuất bản, Minnesota, Hoa Kỳ, 2001)


Bổ túc cho Wikipedia, tên thật của nhà thơ Cung Trầm Tưởng là Cung Thức Cần. Ông là người của kỹ thuật, như đă tốt nghiệp Kỹ Sư Trường Vơ Bị Không Quân Pháp. Về sau tốt nghiệp Cao Học Khí Tượng tại trường Saint Louis University, Missouri, Hoa Kỳ. Rồi ngành Quản Trị An Ninh Quốc Gia Và Tài Nguyên Quốc Pḥng Hoa Kỳ (hậu đại học). Sau biến cố 30 tháng 4, năm 1975, đi tù cộng sản 10 năm (1975-1985), và bị quản chế 3 năm (1985-1988). Sang Huê Kỳ định cư tại Minnesota, cùng gia đ́nh kể từ năm 1993.

 

Mùa thu Paris, Sĩ Phú tŕnh bày

http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=GSrTaGWKzO

 

Thơ t́nh của Cung Trầm Tưởng, tôi cùng nhiều bạn bè cùng trang lứa thuở đôi mươi bị ảnh hưởng của nét quyến rủ bởi bài thơ hay bài nhạc Mùa Thu Paris, trai Việt Nam sánh đôi đầm Paris, nào là Người em mắt nâu, Tóc vàng sợi nhỏ, Mong em chín đỏ trái sầu, Mùa thu Paris, Trời buốt ra đi, Người em gác trọ, Sang anh gót nhỏ thầm th́,... Năm 1976, 1977, khi sang Mỹ anh họ tôi đi học quen cô đầm mắt xanh trong suốt (crystal-blue eyes), tóc vàng hoe, vàng mịn sợi nhỏ, sợi nhỏ,... tôi cũng có cô bạn bản xứ tóc nâu, nhưng mắt xanh hazel, xanh biếc lá cây trông sao quyến rủ như búp bê,... Nous fait adorer leurs yeux et la couleur des cheveux plus qu'eux-mêmes.

 

http://www.dunglac.org/index.php?m=module2&v=
detailarticle&id=279&ia=987

 

Như Bùi Ngọc Tuấn nhận xét, lời thơ hay từ vựng Cung Trầm Tưởng xử dụng trong thơ thật độc đáo, rất hay, như câu "Rưng rưng rượu đỏ tràn ly", hay câu "Mong em chín đỏ trái sầu", hoặc "Sang anh, gót nhỏ thầm th́",...Tôi nghe trong thích thú, tượng thanh, tượng h́nh đấy chứ !

 

Trong bài Mùa Thu Paris mang nét lăng mạn với chút ǵ đó buồn man mác,... v́ son nhạt đôi môi, em buồn trở lại, hờn quên hối cải cuộc đời... Với bài thơ Chưa Bao Giờ Buồn Thế, hay bài nhạc Tiễn Em, sự lăng mạn không kém của lời thơ:

 

Lên xe tiễn em đi,

Chưa bao giờ buồn thế
Trời mùa đông Paris
Suốt đời làm chia ly
Tiễn em về xứ mẹ
Anh nói bằng tiếng hôn
Không c̣n ǵ lâu hơn
Một trăm ngày xa cách
Ga Lyon đèn vàng
Tuyết rơi buồn mênh mang
Cầm tay em muốn khóc
Nói chi cũng muộn màng
Hôn nhau phút này rồi
Chia tay nhau tức khắc
Khóc đi em, khóc đi em
Hỡi người yêu xóm học
Để sương thấm bờ đêm
Đường anh đi tràn ngập lệ buồn em...

 

Tiễn Em, Thanh Thúy tŕnh bày

http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=dHT0U8PikTqO

 

