|
|
Để
Quên
Con
Tim
Việt
Hải


Hôm
đó chiều thứ sáu, tôi cho xe cặp sát lề ṭa nhà mà tôi c̣n nhớ là 42 đường
Tú Xương là trừơng nữ trung học Regina Pacis, tôi nh́n kiếng chiếu hậu
thấy bóng Nguyên, cô em gái tôi đi cùng một cô bạn gái trong đồng phục của
trừơng thật xinh xắn, dễ thương. Nữ sinh Regina Pacis lớp nhỏ mặc đồng
phục váy xanh đậm có nếp plies , áo sơ mi xanh rêu nhạt, áo có thêu chữ
xanh dương đậm RP. RP là chữ tắt của Regina Pacis, có nghiă là "Nữ Vương
Hoà B́nh" theo tiếng latin. Lớp lớn như Nguyên, em gái tôi mặc áo dài
trắng, có thêu chữ RP trên góc trái áo. Nguyên giới thiệu người bạn. Tên
cô là Linh Chi, một cái tên thật lạ tai và đẹp như gương mặt và dáng điệu
trẻ trung, quư phái của nàng. Nguyên nhờ tôi đưa Linh Chi về nhà luôn tiện.
Hai cô học sinh ngồi phía sau, tôi ngó kính hậu rồi nghĩ thầm trong thoáng
vui đùa:
"Chả sao hôm nay chiều thứ sáu ḿnh như anh ba lơ xe kiêm tài xế xe đ̣ mà!".
Nhà
Linh Chi là căn villa trên đừơng Công Lư, nên tôi bảo hai cô là chiều nay
đưa hai cô vào khu La Cay ăn Hải Kư Ḿ Gia, Nguyên em tôi lúc nào cũng
giỏi gài độ:
"Phải đó anh ba hoan hô ư kiến hay!" .
Tôi liếc kính chiếu hậu h́nh như Linh Chi tỏ thái độ dè dặt. Tôi mở lời
tiếp tục bắt nhịp cầu câu chuyện:
"Linh Chi đừng ngại chi hết, lâu lắm rồi anh mới về lại Sài G̣n, nên
thừơng đưa mấy cô em của anh đi ăn quà vặt, vả lại khu La Cay hay Đồng
Khánh về đêm rất vui, rất tấp nập. chúng ta đi nhé".
Linh Chi tỏ ư muốn về trước 6 giờ chiều, tôi bảo không sao, chắc chắn như
vậy.
Chiều hôm đó tiệm ăn đông khách nên hết bàn
bên trong, chỉ c̣n mấy bàn lộ thiên bên ngoài mà thôi. Chúng tôi lấy ghế
ngồi và tṛ chuyện vui vẽ. Ngừơi bồi bàn đến ghi thực đơn, cả hai cô gọi
món ḿ bánh xếp nước, tôi kêu diă ḿ xào ḍn thập cẩm. Chả hiểu tại sao
tôi lại mê món này kinh khủng. Linh Chi hỏi tôi làm ǵ trên Đà Lạt, tôi
cho nàng biết v́ tôi thích ngành quản trị xí nghiệp của Hoa Kỳ nên muốn
theo học tại trừơng Chính trị Kinh doanh Đà Lạt với ước muốn học lên cao
học tại Mỹ. Nàng thích sang Pháp v́ cha nàng tốt nghiệp luật khoa
Sorbonne. Tôi hỏi nàng về sở thích, nàng thố lộ nàng đam mê âm nhạc, nhất
là dương cầm cũng như vĩ cầm, và lảnh vực hội họa. Tôi nhắn lại là hy vọng
lần sau trở về Sài G̣n tôi ước mong đựơc đi xem nàng tŕnh diễn ḥa nhạc.
Đưa nàng về, Nguyên kể tôi nghe nàng là ngừơi bạn thân nhất của Nguyên
trong lớp, hơn nữa tính t́nh của nàng rất dịu dàng và trí thức. Hai cô
nàng này học lớp 11, tôi sang năm xong bậc cử nhân, nếu t́nh h́nh cho phép
sẽ xuất dương đi du học. Hầu như các bạn bè trong lớp tôi mang cùng mơ ước
như vậy.
Những năm 73 khi ngừơi Mỹ đưa ra kế hoạch Việt Nam hóa chiến tranh, đất
nước lo lập quỹ tái thiết hậu chiến, rồi bao nhiêu kế hoạch được vẽ ra do
ông tiến sĩ Nguyễn Văn Hảo từ Harvard trở về trông coi. Cái bánh vẽ đó làm
bọn sinh viên chúng tôi náo nức về các kế hoạch phát triển kinh tế hậu
chiến.
Tôi
trở lại ĐàLạt, thỉnh thoảng tôi biên thư thăm Linh Chi. Tháng 11 năm 74,
nàng và mẹ nàng lên thăm viếng thành phố Đà Lạt. Tôi gặp lại nàng buổi
chiều, tôi mời mẹ nàng và nàng ăn tối tại nhà hàng Mékong, sau đó đi dạo
phố Ḥa B́nh. Tôi đưa mẹ nàng về nhà ngừơi bà con của nàng ở trọ ở gần
trừơng Bùi Thị Xuân. Tôi xin phép mẹ nàng để đưa nàng đi uống café thủy
tọa. Thực vậy cuối năm khi khí trời lành lạnh có hai điều tôi nhớ hoài về
Đà Lạt là một đi tắm nước nóng ở các tiệm, xong ghé một tiệm phở bắc đớp
tô phở tái nóng bốc hương phở th́ quả là tuyệt dịu, thứ hai ra quán café
Tùng tọa lạc ngay trên hồ Xuân Hương kêu ly cà phê sữa nóng hay ly trà
lipton chanh đừơng nóng nhâm nhi, rồi lắng nghe tiếng nhạc Lê Uyên Phương
hay Khánh Ly, hoặc nhạc ngoại quốc như nhạc Christophe, Art Sullivan, Lobo
hay Beatles vẫn là cái hoài niệm nhớ nhiều trong tôi về cái thành phố
phảng phất nét tây phương đáng yêu, mà nó hầu như đă gắn liền với cuộc đời
vị bác sĩ Yersin nhận Đà Lạt làm quê hương.
Trong
cái giá lạnh của sương lạnh chiều rơi trên hồ Xuân Hương tôi nhắc Linh Chi
khoác áo lạnh vào khi chúng tôi bứơc ra về. Nàng ngó về hướng xa xa có sao
lấp lánh hướng đồi Cù, nàng khẽ nói:
"Mai em muốn trở lại vẽ đôi nét cảnh vật xung quanh đây!". Tôi đồng ư, có
những hôm khi đến nhà nàng, tôi đă có dịp chiêm ngưỡng khá nhiều bức tranh
thiên nhiên mà nàng đă họa. Tôi bảo nàng ngày hôm ấy là tôi thích bức
tranh nàng vẽ đôi chim líu lo đậu trên cành trúc đào và bức tranh khác vẽ
băi biển Thùy Dương, Vũng Tàu, v́ nó gần gủi với tôi, nơi mà tôi được chào
đời.
Tôi ngồi trên băi cỏ hứơng mắt nh́n nhà thủy
tọa để cho nàng vẽ, ánh mắt đăm chiêu nh́n ḍng nước phảng lặng trên hồ
Xuân Hương, sáng hôm nay bầu trời thật quang đăng như để đón tiếp t́nh bạn
hay có chăng một t́nh yêu nhen nhúm của hai chúng tôi, hay ít ra là của
tôi. Sự dè dặt trong ư nghĩ riêng mà tôi rất ngần ngại thố lộ với nàng.
Nàng xoay ngừơi như ngừơi ca sĩ sau khi chấm dứt khúc hát, nàng vui bảo:
"Nè, xong rồi!".