Ngày xưa tôi nghe hai chị em cô ca sĩ Vân Khanh (trong forum T́nh Nghệ Sĩ)song ca bài này rất hay, nhưng v́ lời nhuốm nét buồn lắm, buồn lắm, bởi v́ Sao rơi rớt rụng, vai em ướt mềm,... hay Để sương thấm bờ đêm, đường anh đi tràn ngập lệ buồn em... Tôi yêu bài thơ này, thuở trung học của thập niên 60s, khi nghe đến các câu: Tiễn em về xứ mẹ, anh nói bằng tiếng hôn, không c̣n ǵ lâu hơn, một trăm ngày xa cách,... Khi ấy tôi quên bẵng cứ ngỡ "tiễn em về xứ mẹ" xêm xêm với "tiễn em về Đà Lạt", hay "tiễn em về Đà Nẵng" ǵ đó,... Thực ra ngụ ư chính của tác giả về "xứ mẹ" tức miệt biển Méditerranée, mạn Nam nước Pháp, cô gái về quê 3 tháng trời cách xa ṛng ră khiến tác giả cho lời thơ lưu luyến khi cha tay nhau mà tưởng chừng biền biệt xa nhau. Nỗi luyến lưu được trải bày tâm sự thành ra bài thơ vô cùng lăng mạn đi vào văn học và âm nhạc Việt Nam.

 

Riêng bài Đêm Sinh Nhật, thơ loại lục bát tiêu biểu của Cung Trầm Tưởng. Khi ông vào Sài G̣n trong những năm cuối thập niên 50s, ở lứa tuổi lăng mạn đôi mươi, khi mà đêm khuya ngắm những ngă tư đèn vàng, ở tuôi mộng mơ qua văn chương, Sài G̣n của thành phố đêm mưa, Sài G̣n của hẹn ḥ, rồi chia ly buồn bă,...

 

Mưa rơi đêm lạnh Sài G̣n
Mưa hay trời khóc đêm tṛn tuổi tôi.
Mưa hay trời cũng thế thôi
Đời nay biển lạnh mai bồi đất hoang.
Hồn tu kín xứ đa mang
Sớm hao tâm thể chớm vàng lượng xuân.
Niềm tin tay trắng cơ bần
Cuối hoàng hôn lịm bóng thần tượng xưa.
Đêm nay trời khóc trời mưa
Gió lùa ẩm đục trời đưa thu về
Trời hay thu khóc ủ ê
Cổ cao áo kín đi về đường tôi.


Xin mời quư bằng hữu ACE trong liên diễn đàn T́nh Nghệ Sĩ đọc bài viết của thi sĩ Bùi Ngọc Tuấn, "Cung Trầm Tưởng, tiếng Việt, lời thơ" sau đây... Trân trọng kính mời:

 

 

BÙI NGỌC TUẤN * Cung Trầm Tưởng - tiếng Việt, lời thơ

Chúng ta may mắn nói tiếng Việt Nam, bởi v́ tiếng Việt đơn âm và giầu thanh điệu. Những nguyên âm với 5 dấu giọng; Sắc Huyền Hỏi Ngă Nặng, một âm tiếng chẳng những thay đổi ư nghĩa mà c̣n chuyển nhạc điệu. Ví dụ thường dùng nhất là chữ: Ma, Mà, Mả, Mă, Mạ. Ngoại trừ chữ I, 4 nguyên âm kia c̣n đổi thanh và nghĩa như A thành  hay Ă, E thành Ê, O thành Ơ, thành Ô, U thành Ư.

Tiếng Việt lại c̣n giầu trong cách diễn tả, cùng một ư mà có nhiều cách diễn tả khác nhau, bằng nhiều tĩnh tự khác nhau, mang theo những âm điệu khác nhau, gợi lên những h́nh ảnh khác nhau và cũng v́ thế mang nhiều cường độ khác nhau. Những chữ kép c̣n hoán chuyển vị trí, gợi lên những ư t́nh, những cung bậc khác nhau, như thiết tha và tha thiết, say đắm và đắm say, ngơ ngẩn và ngẩn ngơ, quên lăng và lăng quên, ai dám nói rằng cảm thông đồng nghĩa với thông cảm …

V́ thế tiếng Việt là một ngôn ngữ của thơ, v́ thế người nói tiếng Việt nào cũng yêu thơ, đọc thơ, làm thơ. Những thi sĩ chẳng những có nhiều vần điệu, có nhiều tĩnh tự, nhiều cách diễn tả khác nhau để xử dụng mà lại c̣n nhiều vật liệu để tạo ra nhiều cách diễn tả giầu h́nh ảnh, giầu nhạc điệu khác nhau, du dương hơn, xoáy động hơn.

Với những ngôn ngữ khác: người ta đọc thơ, c̣n với tiếng Việt, ngoài đọc thơ người ta c̣n ngâm thơ.  Tuy nhiên, nên để ư rằng, tiếng Việt nói: “soạn nhạc”, “viết văn”, nhưng không nói “viết thơ” mà nói “làm thơ”. V́ sao thế? V́ thi sĩ, thường bị dày ṿ, băn khoăn, trắc trở lâu mới làm được bài thơ. Cái quá tŕnh làm thơ thường rất dài, thường rất nhiều t́m kiếm, chọn lựa, thay đổi, vứt bỏ. Người đọc có được bài thơ hay không biết rằng lời thơ nhẹ nhàng hay nồng nàn, đắm say hay đau xót đă từng làm thi sĩ trăn trở rất nhiều mới nên. Người xưa nói làm thơ là lao tâm khổ tứ là v́ thế. “Viết” là bầy tỏ ư tưởng, “Làm” là sáng tạo, là dựng lên một cái ǵ trước đó chưa hề có.  V́ là ngôn ngữ của thơ cho nên tiếng Việt mới không nói “viết thơ” như những ngôn ngữ khác, mà nói chính xác là “làm thơ”. Có những vần thơ Cung Trầm Tưởng làm xong, đăng báo, xuất bản, nhưng vẫn cứ tiếp tục sửa đổi.

Những thi sĩ có tài là những phù thủy của ngôn từ. Trong số đó, Cung Trầm Tưởng là một trong những phù thủy của ngôn từ tài ba bậc nhất. Thơ Cung Trầm Tưởng từ khởi đầu, đến bây giờ, xuốt 60 năm tràn đầy những tác phẩm mà tiếng Việt được xử dụng tài t́nh và được sang tạo tài t́nh.

Ngày trước, để ngợi ca tiếng Việt, thi sĩ Trần Tuấn Kiệt, trong lời mở đầu của tác phẩm Tiếng Đồng Nội đă viết rằng: Cấm dịch tác phẩm này sang bất kỳ một ngôn ngữ nào khác. Để người đọc phải đọc bằng tiếng Việt, ngôn ngữ đẹp nhất của nhân loại. Ông chắc không sai.

Thơ Cung Trầm Tưởng cũng thế, cũng là những tác phẩm tuyêt vời ngợi ca tiếng Việt. Tôi xin nói về Cung Trầm Tưởng bằng vài chữ giản dị: “Cung Trầm Tưởng, tiếng Việt, lời thơ”.

Sao biết thế nào là một vần thơ hay? V́ khi đọc thơ, ta có niềm rung động chăng? Hăy phân tích ra xem. Để làm ǵ? Đọc thơ để cảm xúc chưa đủ sao? Phân tích để nâng trí hiểu biết ngơ hầu nhận biết được niềm cảm xúc, và hơn thế nữa, để nâng cao niềm cảm xúc lên nhiều cung bậc cao hơn, để nâng tŕnh độ thưởng ngoạn thơ cao hơn.

 

Những yếu tố chính của bài thơ hay là ǵ? Thơ Cung Trầm Tưởng có những yếu tố ǵ?

Thơ hay v́ giàu với 5 yếu tố:

1.    Ư – thơ không ư th́ trơ trẽn

2.    T́nh – thơ nghèo t́nh th́ nông cạn, thiếu sức cảm xúc

3.    Nhạc điệu – thơ kém nhạc điệu th́ kém du dương, kém sức lôi cuốn

4.    H́nh ảnh – thơ không h́nh ảnh th́ nghèo nàn, không khơi động được trí tưởng

5.    Cách tạo chữ - kém tạo chữ th́ không làm giầu được nhạc điệu, h́nh ảnh, không dấy động được ư t́nh.

Hăy đọc thơ Cung Trầm Tưởng, suốt từ khởi đầu, từ 60 năm trước, vần thơ nào của ông cũng phong phú đủ 5 yếu tố trên. Không những phong phú mà thôi, mà phong phú với sự sáng tạo riêng, đặc biệt Cung Trầm Tưởng. Đứng đầu, một ḿnh, một cơi.

 

Tôi không bao giờ gặp Cung Trầm Tưởng ở Việt Nam, ông lớn tuổi hơn tôi, và ngoài thơ ra, chúng tôi sống trong hai thế giới khác nhau. Khi anh đă dựng nên sự nghiệp, tôi vẫn lang thang như một chàng phiêu lăng. Nhưng khi gặp nhau ở Minnesota lần đầu tiên, khoảng 10 năm trước, tôi thấy như gặp lại bạn xưa. Cũng chính v́ trong bao năm qua tâm tư tôi tràn ngập thơ Cung Trầm Tưởng. Là một nhà thơ, cuộc đời là ngôn ngữ, tâm t́nh là ngôn ngữ, nên Cung Trầm Tưởng cũng giao t́nh bằng ngôn ngữ.