Tôi liếc mắt và trầm trồ phê b́nh:
"Tuyệt lắm, tuyệt lắm! Anh không ngờ Linh Chi có biệt tài như thế ".
Chúng tôi hướng ra xe mang theo bảng vẽ, ghế bố xếp, hộp đồ nghề đựng bút
mực vẽ và giỏ thức ăn cho buổi hôm đó.
Nàng
về lại Sài G̣n cho đến khi miền nam thất thủ. Gia đ́nh tôi kẹt lại, tôi
trở về Sài G̣n, bố tôi bị đầy đi tù, danh từ hoa mỹ mà chế độ mới gọi là "
học tập cải tạo". Gia đ́nh Linh Chi đă sang Pháp. Thế là anh em chúng tôi
không có tin tức về Linh Chi nữa. Năm 78 gia đ́nh tôi vựơt biên thành công
sang Mỹ. Xây dựng đời sống mới tại thành phố Aurora, Colorado một thời
gian ngắn, chúng tôi dọn về thành phố Eugene, thuộc tiểu bang Oregon, tôi
theo học ngành kỹ sư cơ khí tại Portland, trong khi mẹ tôi và hai cô em
gái ở lại Eugene. Phải nói là hai thành phố đầu tiên mà tôi sống trong
bước đầu tại Mỹ này quá lư tửơng, nếp sống thanh b́nh gần gũi với thiên
nhiên. Mỗi ngày tôi bắt gặp thỏ rừng, sóc, chồn, nai hay chim muông nô đùa
nhởn nhơ trước mặt ḿnh. Thiên nhiên xanh tươi vào mùa xuân với hàng hà sa
số thông rừng, tùng tươi xanh ngát, rồi maple thiên nhiên úa vàng về mùa
thu và thiên nhiên lại bạc trắng vào mùa đông. Tóm lại hai nơi này lư
tửơng cho những ai yêu thiên nhiên hay các vị có khuynh hướng lăng mạn cho
thơ văn như tôi. Tuy nhiên, sau này gia đ́nh tôi phải dọn về nam Cali v́
dễ dàng kiếm công ăn việc làm dưới thời đại tổng thống Reagan. Vả lai miền
nam Cali c̣n là nơi có tập thể ngừơi Việt đông đảo, nên hấp dẫn cho ư muốn
của gia đ́nh tôi, nhất là mẹ tôi. Tôi thích sống tại miền nam Cali nắng ấm.
Vâng, dĩ nhiên quả không sai khi ngừơi ta hănh diện cho tiểu bang golden
state này. Hai cô em tôi đều lập gia đ́nh với những người bạn Việt Nam học
cùng đại học. Nguyên có chồng là Phương và cô em kia là Hiền, có chồng là
Huấn. Cả hai Phương và Huấn là bạn học đều tốt nghiệp tại trừờng UC Irine.
Các em dọn ra ở riêng. Tôi ở với mẹ và vẫn sống độc thân, hàng ngày vui vẽ
với việc làm. Cái ưu tư của mẹ tôi mà bà thường hỏi sao không lập gia đ́nh
cho rồi, như các cô em tôi. Tôi vui đùa trả lời mẹ tôi:
"Mẹ có biết rằng con mẹ khó tính không?".
Thực ra trong thâm tâm tôi cũng muốn gặp người bạn gái tri kỷ nào đó.
Nhưng trên xứ người này tôi chưa có cơ hội.
Một
hôm Nguyên gọi điện thoại cho tôi trong lúc bận rộn làm việc. Nguyên hẹn
tôi trưa ra ăn trưa v́ có tin vui. Như mọi buổi ăn trưa khác, tôi chỉ ậm ừ
qua loa mà lại không hỏi ǵ thêm, phần v́ công việc làm của tôi chồng chất
khá nhiều. Giờ ăn trưa trong khu thương xá Spectrum Plaza tấp nập, chúng
tôi ngồi ăn trưa trong một nhà hàng người Tàu. Nguyên cho biết cô liên lạc
với các bạn RP cho biết là Linh Chi đă hoạt động tích cực cho hội Ái Hữu
RP, Linh Chi đă điện đàm với Nguyên và sắp xếp chương tŕnh sang Mỹ hai
tuần vào dịp lễ cuối năm. Tuần đầu ghé Houston và tuần sau ghé nam Cali.
Tôi xin Nguyên chi tiết liên lạc với Linh Chi.
Một hôm mở hộp thơ tôi nhận đựơc bức thơ đầu tiên của Linh Chi, với bút
thự quen thuộc, Linh Chi viết:
"Paris, 24/09/96.
Cher anh Trọng,
LC không ngờ hơn 20 năm xa cách mà bây giờ chúng ta đă có liên lạc lại với
nhau. LC đă đựơc thơ anh, thơ anh viết thật dài vẫn tŕu mến, vẫn đượm nét
văn chương hồn nhiên như dạo nào. Anh biết không sống tại xứ người như
Paris, đựơc gọi là kinh đô hoa lệ của ánh sáng, nhưng LC vẫn thiếu cái ǵ
đó? H́nh như kỷ niệm ở quê nhà khi xưa vẫn khó phai từ Đà Lạt hoàng hôn
trên bờ Thủy Tọạ của hồ Xuân Hương, hay bờ biển Thùy Vân hay Thùy Dương
của Vũng Tàu có sóng vỗ nên thơ có anh ngồi làm mẫu cho LC vẽ, phố xá xưa
của Sài G̣n trong kư ức vẫn hiện về đầy đủ và đẹp lắm. Hôm nay chiều thứ
sáu cuối tuần, tan sở làm LC ghé bờ sông Seine ngồi một ḿnh vẽ tranh, mà
h́nh như lại thiếu ngừơi mẫu, LC có nhắn với Nguyên là LC đang sắp xếp
sang Mỹ hai tuần, sẽ ghé hai nơi Houston và nam Cali.
Mong gặp anh, Nguyên và cả nhà nhé.
LC"
Tôi mỉm cừơi sung sướng huưt sao bài hát "Gọi người yêu dấu":
"Gọi người yêu dấu bao lần.
Nhẹ nhàng như gió th́ thầm.
Làn mây trôi gợi nhớ chơi vơi thương người xa xôi.
Gọi người yêu dấu trong hồn.
Ngập ngừng tha thiết bồn chồn.
Kỷ niệm xưa mơ thoáng trong sương cho ḷng nhớ thương..."
Cuối năm chúng tôi gặp nhau lại tại phi trường John Wayne khi tôi và vợ
chồng em gái tôi ra đón LC. LC và Nguyên ôm nhau mừng rỡ, xong Nguyên giới
thiệu Phương, trong khi tôi ch́a tay bắt tay LC. Tôi thấy nàng vẫn đẹp như
xưa, không thay đổi về cá tính, sự nhút nhát cố hữu, mang một chút ǵ của
sự dịu dàng, một chút ǵ của sự thành thật. Nguyên bảo cô chở LC về trú
ngụ tại nhà cô nghỉ ngơi và ngày mai chúng tôi cùng nhau đưa LC đi thăm đó
đây như phố Little Saigon, Disneyland và sau đó đi Las Vegas.
Chúng
tôi đến Las Vegas lúc 5 giờ chiều, trời mùa đông mặt trời lặn sớm, phố xá
nơi đây đă lên đèn. LC nói khẽ: "Las Vegas đẹp quá!". Chúng tôi đi chơi
kéo máy jackpot slot machine, xong đi ăn tối. Hôm đó có show ca hát của ca
sĩ Neil Diamond. Chúng tôi lấy vé vào xem, hội trường chật ních khán giả.
Tiếng hát Neil vẫn mạnh mẽ, vẫn lôi cuốn như xưa. Anh tŕnh bày các tác
phẩm top hits quen thuộc như: Sweet Caroline, Cracklin’ Rosie, I am I
said, You don’t bring me flowers, Hello again,... , He ain't heavy, he ' s
my brother ". Bài đầu và bài cuối là 2 bản nhạc cả LC và tôi đều thích.
Neil tâm sự trong cuộc đời ca hát anh cho ra 40 albums với hơn 100 bài hát.
Neil Diamond cất cao tiếng hát bài "America" trong tiếng reo ḥ vang dội
của khán giả khi chấm dứt xuất hát.
Ngày hôm sau tôi đưa LC ra biển Redondo, nơi có cầu Redondo pier, tại đây
có nhiều nhà hàng, có những quán bán đồ biển được luộc tại chỗ. Tôi đưa LC
đi dạo quanh cầu, khung cảnh biển khá đẹp, tôi chụp cho nàng khá nhiều
h́nh kỷ niệm. Nàng tỏ ư tiếc không có đem đồ nghề vẽ theo như thuở nào ở
biển Vũng Tàu. Chúng tôi vào ăn tối tại phía dăy cuối của pier. Ngó xuyên
qua cửa kiếng nhà hàng chúng tôi thấy bên trái là các cao ốc về hướng
Santa Monica, phía bên phải là phần biển âm u chạy dài ngàn khơi. Trong
khi ăn tối tôi bỗng hỏi:
"LC có một giây phút nào nghĩ về cái tên kỳ diệu của ḿnh không?"
Nàng bật cừơi hỏi ngựơc lại tôi:
"LC hỏi lại anh, có khi nào anh nghĩ về sự kỳ diệu của tên anh?"
Rồi cả hai cùng phá lên cừơi thích thú. Quả thật cả hai tên chúng tôi,
Linh Chi và Đỗ Trọng đều là những dược thảo kỳ diệu và bổ ích theo ngành
đông y hay dược khoa phân tích tây y. Tôi giải thích cho LC về hai dược vị
này:
"Linh chi là loại nấm, có tên khoa học là ganoderma lucidum, nấm mọc trên
các thân cây ở các rừng Á châu rất nhiều như Tàu, Nhật, Cao Ly, Việt Nam.
Công dụng dùng để trị các bệnh ung thư v́ có chứa chất germanium, trị bệnh
huyết thông như cao máu, nghẽn mạch máu, cao mỡ, nói chung là bệnh về tim
mạch v́ nó có chứa chất selenium. Ngoài ra nấm linh chi c̣n trị viêm, xưng,
lở loét v́ có chứa chất acid garnoderic. Trong khi đỗ trọng (DT) có tên
khoa học là eucommia ulmoides. DT là vỏ của một loài cây có h́nh thù như
sọc da rắn khi phơi khô làm thuốc. DT có chứa các chất albumin, tanin,
potassium, acid clorogenic, chất tinh dầu. Trong đông y, DT đụơc dùng chửa
các chứng cao máu, thận suy, di tinh, mộng tinh, đau nhức hay nhức mỏi".
LC tỏ hơi ngạc nhiên hỏi tôi học dược khoa bao giờ. Tôi nói với nàng từ
khi sang Mỹ tôi nhớ đến nàng, nhất là cái tên hi hữu của nàng rồi từ đó
theo đọc nhiều sách vở, tài liệu về y khoa dinh dưỡng đông y và dược thảo.
Nàng cười thêm và trêu chọc tôi:
"Vậy th́ ai may mắn làm vợ anh khỏi lo về vấn đề sức khỏe và dinh dưỡng,
đúng không?".
Tôi nắm lấy bàn tay phải của nàng đang đặt trên bàn xiết mạnh và hôn nhẹ
lên tay nàng trong bóng đèn mờ của nhà hàng. Nàng hỏi tôi tại sao vẫn chưa
có ngừơi t́nh. Tôi trêu lại:
" Vâng, anh có đấy chứ, ngừơi ta chỉ măi ở Pháp và cố t́nh quên anh mà
thôi!".
Khách bỏ về khá nhiều, tôi ngó đồng hồ và nói với LC: "Thôi ḿnh về nhé",
tôi khoác áo choàng cho LC trước khi ra bên ngoài, tiếng sóng vỗ liên tục
đập vào nghềnh đá dưới chân cầu, những cơn gió rít thôỉ hơi lạnh thấm vào
da thịt, LC nói khẽ: "Ồ, lạnh quá!", nàng đi tựa sát vào tôi, tôi choàng
vai d́u bước đến parking lot trên sân thựơng. Nh́n bờ biển bao la lần cuối
với khung cảnh thiên nhiên, trên trời có vạn ánh sao đêm, bên dưới pier có
sóng biển ŕ rào, phố xá giăng đèn, LC nói với tôi:
"Em thích nơi này, trời về đêm đẹp quá!".
Tôi yêu LC nhiều hơn khi xưng tiếng "em", thông thường nàng chỉ dùng tên
đông y dược thảo để xưng hô mà thôi, tôi nghỉ có lẽ nàng quen như vậy.
H́nh như với bạn bè nàng đă quen với cung cách xưng hô thân thiện như vậy.
Tôi chở LC về nhà Nguyên ở Mission Veijo, đưa nàng vào tận nhà, không quên
chúc nàng ngủ ngon. Tôi hôn nhẹ lên tóc nàng và bảo:
"Sáng mai anh nghỉ buổi sáng đưa LC ra LAX về Paris, OK?".
Nàng gật đầu xiết nhẹ tay tôi như lời cám ơn.
Hôm
sau tôi đến đón nàng, mọi hành lư sẵn sàng rồi đựơc chất lên xe, nàng đem
về nhiều thứ lỉnh kỉnh mà bạn bè, thân nhân của bố mẹ nàng từ Houston đến
Cali gửi biếu ông bà. Trời nam Cali hôm đó dù vào đông nhưng ánh nắng vàng
rực rỡ của Golden state đă lên như tiễn đưa LC. Nàng mặc chiếc jupe đen
với chiếc áo pullover thun vàng hoa cúc, đôi má nàng ửng hồng tự nhiên
không son phấn. Nàng trông tuyệt đẹp.
Hàng khách xếp hàng vào máy bay, tôi đưa nàng đến gần cổng vào phi cơ nàng
nói lời cảm ơn và hôn nhẹ lên má tôi, tôi đáp lễ và nhắn với nàng:
"Anh sẽ sang Paris hè sang năm nhé!".
Nàng hỏi: "Anh sang tháng nào?"
Tôi đáp: "Có thể tháng sáu của Nguyên Sa".
Nàng cười ngầm hiểu ư tháng lăng mạn mà thi sĩ Nguyên Sa hay đưa vào thi
ca của ông. Máy bay cất cánh, tôi ra về trong niềm vui sướng và nhiều ư
nghĩ mông lung trong đầu.


Tôi
bước xuống phi trường Charles de Gaulle, nàng và mẹ nàng ra đón. Tôi bắt
tay LC và chào hỏi sơ giao mẹ nàng. Bà vẫn phảng phất nét quư phái dù đă
đứng tuổi. LC chỉ tôi ra ngả lấy hành lư. Tôi xách chiếc valise to, nàng
phụ tôi xách chiếc cặp Samsonite nhỏ. Ngồi trên chiếc Peugeot trắng của
nàng, tôi ngó cảnh Paris mà lần đầu ghé đến. Ngày xưa học sách giáo khoa
Pháp văn, bọn học tṛ vẫn được đọc về những danh lam thắng cảnh như tour
Eiffel, điện Versailles, Arc de Triomphe, bảo tàng viên Louvre, nhà thờ
Notredame,... LC hứa sẽ đưa tôi đi xem hết. Tôi đưa nàng địa chỉ nhà ngừơi
bác họ tôi ở Anthony, tức vùng ngoại ô Paris. Bác gái đă chuẩn bị nồi phở
khá to cho ít nhất bảy tám ngừơi ăn. Hai ông bà rất hiếu khách, tính vui
vẽ. Hai bác chỉ có mỗi một cô con gái, tên Quỳnh Lam, đang học dựơc khoa,
chưa lập gia đ́nh ở chung. Ngày xưa tôi c̣n nhớ cô bé tí này học trường
mẫu giáo Aurore ở Sài G̣n, đựơc gia đ́nh gọi là bé Bambi. LC phụ Quỳnh Lam
đưa thức ăn ra bàn, mọi người ăn uống, tṛ chuyện rất vui vẽ.