 

Trong bài thơ: “Nửa đêm đàn vọng cung trầm, buồn như ly khách” tôi có vài câu thơ như:

 

Vời đêm vọng lệ tim nhau

Những gịng tâm tưởng, nhưng câu lặng hồn

 

 

Đêm trường thoảng gió ngoài sân

Trăng lu, sương nhạt, đàn ngân cung trầm

 

Khi viết tặng tôi tập “Một Hành Tŕnh Thơ”, Cung Trầm Tưởng viết rằng:

 

‘Thân tặng Thi Sĩ Bùi Ngọc Tuấn của “đàn ngân cung trầm”, “những ḍng tâm tưởng, những câu lặng hồn”. Cung Trầm Tưởng, Minnesota ngày 5/5/2012’

 

Thủa đó, tôi c̣n là một gă thiếu niên ở Saigon, Cung Trầm Tưởng ở Pháp về,xuất bản tập thơ “T́nh Ca”, với tranh Ngy Cao Uyên là phụ bản, với nhạc phổ của Phạm Duy. Gă thiếu niên ấy có những ngày tháng tuyệt vời đọc, cảm và yêu thơ Cung Trầm Tưởng. Yêu bài “Kiếp Sau”. Rồi một tối trời mưa, từ trên đài phát thanh Saigon, vang lên giọng ngâm nồng nàn, tha thiết của Tô Kiều Ngân với bài “Kiếp Sau”. Gă thiếu niên là tôi càng say đắm hơn trong ư, trong t́nh, trong nhạc điệu, trong h́nh ảnh, trong lối dùng chữ, tạo chữ tuyệt vời của Cung Trầm Tưởng. Trong 6 bài thơ mà Phạm Duy phổ nhạc trong tập thơ này. 3 bài được hát thường là Bài Tiễn Em (từ bài thơ Chưa Bao Giờ Buồn Thế), bài Mùa Thu Paris, bài Khoác Kín, nhưng bài Kiếp Sau (mặc dù rất hay) nhưng lại hiếm khi được nghe.

 

Bởi v́ sao? Tôi cho rằng cái ư, cái t́nh trong bài thơ này đ̣i hỏi nó phải được đọc lên trong nhạc điệu riêng mà Cung Trầm Tưởng đă tạo ra, khó diễn tả bằng âm nhạc. Dù rằng cả thơ lẫn nhạc đều giàu nhạc điệu, h́nh ảnh. Nhưng hát xong rồi th́ điệu hát ngừng, c̣n thơ đă đọc xong mà vẫn vang vọng măi. Câu thơ đọc xong, cũng như tiếng cồng vừa đánh rồi mà âm vọng cứ ngân măi.

Nếu bạn yêu thích những bản nhạc Phạm Duy đă phổ thơ Cung Trầm Tưởng, th́ tôi chắc rằng khi đọc nguyên bản những bài thơ đó bạn mới biết rằng những bài thơ ấy hay biết chừng nào. Phạm Duy là một kỳ tài trong số những nhạc sĩ có tài phổ nhạc vào thơ. Nhưng nhạc của âm nhạc dù gần mà vẫn khác cái nhạc điệu linh động, uyển chuyển và vang vọng của thơ.

 

Đây là lời ca bài “Tiễn Em”:

 

Hôn nhau phút này

Chia tay tức th́

Em ơi! Khóc đi em, Khóc đi em

Sao rơi rớt rụng, vai em ướt mềm

Em ơi khóc đi em, khóc đi em

 

C̣n đây là đoạn nguyên thủy trong bài thơ “Chưa bao giờ buồn thế”:

 

Hôn nhau phút này rồi chia tay tức khắc

Khóc đi em, khóc đi em

Để luồn qua tóc rối

Những v́ sao rụng ướt vai mềm

 

Hay câu thơ đầu trong bài “Kiếp Sau”:

 

Bù em một tháng trời gần

Đơm hoa kết mộng cũng ngần ấy thôi

 