Tôi quen thú thức dậy sớm v́ bên Mỹ tôi
thường chạy bộ. Nhưng hôm nay tôi dậy và cùng nói chuyện với hai bác tôi.
Cả chục năm không gặp nhau th́ bây giờ có quá nhiều đề tài trao đổi lẩn
nhau. Tôi được điện thoại LC gọi sang mời tôi và Quỳnh Lam ra phố Tàu ăn
điểm tâm. Chúng tôi vào một nhà hàng Tàu tại quận 13 ăn tỉm sắm. Thức ăn
Tàu tỉm sắm từ Quảng Đông, Hong Kong, Chợ Lớn, hay các Chinatown ở Mỹ và
bây giờ là Paris vẫn có những món cơ hữu giống nhau.
Chúng
tôi ghé công trường Trocadero chụp một ít h́nh, rồi ghé tour Eiffel. Ngọn
tháp cao sừng sững nguy nga là một biểu tượng cho nền văn minh của người
Pháp, tượng trưng cho kinh đô ánh sáng Paris. Tháp được ra đời năm 1889,
nghiă là gần một thế kỷ khi tôi sang, dù không dài bằng chiều dài thời
gian của Kim Tự Tháp hay Vạn Lư Trừơng Thành, nhưng nó dài hơn tuổi thọ
của nhiều người. Ngọn tháp sắt này cao 300 thước, toạ lạc trong quảng
trường Champs de Mars bên bờ sông Seine. Tháp được chia ra làm ba tầng, từ
trên tầng thứ ba được bao bọc bởi kính, chúng tôi nh́n thấy cả một kinh
thành Paris rộng lớn. Rời tour Eiffel chúng tôi đi dọc bờ sông và Quỳnh
Lam đề nghị lấy Tàu Ruồi. Tàu chạy trên ḍng sông Seine, cái tên tức cười
của nó v́ con tàu có h́nh dáng của một chiếc hộp nhốt ruồi trong các pḥng
thí nghiệm sinh hóa. Tàu chạy quanh sông Seine một ṿng thư thả độ 45 phút
chúng tôi cùng ngắm cảnh vật chung quanh, trong khi người hướng dẫn viên
giải thích từng nơi ghé qua như tour Eiffel hay điện Louvre, những thắng
cảnh hai bên bờ sông làm tôi nhớ lại chuyến du hành bằng tàu quanh khu
rừng Amazon thu hẹp tại Disneyland được các hướng dẫn viên lanh miệng diễn
giải liên hồi.
Xong chúng tôi đi viếng khu Arc de Triomphe gần công trường Champs-Élysées,
xong ghé nhà thờ Notredame, nơi tôi được biết qua phim "Le bossu de
Notredame", nói về một thanh niên bị tật bẩm sinh lưng gù yêu một thiếu nữ
gypsie xinh đẹp, người gù tên là Quasimodo và cô gái gypsie tên là
Esmeralda. Phim được quay theo danh tác của văn hào Victor Hugo. Đi một
ṿng bên trong nhà thờ cổ kính này tôi nhớ lại nhà thờ Đức Bà Sài G̣n khi
xưa vẫn tiềm tàng trong kư ức. Chỉ tiếc là việc trùng tu những nhà thờ,
chùa chiềng hay lăng tẩm của VN không được lo kỹ lưỡng những công tŕnh
văn hóa quư báu như các nước tiền tiến như Pháp này.
Hai
hôm sau LC đưa tôi đến thăm bảo tàng viện Louvre ở quận nhất, gần
Notredame và tour Eiffel. Chúng tôi hai đứa xếp hàng lấy vé vào cửa. Tôi
bảo LC nhớ đưa tôi xem bức danh họa La Joconde của Leornardo Da Vinci.
Nàng đưa tôi đến, tôi ngắm nh́n nàng Mona Lisa. LC kể tôi nghe sơ qua về
nguồn gốc của ngừơi thiếu phụ người Ư này. Leonardo khởi sự vẽ bức họa này
năm 1503 tại Milan. Mất gần 4 năm ông mới hoàn tất xong với nhiều lần sửa
chữa cho như ư. Xuất xứ hay nguồn gốc thật sự của người thiếu phụ này vẫn
là điều bí ẩn, những giả thuyết bàn tán mà thôi, mà chưa có ai nắm vững nó,
ngoại trừ chỉ có chính tác giả mới biết sự thật. Tuy nhiên Leonardo vẫn
giử kín cho đến khi ông tạ thế. Chính v́ sự bí ẩn đó tạo bức tranh có giá
trị khác lạ bên ngoài nét nghệ thuật được phối trí điêu luyện trên bức
tranh. Người ta phỏng định bức tranh này mang thời giá hai triệu rưỡi mỹ
kim. Khi xưa các sử gia về hội họa đă vài đặt nghi vấn xung quanh nàng
kiều nữ Mona Lisa trong tranh, mà có thời vua Napoleon đem trưng tranh
Mona Lisa trong pḥng ngủ của ḿnh. Các nghi vấn về người đàn bà này rằng
th́ là có người cho rằng đó chính là người vợ quả phu. Isabella of Aragon
của công tước Milan, có người cho là người t́nh nhân của Giuliano dé
Medici, người cho là vợ thứ ba của thương giàu có về ngành buôn bán lụa
Francesco di Bartolommeo di Zanobi del Giocondo. Người ta phỏng đóan nàng
chừng 24 tuổi khi được vẽ trong tranh. Dù ǵ đi nữa nguồn gốc của Mona
Lisa vẫn không rỏ ràng. Tên tiếng Pháp của bức tranh là La Joconde, được
dịch từ tiếng Ư La Gioconda, được hiểu như người đàn bà nhẹ dạ, lẳng lơ mà
Leonardo đă diễn tả khéo léo qua nét vẽ từ miệng cười đến đôi mắt hầu như
thu hút hay tạo sự chú ư của người xem tranh. Viện bảo tàng này thực quá
rộng, ngăn nắp, có nhiều từng, chia làm nhiều khu vực, nhiều cánh khác
nhau. Chúng tôi hầu như chỉ bỏ th́ giờ xem tranh quư giá, v́ cả LC và tôi
đều thích hội họa, duy có điều khác nhau giữa hai đứa là nàng rất khéo tay,
vẽ đựơc tranh, c̣n tôi, ôi thôi vụng về lắm, chỉ xem tranh người ta vẽ mà
thôi. V́ nghiên cứu nhiều về hội họa, nàng bàn luận và giải thích tiếp
trong lúc chúng tôi đi xem. Nàng cho thấy một kiến thức tổng quát về các
trừơng phái hội họa như: Lập thể (Cubiste), Ấn tượng (Impressioniste),
Biểu hiện (Expressioniste), Siêu thực (Surrealiste) hay Dă thú (Fauviste).
Fauviste chủ trương những nét vẽ rất thiên nhiên, thô sơ, trường phái này
bắt nguồn từ phái hậu ấn tượng, có những khuôn mặt sáng giá như Paul
Gauguin, Albert Marquet, André Derain. Surrealiste có Jean Arp, André
Masson, Pierre Roy, Paul Delvaux. Họ vẽ những bức họa như giấc mơ chỉ hiện
hữu trong tiềm thức. Expressionste có Amadeo Modigliani, Franz Marc,
Wassily Kandinsky. Impressioniste có Claude Monet, Édouard Manet, Pierre
Auguste Renoir. Riêng trừơng phái tranh lập thể Cubiste có 2 danh họa giới
thưởng ngoạn tranh nghệ thuật thường biết đến là Pablo Picasso và Georges
Braque. Nét vẽ cubiste chú trọng đến không gian hai chiều trên nền phẳng.
Đầu thế kỷ 20 Picasso hợp với Georges Braque sáng lập ra trường phái này.
Sau đó có các họa sĩ khác gia nhập vào như Henri Matisse, Paul Cézanne,...
Năm 1907 Picasso cho ra bức họa nổi danh Les demoiselles d'Avignon, 1911
Ma Jolie, 1912 Verre et botelle suze,... Ông học vẽ tại trường nghệ thuật
Barcelona kể từ năm 1895 và tỏ ra rất có năng khiếu trong nét vẽ trời ban.
Chúng
tôi rời điện Louvre, LC chợt nói v́ hôm nay là ngày Fête de Musique tức lễ
Âm Nhạc 21/6 một truyền thống độc đáo của nước Pháp, nên rất là vui. Paris
có nhiều nơi người tụ tập ca hát, dân tứ xứ ở Paris có dịp trổ tài hay
khoe trương văn hóa nước ḿnh, từ những anh gốc Phi châu, Trung đông, Ấn
độ như các hindi guru đến các nghệ sĩ lang bạt giang hồ gypsies từ các xứ
Đông Âu, nam bắc Mỹ châu, họ ca hát, họ nhảy múa hay biểu diễn các khí cụ
âm nhạc thật lạ tai.
Chúng tôi ghé vào khoảng đường gần bờ sông Seine và tour Eiffel, các họa
sĩ thuộc các trường hội họa ngồi vẽ tranh như một đại hội văn hóa. Trong
xă hội con người ngoài các yếu tố vật chất ra những nhu cầu về tinh thần,
về văn hóa sẽ đem nhân loại xích lại gần nhau hơn, thông cảm nhau hơn qua
ng̣i bút, qua nét vẽ, qua lời ca hay tiếng đàn,... mà tôi đang suy nghỉ về
ư nghiă của ngày lễ hội hôm nay, LC móc từ trong ví ra một bản nhạc bài
"Paris có ǵ lạ không em?", một tác phẩm đă đánh dấu nhạc sĩ Ngô Thụy Miên
về Paris qua thể điệu nhạc valse êm ái và LC nói những lời dặn ḍ mà tôi
không nghe rơ, nàng dặn anh chàng lăng tử người Ba Lan đang chơi accordeon.
Đoạn chàng Ba Lan dạo tiếng đàn réo rắt LC cất tiếng ca rất tự nhiên rồi
xoay gót chân luân vũ điệu valse, những bộ khách đi ngang tụ họp lại vỗ
tay ḥa theo điệu nhạc, tôi hoà nhập vào bằng những tiếng vỗ tay nhịp
nhàng và tôi diễn dịch ư nghiă bài hát cho một cập vợ chồng người Úc và
một nhóm sinh viên Nhật từ Tokyo sang Paris du lịch. Xong bài hát này,
chàng Ba Lan hỏi LC có thể hát một bài khác không, nàng xoay tờ copy bản
nhạc sang trang kia là nhạc phẩm thứ hai là "Từ xa em", một khúc nhạc
valse khác thật tuyệt vời của nhạc sĩ Phạm Anh Dũng. Lần này nàng dang tay
ch́a ra mời tôi cùng cất bước với nàng qua bài hát luân vũ nhịp điệu 3/4
này. Tôi rất quư nét hồn nhiên nhưng rất nghệ thuật chân thật này của LC.
Tiếng vỗ tay khuyến khích chúng tôi của cặp vợ chồng người Úc, của các
sinh viên Nhật bản và du khách thập phương tiếp tục, tiếng huưt gió, reo
ḥ vang dội. Vài cặp t́nh nhân vui theo ra cất bước trên vỉa hè hay trên
những lối đi của kinh thành Paris nàỵ Đây có lẽ là một trong những h́nh
ảnh đáng nhớ nhất của tôi về LC và Paris. Khi điệu nhạc chấm dứt tôi không
quên gửi lên má LC một nụ hôn thật nồng nàn của ngày vui âm nhạc.
Ngày hôm sau LC đưa tôi đi xem cung điện
Versailles lộng lẫy với lối kiến trúc cổ kính. Chúng tôi xếp nối đuôi theo
hàng dài vào mua vé. Điện Versailles nằm trên lô đất rộng 17 ngàn
hectares, có 400 tượng bằng cẩm thạch và đồng và 1400 ṿi phun nước. Điện
có 1300 căn pḥng lớn nhỏ với 67 cầu thang, 1252 ḷ sưởi công thêm 188 căn
pḥng của hoàng gia ở. V́ là danh lam cổ truyền của thế giới, nên vào năm
1972 cung điện Versailles đựơc xếp vào di tích lịch sử của thế giới.
Mùa hè đến Quỳnh Lam nghỉ hè, cô có người bạn
trai ngừơi Pháp gốc miệt nam vùng biển nước Pháp lên Paris học y khoa, anh
ta tên Jean rủ Quỳnh Lam, LC và tôi về thăm quê hương anh ta. Chúng tôi
rất hoan hỉ nhận lời mời. Vă lại đây là điều may mắn cho tôi, trước đây
tôi nghe nói về nét đẹp vùng biển phía nam Pháp mà tôi rất muốn được đến
thăm viếng. Bốn người chất đồ lên chiếc van màu xám bạc của chàng sinh
viên y khoa, lúc nào cũng nói liền miệng, rất vui tính, hay khôi hài. Jean
giử tay lái cho tuyến đường Paris và Biarritz độ 900km. Gia đ́nh Jean có
căn villa nghỉ mát ngó ra biển tại Biarritz, nhưng bố mẹ lại ở một thành
phố biển khác là Narbonne. Bố của Jean là một bác sĩ có pḥng mạch tại địa
phương này. Từ Paris xuống Narbonne khoảng 800Km, nghiă là gần hơn xuống
Nice, khoảng 1000Km. Tuy nhiên Biarritz và Narbonne lại cách xa nhau
khoảng 9 tiếng lái xe v́ Biarritz nằm gần bờ Đại Tây Dương ngó sang thành
phố New York, trong khi Narbonne tọa lạc ở trong vùng Địa Trung Hải, bên
kia bờ là đảo Cécile của nước Ư.
Chúng tôi đến nghỉ tại nhà nghỉ mát tại
Biarritz trứơc theo sự sắp xếp của Jean, v́ Félix em trai của Jean và cô
bồ hẹn Jean ở đó rủ đi lặn scuba diving, sau khi ở đây 3 ngày th́ chúng
tôi sẽ cùng lên đường sang Narbonne 3 ngày nữa để Jean thăm cha mẹ trước
khi đưa chúng tôi trở lại Paris.
Không khí Biarritz dễ chịu của vùng biển thật thơ mộng. Hôm sau chúng tôi
lên thuyền ra khơi để cho hai anh em Jean và cô đầm Monique lặn thám hiểm
đáy biển. Tôi quan sát ba thợ lặn này trong trang bị người nhái và họ xem
xét lần cuối b́nh hơi, dao găm, súng săn cá và đèn rọi của thợ lặn. LC đùa
hỏi tôi có tháp tùng ba người thợ lặn này không. Tôi cười kh́ và trả lời
nếu nhảy xuống biểu sâu như vầy tôi sẽ lặn lâu nhất, ba ngày sẽ trồi lên.