Phạm Duy phải đổi thành: Đền em một tháng trời gần, đơm hoa kết mộng cũng ngần ấy thôi. Trong tiếng Việt chữ “đền” tuy gần nhưng lại không cùng nghĩa như chữ “bù”. Đền là để hoàn lại cái ǵ đă lấy mất đi. Trong khi đó chữ “bù” lại có nghĩa là bồi thêm, đắp thêm vào cái có sẵn. “Đền” là thụ động, “bù” là chủ động. Về nhạc điệu “Bù em một tháng trời gần” gợi thêm chan chứa t́nh yêu thương, và nghe du dương tha thiết hơn. Nhưng Phạm Duy không thể đưa nguyên câu thơ đó vào nhạc được. V́ người nghe nhạc không có kịp th́ giờ để nhận được cái vang vọng của lời thơ.     

 

Cũng như vậy, một đêm mưa gần đây, trong lúc xa nhà, ở trong pḥng một khách sạn miền Tây. Tiếng mưa nhịp đều trên cửa kính. Nằm yên trong bóng tối, chợt tự sâu thẳm trong trí tưởng, vang lên bài thơ Sinh Nhật của Cung Trầm Tưởng, và vọng lên những đêm mưa của hè phố Saigon. Lần nữa, bạn hăy đọc bài thơ này để thấy ư, thấy t́nh, thấy nhạc điệu, thấy h́nh ảnh, thấy tài dùng chữ của Cung Trầm Tưởng.

 

Đêm Sinh Nhật

 

Mưa rơi. Đêm lạnh. Sài G̣n

Mưa hay trời khóc đêm tṛn tuổi tôi

Mưa hay trời cũng thế thôi

Đời nay biển lạnh. Mai bồi đất hoang

Hồn tu kín xứ đa mang

Chóng hao tâm thể, sớm vàng lượng xuân

Niềm tin tay trắng cơ bần

Cuối hoàng hôn lịm bóng thần tượng xưa

Đêm nay trời khóc trời mưa,

Gió lùa ẩm mục, trời đưa thu về.

Trời hay thu khóc ủ ê?

Cổ cao áo kín đi về đường tôi

 

1961

 

Trong lời b́nh tác phẩm Tây Sương Kư, Kim Thánh Thán, đời nhà Thanh nói về phép làm thơ, cũng như phép vẽ tranh: “Vẽ mây, nẩy trăng”. Người vẽ giỏi, người làm thơ tài ba, vẽ giải mây mà người xem thấy vầng trăng.

Phép “vẽ mây, nẩy trăng” chính là phương thuật mà khi biết xử dụng, người làm thơ viết được những câu thơ xoáy động ḷng ta. Là một phù thủy ngôn ngữ, Cung Trầm Tưởng xử dụng phương pháp này tài t́nh và tinh tế vô cùng. Hăy lấy một bài, như bài “Thầm Lặng”, trong bài không có một chữ thơ, chữ buồn, chữ cô đơn, chữ sáng tạo…Bài thơ đầy h́nh ảnh của đời sống xuôi chảy, của sáng nắng, đêm khuya, của hoàng hôn tươi thắm, của rạng đông tươi hồng, của trẻ thơ, của mẹ hiền. Đó là những giải mây, đọc rồi ta sẽ thấy vầng trăng, ta sẽ thấy Cung Trần Tưởng nói về tâm tư của người làm thơ: một ḿnh lặng lẽ đau đớn với phận người tràn đầy khắc khoải giữa gịng sống xuôi chẩy không ngừng. Mọi vật thảy đều theo luật “Xuân sinh, Hạ trưởng, Thu liễm, Đông tàn” riêng nỗi ḷng của nhà thơ ngàn đời không đổi. Ngàn đời buồn cho kiếp người, ngàn đời đau cho cuộc đời.  Bạn hăy t́m đọc bài thơ ấy, khi ngồi một ḿnh, hay bạn có thể đọc bất kỳ bài thơ nào khác của Cung Trầm Tưởng, bạn cũng sẽ nh́n thấy những vầng trăng của thi sĩ lồng lộng sang sau giải mây bạc vắt ngang trang giấy.