LC và Quỳnh Lam cười hiểu ư tôi. Tôi nói tiếp tôi chỉ bơi trong cạn hay
piscine thôi. Đại dương không là nơi tôi liều lĩnh. Khi các tay thợ lặn
nhảy xuống biển sâu, tôi thấy Quỳnh Lam vác ghé bố xếp ra phía trước mũi
tàu đọc sách. Trong khi LC vào trong bếp chuẩn bị thức uống và các thức ăn
nhẹ, nàng bày ra trên chiếc bàn nhỏ. Chúng tôi mặc đồ tắm, đội mũ và đeo
kiến mát chống nắng. Nàng trao tôi ly nước nho và điă nhỏ bánh bông lan
nàng làm ở nhà mang theo. Tôi ăn loại bánh này khi nàng sang Cali, LC đă
trổ tài nướng bánh này, nghe nói công thức của người bắc Phi, bánh bông
lan có thêm nho, mứt cherry đỏ và chà là cắt nhỏ, bánh rất ẩm ướt do nhiều
bơ, nhưng v́ vấn đề pḥng ngừa sức khỏe nàng thay bơ bằng đầu olive. Tôi
nói với LC tôi rất thích loại bánh này. Nàng là một phụ nữ cẩn thận và
thường để ư, lo lắng. Có lần tôi nói với nàng cái sở thích của tôi là uống
nước nho, ăn bánh bông lan nho, bánh ḿ nướng với fromage Camembert và
trái dâu tươi strawberry, nh́n trên bàn tôi thấy có đủ các thứ mà tôi
thích ăn.
Tôi
lấy ống nḥm xem phía xa xa là bờ biển chạy dài, có hàng cây xanh trên cát
trắng, những ḥn đá khổng lồ nhân tạo chênh vênh gần bờ. Trên không trung
những cánh hải âu cất tiếng gọi đàn. Tiếng nhạc từ chiếc máy cassette với
nhạc phẩm "Bay đi cánh chim biển" rất trùng hợp với khung cảnh. Bên cạnh
LC là quyển sách La Nausée do Jean Paul Sartre viết. JP Sartre là người
khai sinh ra thuyết hiện sinh sau thế chiến thứ hai tại Âu châu. Người ta
thấy nhiều nhà văn khác theo hệ phái này như Friedrich Nietzche,...,
Albert Camus. Tôi và nàng trao đổi quan điểm hiện sinh của các tác giả và
André Breton của hệ phái siêu thực surrealisme. Luận lư siêu thực đă đi xa
hơn văn chương khi các họa sĩ du nhập sự vô thức vào chủ đề văn, thơ hay
họa, trong khi thuyết hiện sinh lại đặt nền tảng trên ư thức hay lư trí
của sự phán đoán. JP Sartre đưa ra quan niệm chính trực giác do sự nhận
thức là động lực điều khiển sự vô thức.
Th́nh ĺnh Monique trồi lên mặt nứơc, sau đó là Félix và Jean, họ mang lên
hai con cá ngộ thân dẹp thật to. Jean cho tàu trở vào bờ.
Chiều
hôm đó chúng tôi ghé nhà hàng của cha mẹ Monique ăn tối theo lời mời của
Monique. Nàng cho người làm hai con cá mà Jean và Félix săn đựơc sáng nay.
Gia đ́nh Monique là người xứ khác đến Pháp làm ăn rồi định cư luôn tại đây.
Cha nàng là gốc Hy Lạp, mẹ nàng gốc Ư, nên các món hải sản của nhà hàng
gồm thức ăn Hy Lạp, Pháp và Ư. Chúng tôi khởi sự ăn các món khai vị và
uống rượu vang trắng mà bố của Monique đem mời chúng tôi, ông bặt thiệp,
vui miệng khoe chai rượu mời ông đă mua bên Ư cách đây 5 năm hôm nay Jean,
Félix và Monique, những sinh viên y khoa từ Paris về ông muốn ăn mừng, ông
không quên nói thêm ông mừng thực khách của gia đ́nh ông là Quỳnh Lam, LC
và tôi. Chúng tôi vui vẻ cụng ly nhau. Khung cảnh đèn vàng mờ nhạt của nhà
hàng, cảnh biển phía trước mặt, tiếng sóng vỗ liên hồi nhắc chúng tôi đây
là nhà hàng cạnh bờ biển. Ngồi đây mà hồn tôi quay về dĩ văng của cả chục
năm về trước ăn uống đồ biển trong nhà hàng Hồng Phượng ngoài Băi Sau,
Vũng Tàu. Vâng, tôi vẫn nhớ về quê hương, nhớ quê nhà nhiều lắm, lắm...
Hết
3 ngày nghỉ ngơi tại Biarritz, bọn tôi chuẩn bị đi về Narbonne thăm gia
đ́nh Jean và Félix. Monique và Félix lái chiếc Jaguard mui trần chạy đi
trước, Jean chở ba người bạn Việt Nam đi sau. Jean và Félix thỉnh thoảng
liên lạc với nhau qua hệ thống CB, khi đó điện thoại di động chưa có. Đoạn
đường từ Narbonne đến Biarritz th́ khá xa, chúng tôi đi xa lộ mất độ 9
tiếng lái xe, đi theo chiều ngang từ hướng tây sang đông của nước Pháp.
Phía băng sau LC mệt nhoài nên ngủ thiếp đi, tôi kê chiếc gối cho nàng tựa
đầu vào. Tôi ngó hai bên vệ đường với cảnh phố phường, rồi cảnh biển,
tiếng th́ thầm trao đổi nhau giữa Jean và Quỳnh Lam về việc học và những
chuyện bên lề về sở thích của cha mẹ hai bên, rồi tôi cũng thiếp đi.
Xe
dừng trước nhà ba mẹ của Jean. Đây là căn villa nằm lưng đồi có con dốc
thoai thoăi, trước nhà có hàng bông giấy nở hoa, quanh đây có nhiều bông
hoa đủ màu thật đẹp mắt như hoa mười giờ, các loại cúc đủ màu, tulipe và
bông xứ,... Người em gái út của Jean là Yvette ra đón chúng tôi. Chúng tôi
đựơc hướng dẫn vào lấy pḥng tạm trú.
Sau đó chúng tôi ra ngoài thăm phố xá và cảnh
vật Narbonne. Nhà bố mẹ Jean cách biển 10 phút lái xe đi về hướng đông.
Chúng tôi ghé ăn tối trong một nhà hàng Tàu. Bữa ăn có tôm hùm, nghêu ṣ,
và có những hải vị cùng với rượu vang. Người Pháp h́nh như không thể sống
thiếu rượu vang.
Ánh mặt trời đă nhẹ lên bên khung cửa kiếng, tôi choàng người ngồi dậy.
Ngoài sân tiếng chim ríu rít đón chào ngày mới hay đón chào sự hiện điện
của tôi ở nơi này. Ngủ tại Narbonne đêm đầu tiên tôi có cái cảm giác mới
lạ. Một niềm vui lâng lâng, nhẹ nhàng của vùng biển Địa Trung Hải. Yvette
rủ chúng tôi đi picnic ngoài bải tắm. Chúng tôi t́m chổ cắm dù, trải ghế
bố xếp ra trên bải cát trắng, mấy anh em Jean và Quỳnh Lam đi thay đồ tắm.
LC và tôi quyết định ở trên bờ v́ nàng sợ cái rít của muối biển. Nàng thoa
kem chống năng, nàng trao tôi tube kem. Chúng tôi xuống biển tương đối sớm
biển chưa đông người. Tựa lưng vào ghế bố, chúng tôi vừa ngắm biển, vừa
nói chuyện, LC trao tôi ly nứơc nho đầu ngày và khúc bánh ḿ jambon nhỏ,
nàng cũng ăn tương tự như vậy, tiếng nhạc năy giờ tuôn ra từ chiếc máy
cassette xách tay những khúc t́nh ca về biển khá quen thuộc như: Je fait
l'amour avec la mer, J'ai entendu la mer, L'avantura, L'amour est toujours
en vacances, Jamaica farewell mà sau này nhạc sĩ Đức Huy dịch bản Việt ngữ
"Lời yêu thương", ... Rồi tôi được nghe một t́nh khúc khác của Đức Huy mà
tôi rất thích là "Bay đi cánh chim biển":
“... Bay đi cánh chim biển hiền lành
Chẳng c̣n giấc mơ nào để giữ đôi chân em
Chẳng c̣n tiếng nói nào để trách cứ em
Khi mặt trời đậu trên đôi cánh vỗ
Giấc mơ của tôi và cánh chim hải âu
Bay ra khỏi tầm tay và tiếng sóng..."
Trên
nền trời xanh quang đăng, đôi chim hải âu lượn cánh bên nhau, tôi nắm tay
LC chỉ lên hướng trời cao đó. Phải chăng khi t́nh yêu đến, ḷng người cũng
như hải âu trao nhau tiếng hót như khát vọng yêu đương bên bờ biển mộng mơ
lăng mạn nhất cho những đôi t́nh như chúng tôi? Trước 75, tôi vốn thích
bản t́nh ca bất hủ của Christophe là "J'ai entendu la mer", và hôm nay tôi
và LC tay đan tay bên bờ biển Narbonne đầy thơ mộng để nghe tiếng sóng vỗ
th́ thầm, hay để hai đứa tôi trao nhau những lời thỏ thẻ t́nh tự của chúng
tôi qua ba miền đại đương từ biển Vũng Tàu, biển Nam Cali rồi đến vùng
biển nam Pháp. Chiều đến chúng tôi rời biển trở lại ngọn đồi nhà ba mẹ của
Jean. Yvette hỏi tôi có thích nước Pháp không? Tôi cười và trả lời tôi rất
thích nước Pháp v́ có nhiều bờ biển thơ mộng mà tôi được ghé qua, từ
Biarritz đến Narbonne, và tôi thích nhất nước Pháp v́ nơi đây có Linh Chi.
Tất cả cùng cười.
Hôm
sau Linh Chi, Quỳnh Lam và Yvette rủ tôi đi xem ciné tại Narbonne một cuốn
phim do Mỹ quay. H́nh như người Pháp vốn quen thuộc với nghệ thuật thứ bảy
hay những phim từ Hollywood gửi sang. Đây là phim t́nh cảm lăng mạn giữa
nhân vật nam người Mỹ, có người yêu là dân Pháp. Phim có đề tựa Anh ngữ là
"The Other Side of Midnight", dưới tựa đề Pháp ngữ "Minuit a deux faces".
Nam tài tử gốc Ư Ralf Vallone thủ vai chính là ông triệu phú giàu có, nữ
diễn viên nữ là Marie France Pisier. Chuyện phim no’i về đời sống một cô
gái quê Pháp lên thủ đô Paris để kiếm việc, rồi bị ông chủ sở khanh dụ dỗ
mang bầu, rồi cô phải phá thai. Sau nỗi buồn đó cô gặp người yêu là một
chàng phi công Mỹ trước đây tham dự đệ nhị thế chiến. Viên phi công này
chỉ lợi dụng cô ta và rồi lại bỏ rơi cô. Chàng phi công trở về Mỹ và biến
mất theo bóng chim tăm cá. Cô ta làm đủ mọi cách để sống sót ở Paris. Mục
đích là cô nàng phải t́m ra cho được người phi công mà cô yêu. Kế đến cô
cặp bồ với ông triệu phú và được ḷng ông này. Trong thâm tâm cô vẫn theo
đuổi h́nh bóng chàng phi công. Sau khi có tiền bạc giàu sang và có quyền
lực do Ralf Vallone mang lại, cô cho người truy t́m được chàng phi công
hiện sống tại Mỹ, cô tung tiền mua chuộc làm cho chàng ta mất việc ở Mỹ.
Cuối cùng viên phi công phải chấp nhận về làm phi công riêng cho công ty
của Vallone. Thế rồi cuộc t́nh của cô và chàng phi công Mỹ lại tiếp tục...
Vallone khám phá ra vợ ḿnh đang dan díu với viên hoa tiêu mà Ralf thuê,
Ralf t́m cách trả thù hai người. Người vợ của chàng phi công trong chuyến
đi chơi du thuyền bị mất tích ngoài khơi Hy Lạp. Ralf đổ lỗi cho cặp t́nh
nhân đă giết và thủ tiêu bà ta. V́ không t́m được xác th́ không thể buộc
tội được cặp t́nh nhân v́ nàng đă thuê một luật sư biện hộ rất tài giỏi.
Nhưng vị luật sư này đă thầm kín yêu nàng. Ralf làm áp lực ép luật sư phải
bắt buộc cặp t́nh nhân phải tự thú để được nhẹ án, ngờ đâu theo luật lệ Hy
lạp qui định một khi tự thú tức là chấp nhận có tội, mà không cần bằng
chứng chứng minh. Cuối cùng cặp t́nh nhân bị đem ra pháp trường xử bắn.
Phim kết thúc cuốn phim chiếu cảnh Ralf đến một tu viện, hỏi các soeurs về
một nữ tu bị mất trí nhớ, và người đó lại vợ chàng phi công đă được cứu và
đưa vào ẩn náu trong tu viện mà Ralf đă âm thầm đem nàng đến tá túc. "Minuit
a deux faces" đă nói lên sự bất công của sức mạnh của đồng tiền và sự trả
thù ghê gớm trong t́nh yêu. Trên đường đi ra khỏi rạp hát chúng tôi nắm
tay nhau, LC đùa khi hỏi có thực đàn ông ở Mỹ giống chàng họ Sở phi công
kia không. Tôi đáp phim chỉ ám chỉ đúng với ngừời Mỹ thật thôi, c̣n người
Mỹ gốc Việt hay Mỹ có giấy nhập tịch th́ rất hiền, hiền như ông bụt thôi.
Nàng cười.
Thế
là hết những ngày về thăm vùng biển mạn nam nước Pháp. Chúng tôi trở lại
Paris. Chiều tối kinh đô Paris lên đèn thật lộng lẫy. LC tính ngày và chợt
nói khẽ rằng tôi chỉ c̣n 2 ngày lưu lại Pháp thôi. Trong nét thoáng buồn
hiện trên gương mặt thật quyến rũ của nàng, tôi hỏi nàng nếu tôi về lại Mỹ,
th́ nàng có buồn không. Trong bờ mắt long lanh nàng gật đầu, tôi cuối
xuống hôn lên môi nàng. H́nh như nàng bỡ ngỡ và nàng trông thật sự xinh
xắn trong cá tính của người phụ nữ Việt Nam e ấp. Nàng đưa tôi về nhà bác
tôi ở Anthony và không quên dặn ngày mai nàng đến đưa tôi đi phố Paris lần
cuối và sẽ ghé cạnh sông Seine để nàng họa cho tôi một tác phẩm kỷ niệm.
Chúng tôi ra khu phố Tàu tại quận 13, bước vào nhà hàng Việt tọa lạc trong
khu thương xá có đông cửa hiệu Việt Nam, LC rất thích các món cá nên nàng
kêu món chả cá Thăng Long, tôi ăn món bún chả Hà Nội. Tôi thích thú được
nghe nhạc Việt và thực khách dùng tiếng Việt quanh đây. Rời khu Chinatown,
LC đưa tôi đi xem sách. H́nh như người Paris thích đọc sách, chúng tôi vào
một hiệu sách lớn, người đông mà sách cũng nhiều. Nàng ghé hàng sách văn
chương. Tôi chết ngộp trong rừng sách, các tác giả nổi tiếng vê văn chương
hay thi ca cổ điển là tôi chú ư hơn cả, nào là Charles Pierre Baudelaire,
Alphonse Lamartine, Félix Arvers, Pierre Ronsard, Arthur Rimbaud, Paul
Verlaine, Jacques Prévert, Francois René Chateaubriand,... tôi chọn quyển
thi tập Histoires của Jacques Prévert, người đă có được danh tiếng lẫy
lừng qua các tác phẩm nghệ thuật của ông cùng với kịch bản chuyển thể từ
tác phẩm Notredame de Paris của Victor Hugo. LC chọn cho tôi thi tập
"Romances sans paroles" của Paul Verlaine. Tôi thích những án thơ t́nh
lăng mạn của nhà thơ này.