 

H́nh như chỉ có tiếng Việt, đơn âm, giàu thanh điệu mới nẩy sinh được thể thơ lục bát, thể thơ độc nhất dùng yêu vận. Chữ thứ 6 của câu 8 chữ, vần với chữ cuối của câu thơ 6 trên đó:

 

Đêm qua ra đứng bờ ao

Trông cá, cá lặn – trông sao, sao mờ

 

Ca Dao Việt Nam trong nhiều trăm năm (hay nhiều ngh́n năm) tràn đầy những lời thơ lục bát của người dân thôn làng, mà đến thế kỷ 19, Nguyễn Du đă thăng hoa trong truyện Kiều. Rồi lục bát được đổi mới không ngừng, với những nhà thơ như Huy Cận của đầu thập niên 1940, của Viên Linh, của Hoài Khanh của thập niên 1960. Nhưng cũng từ thập niên 1950, Cung Trầm Tưởng là người mang lại sinh khí mới, sắc thái mới, h́nh ảnh mới, chữ dung mới và cả nhạc điệu mới cho thơ Lục Bát. Từ những bài thơ của 1954, 1956, 1958….1960, 1962, 1965, cho đến những bài thơ mới làm gần đây. Lục bát của Cung Trầm Tưởng vẫn giàu sắc thái mới của Cung Trầm Tưởng mà cũng vẫn đầy sáng tạo, nhạc điệu vẫn đổi mới mà cũng vẫn uyển chuyển, vẫn tràn đầy h́nh ảnh của đời sống đương thời.

 

Hăy đọc từ những bài thơ của thời trẻ tuổi, của thập niên 1950 trong tập thơ T́nh Ca, hăy lấy một bài, bài nào cũng được, ví dụ bài tôi yêu nhất trong tập này là bài “Kiếp Sau”:

 

Kiếp Sau

 

Bù em một tháng trời gần

Đơm hoa kết mộng cũng ngần ấy thôi.

Bù em góp núi chung đồi,

Thiêu nương đốt là cũng rồi hoang sơ.

Bù em phất phới buồm thơ,

Vẫn e gió trở ngược bờ sông thương.

Bù em một tháng thiên đường

Mà xưa tiếng gọi nghe dường thiên thu

Non sông bóng mẹ sầu u

Ṃn trông ngưỡng cửa, chiều lu mái đầu.

Thôi em xanh mắt bồ câu,

Vàng tơ sợi nhỏ xin hầu kiếp sau

 

1956

 

Hăy đọc những câu thơ của 1954:

 

Mùa Đông tuyết xứ hoang vu

Bâng khuâng chiều tới tiếp thu trời buồn

 

(hăy chú ư: Mùa Đông tuyết xứ hoang vu chứ không phải là Mùa Đông xứ tuyết hoang vu. V́ nếu nói xứ tuyết hoang vu, th́ không những h́nh ảnh trở nên nghèo nàn mà nhạc điệu cũng trở nên tầm thường. Cùng trong bài này, hăy để ư: “tầu như dưới tỉnh núi c̣n vọng âm”. Nếu không phảiI là  chữ  “như “ mà là  một chữ  nào khác (đi, xa, bon….) th́  là  câu thơ  tầm thường, câu thơ của một tay mơ.  Câu thơ xác quyết, trơ trẽn, nông cạn “Tầu như dưới tỉnh” gợi h́nh ảnh mơ hồ, tầu đang chạy trong tâm tư người hay tầu đang chạy trên đường. Có thật tầu đang chạy dưới đó không, hay đă xa rồi, hay chưa đến tỉnh? Tiếng vang vọng của tầu trong thung lũng, trên sườn núi hay tiếng vang vọng của những chuyến tầu của kỷ niệm, trong ư t́nh? Đọc thơ Cung Trầm Tưởng phải thấy rằng cái rung cảm của ḿnh nẩy sinh từ nghệ thuật dùng chữ của Cung Trầm Tưởng đă mang đến những h́nh ảnh linh động, những t́nh ư man mác, bao trùm, những nhạc điệu tha thiết mà cuồng sôi.)

 

Hay của 1956:

 

Thôi em xanh mắt bồ câu

Vàng tơ sợi nhỏ xin hầu kiếp sau

 

Hay của 1965:

 

Gót ngờ rớt chín phân vân

Để sau một hóa mười lần đến anh

 

của 1984:

 

Mai sau ngủ giấc cây sồi

Làm thiên thu chiếc miếu ngồi thờ em

 

Hay:

            Mắt chiều hun hút sân ga

            C̣n cầm tay đă mất và nhớ nhung

 

đến Minnesota 1995:

Ngủ trùm vừng tưởng hồng hoang

Rung rinh cong tớn thời gian dợn ḿnh

 

Thi sĩ Viên Linh, người bạn, người cùng Cung Trầm Tưởng làm sang rực thơ lục bát từ thập niên 1950, 1960 ở Saigon, kể rằng chẳng những bài thơ Sinh Nhật của Cung Trầm Tưởng rung động ông đến mức, mỗi năm đến ngày sinh nhật của ḿnh ông vẫn thường thấy vang vọng trong hồn bài thơ “Đêm Sinh Nhật” của Cung Trầm Tưởng.

 

Viên Linh c̣n kể rằng, thơ Cung Trầm Tưởng chấn động ông đến mức năm 1994, khi sang Pháp, Viên Linh đă t́m đến ga Lyon để sống cái tâm tưởng của Cung Trầm Tưởng 40 năm trước:

 

            Ga Lyon đèn vàng

            Tuyết rơi cuồng mênh mang

            Cầm tay em muốn khóc

            Nói chi cũng muộn màng

 

H́nh như Cung Trầm Tưởng là thi sĩ độc nhất dùng thơ lục bát để ca ngợi t́nh yêu với một thiếu nữ “mắt nâu, tóc vàng”. “Người em mắt nâu, tóc vàng sợi nhỏ” đó nay đâu? Trong tâm tư những người yêu thơ Việt, yêu thơ Cung Trầm Tưởng, lúc nào thiếu nữ này cũng muôn đời là một cô gái tuổi đôi mươi thấp thoáng ẩn hiện với vẻ đẹp dịu dàng, muôn đời, muôn kiếp không lớn lên, không thay đổi. Người ta thường nói, người yêu của thi sĩ cũng bất tử như chính thi sĩ là thế.

 

Cung Trầm Tưởng có những bài thơ Lục Bát dài mươi câu, những cũng có những bài dài, rất dài như bài “Bài Ca Níu Quan Tài”, gồm 18 đoạn, mỗi đoạn dài 50, 60 câu hay hơn trăm câu. Bài thơ này được viết sau 10 năm tù cải tạo, và được bạn ông dấu được sang Hoa Kỳ, vào cuối thập niên 1980. Đây là bài thơ ta phải đọc để hiểu để cảm, để cùng đau xót với người Việt, nước Việt, với tấm ḷng Cung Trầm Tưởng.

 

Muốn biết cái hay của tiếng Việt, phải đọc thơ Lục Bát, muốn đọc thơ Lục Bát hay, phải đọc thơ Cung Trầm  Tưởng, không phải đọc một bài, mà phải đọc toàn tập. Đọc toàn tập mới thấy được nhiều nhạc điệu luân chuyển, nhiều ảnh h́nh biến hoá, nhiều ư thiết tha, nhiều t́nh tha thiết. Đọc thơ Cung Trầm Tưởng để biết cách dùng tiếng Việt.

 

Cuối thập niên 1930, Phạm Quỳnh từng nói: “Tiếng ta c̣n, th́ nước ta c̣n” Than ôi! tiếng Việt ta c̣n không? Ở Việt Nam, và cũng ở trên báo chí, truyền thanh truyền h́nh ở hải ngoại, chỉ có một thứ tiếng Việt ngớ ngẩn với những chữ tối tăm, lối nói nặng nề, sai cả ngữ pháp. Tiếng Việt vốn trong sáng, nhưng bây giờ, thay v́ nói “tốt” người ta nói “có chất lượng”, thay v́ nói “ghi tên” th́ lại nói “đăng kư”, thay v́ nói “có “ th́  lại nói “sở hữu”, như thay v́ nói “cô gái ấy có một gương mặt đẹp” lại nói “cô gái ấy sở hữu một gương mặt đẹp”.

Có phải nước Việt Nam c̣n mà như mất, v́ có phải tiếng Việt đang tàn lụi chăng?

Xin đọc thơ Cung Trầm Tưởng, để giữ ǵn tiếng Việt.

 

bùi ngọc tuấn

(bài nói chuyện giới thiệu “Cung Trầm Tưởng, một hành tŕnh thơ” -

Minnesota, 17 tháng 6, 2012)

 

 

http://vuontaongovhnt.blogspot.com/2012/08/bui-ngoc-tuan-cung-tram-tuong-tieng.html

 

 

 


 

Việt Hải Los Angeles

 

 

 

         

 

Thơ và Truyện của Việt Hải               |                 www.ninh-hoa.com