Ra đến bờ sông Seine tôi vác chiếc máy
cassette xách tay, ghế bố, khung giá vẽ, LC mang hộp đồ nghề và mấy thứ
lỉnh kỉnh khác. Tôi kể chuyện xưa với nàng là khi trước ở Đà Lạt tôi treo
h́nh LC vẽ tôi tại bờ hồ Xuân Hương trong pḥng ngủ của tôi. Giờ đây nàng
muốn vẽ tặng tôi bức họa mới, nhưng lần này tại ḍng sông Seine thơ mộng
của Paris. Rồi th́ pḥng ngủ của tôi tại Mỹ sẽ được trang trí với bức
tranh nàng vẽ. Tôi ngồi xuống hứơng phía ḍng sông, mắt đăm chiêu về chân
trời xa xăm, nàng vẫn chăm chú vẽ. Tiếng nhạc dương cầm thu thanh những
lần LC đă đi tŕnh diễn đó đây. Nàng cho thu lại tặng tôi cuộn băng này.
LC thích nhạc cổ điển tây phương, nhất là bài Concerto số 21 của Mozart
viết cho piano hay Concerto số 1 của Fredéric Chopin viết cho piano và
nhiều lắm tôi nhớ không hết. Ngoài ra LC hay hát bài Ave Maria của Charles
Gounod và Johann Bach, nàng c̣n đàn vĩ cầm bài ca này, rồi Ave Maria của
Franz Schubert viết cho violon. Hết cuộn băng cassette cũng là lúc nàng
xong những nét vẽ cuối cùng. Như thói quen xưa nàng xoay một ṿng tươi
cười bảo xong rồi. Tôi nh́n h́nh ḿnh trong h́nh với ḷng ái mộ tài hội
họa vẽ tranh của LC cho tôi, thích thú được nghe những bản dương cầm hay
vĩ cầm mà nàng đă cho thu băng tặng. Tôi đứng lên khen h́nh vẽ và không
quên gửi nụ hôn cảm ơn nàng.
Chiều
ngày hôm cuối tại Paris v́ sáng mai 10 giờ sáng tôi phải ra sân bay về lại
Mỹ, LC mời tôi đến một nhà hàng Pháp mà nàng ưa thích thức ăn tại đây. Đó
là nhà hàng có nhiều nét đặc thù mang tên La CourtePaille, bên trong được
trang trí rất mỹ thuật ,tất cả đều bằng gỗ đánh bóng vernis. Nồi, niêu,
xoong, chảo đều treo trang trí đến tận nóc nhà. Chung quanh tường th́ được
bọc gỗ để mấy bức tranh và giỏ hoa rất thu hút nhăn quan thẩm mỹ. Giữa nhà
hàng là một ḷ sưởi đốt củi thật to và thức ăn đều nướng trên ḷ thật thơm
lừng và tôi ngửi thấy hương vị rất đặc biệt rất Tây. LC gọi món thịt ḅ
nướng cho tôi, trong khi nànng ăn món cá nướng, đi kèm với món chính là
món khoai tây lùi dưới than mà tôi chưa ăn tại Mỹ bao giờ. Khi bóc vỏ
khoai ra, mùi khoai vừa chín thật bùi và thơm ngon. Điều hấp dẫn là khoai
vẫn c̣n ẩm, không bị khô. Chúng tôi dùng bửa với rượu vang đỏ. Thịt ḅ
barbecued mà đi kèm với vang đỏ thật là đúng điệu. Nơi này thực khách được
nghe nhạc êm dịu du dương, nhẹ nhàng rót vào tai. Hôm cuối cùng này chính
ḷng tôi dâng những quyến luyến, những nuối tiếc cho thời gian đă trôi quá
nhanh. H́nh như trong tâm trí của tôi vẫn lưu luyến với Paris. Trên đường
LC đưa tôi về, tôi ngó quanh nét đẹp Paris về đêm, bỗng LC cho tiếng
cassette lớn hơn bản t́nh ca bất hủ "Để quên con tim". Tôi cảm nhận nhạc
sĩ Đức Huy trong lúc này ông đă hiểu tôi hơn ai hết khi sáng tác khúc nhạc
thật tuyệt vời dễ thương với những lời ca xao xuyến tim tôi.
LC và Quỳnh Lam cùng Jean đưa tôi trở lại phi cảng quốc tế Charles de
Gaulle. Chúng tôi bước vào pḥng tiễn đưa, LC đến quầy vé check in hàng lư.
Tôi gửi cái valise lớn vào phi cơ trứơc, và xách chiếc cặp Samsonite theo
trên tay. Tôi nh́n LC trong chiếc áo chemise lụa màu blue và jupe đen tôi
khen sự trang phục của nàng, và tôi cố nói chuyện thật nhiều với Jean,
Quỳnh Lam và LC. Tôi muốn cám ơn ba ngừơi đă cho tôi niềm vui trọn vẹn với
kinh đô Paris, với bờ biển Biarritz gần Đại Tây Dương và Narbonne gần Địa
Trung Hải. Tiếng loa phóng thanh gọi tất cả hành khách vào phi cơ lần thứ
hai. Tôi yêu cầu LC nhắm mắt lại và trao tôi bàn tay phải, trong nét bỡ
ngỡ của LC và sự ngạc nhiên của Quỳnh Lam và Jean, họ dục nhắc tôi sớm vào
phi cơ. Tôi nh́n LC nhắm mắt đúng như sự yêu cầu của tôi, tôi móc trong
túi áo ra chiếc nhẫn xin hứa hôn và đeo vào tay LC. Nàng cảm động ôm chầm
lấy tôi, tôi nói lời từ biệt lần cuối sau khi hôn LC, tôi vẩy tay chào
Jean, Quỳnh Lam và LC rồi bước vào bên trong phi cơ, cánh cửa được đóng
lại. Tôi ngồi xuống ghế, rồi ngó ra ngoài cửa kính phi cơ, ḷng tôi bổng
dâng lên bản t́nh ca muôn thuở:
"Để Quên Con Tim"
"Gọi thầm tên em khi nắng chiều nhạt ngoài sân
Trở về Cali anh nghe nhớ nhung giăng sầu
Từ ngày xa em anh bỗng trở thành lặng câm
Ngày rời Paris anh hứa sẽ quay trở lại
Ngh́n trùng xa xôi xa vút ngàn lời chờ mong
Bầu trời Cali hôm nay gió mưa giăng đầy
Kỷ niệm bên em anh đă gối đầu từng đêm
Ngày rời Paris anh đă để quên con tim.
Anh đi về anh nhớ bóng dáng người ở lại,
Paris em yêu ơi.
Anh nhớ em thật nhiều,
Anh nhớ em thật nhiều
người yêu ơi.
Buổi
chiều sông Seine có gió lạnh về lập đông
Buổi chiều Cali cô đơn từng cơn ră rời
Từ ngày xa em thao thức trằn trọc từng đêm
Ngày rời Paris anh đă để quên con tim."

Ghi chú:
"Đây là chuyện giả tưởng do nội dung hư cấu. Nếu có trùng hợp th́ là
ngoài ư muốn của chúng tôi. VHLA."


Việt Hải,
Los Angeles
May 2003

|