Thơ và Truyện của Việt Hải           |                 www.ninh-hoa.com


Việt Hải
 

Tên thật: Trần Việt Hải
Sáng tác nhiều thể loại
Văn, Thơ, Biên Khảo,...
tại hải ngoại.

     

 



Hiện cư ngụ tại
Los Angeles - USA

 

 

 

 

 

 

Những
Kỷ Niệm Có
Bạn Bè

VIỆT HẢI Los Angeles
 

 

Labor Day 2012:

Ngày lễ Lao Động tại Nam Cali năm nay có những niềm vui, Cali vẫn nắng ấm chói chan, ánh nắng của hy vọng, nắng chan ḥa trong sáng của sự sống. Trong những ư tưởng riêng tư, với tôi h́nh như có một niềm vui hay kỷ niệm đáng nhớ, do các bạn bè đem lại. Sau chuyến du hành sang Đông Âu, GS. Lê Văn Khoa bê tôi đến gặp nhà văn lăo thành hay học giả uyên bác chữ nghĩa Thinh Quang ở vùng Monterey Park để t́m những đặc điểm của hơn 70 năm hoạt động báo chí và phạm vi văn học của ông, rồi sang hôm sau ông GS. Mai Thanh Truyết vác tôi đi chu du Little Sài G̣n, sáng tham dự buổi họp mặt Hội Ái Hữu Cà Mau tại một công viên địa phương, mà h́nh như có sự góp mặt của các thân hữu khắp các tỉnh thành của Việt Nam Cộng Ḥa, 4 chữ lưu luyến và trân quư trong tôi, đặc biệt là vùng châu thổ sông Cửu Long, bạn mới cũ thân quen hàn huyên vui vẻ, trong những người bạn của GS. Mai Thanh Truyết có GS. Nguyễn Văn Sâm, một nhà văn hóa có nhiều nghiên cứu có giá trị. Giữa hai ông giáo dạy cấp đại học này, họ có những cái chung và cái riêng. Họ là bạn nối khố thân nhau từ thuở cuối thập niên 1940, mài ṃn đáy quần trên ghế nhà trường tiểu học Trương Minh Kư, tọa lạc ở ngă tư của hai đại lộ Galliéni và Kitchener (nay là góc Trần Hưng Đạo và Nguyễn Thái Học). Thú thật, hai ông Mai Thanh Truyết và Nguyễn Văn Sâm theo học tại Trương Minh Kư những năm 1949 hay 1950 th́ người viết bài chưa đầu thai, trong điện thoại tôi bảo ông Mai giáo sư x́-peo chầm chậm tên hai me-sừ Galliéni và Kitchener, tôi bật cười hỏi Mai giáo sư viên quan thứ hai sao tên nghe như xuất phát từ một nhà bếp nào bên London hay Paris phái sang đè đầu cưỡi cổ dân ta nhỉ <?>. Tôi yêu cầu Mai giáo sư sau 10 năm du học tại Paris và Besançon, chữ Tây một bồ, nên kể cho tôi nghe về background hai quan xứ người nghe âm lạ hoắc khiến tôi "mít-x́-peo" một phen vất vă… Galliéni và Kitchener, đă chễm chệ ngự trị trên hai đại lộ to lớn của Sài G̣n một thuở tựa như Bolsa và Brookhurst của phe tị nạn nhân dân ta. 

Ông Mai tiến sĩ diễn giải lịch sử theo sách vở cho biết Kitchener có tên là vị Earl Kitchener. Nước Anh là quốc gia bày biện ra đủ thứ phong vị xă hội vô cùng rắc rối, phức tạp. Theo thứ tự từ thấp đến cao như sau: Nam tước, Tử tước, Bá tước, Hầu tước, Công tước và đó là 5 tước vị mà các vị vua thời xưa đặt ra để phong cho những người có công với đất nước và triều đ́nh. Xứ thuộc địa Mă Lai cũng a dua theo phong vị "Tủn tước", mà có một vị anh hào xứ ta được tấn phong với măo áo vinh quang bước xuống tuyền đài. 

Cho nên Earl Kitchener, tức Bá tước Kitchener, một phong vị mà xă hội Anh kính trọng trong giới quư tộc. Ông ngài Kitchener có công với nước Pháp, Pháp cho tên vào đường phố Sài G̣n. Tên ông là Herbert Kitchener, sinh ngày 24 tháng 6, 1850 tại Ballylongford, Ireland. Thành tích trong quân ngũ nước Đại Anh của ông khá lẫm liệt, công trạng b́nh định nước thuộc địa Sudan, xong được phái sang các nhiệm sở Ấn Độ, Ai Cập, những thuộc địa của Anh Cát Lợi khi xưa. Khi Đệ Nhất Thế Chiến Anh khởi sự, ông đảm nhiệm chức vụ Bộ Trưởng Bộ Chiến Tranh (Secretary of State for War), nhận thấy chiến cuộc sẽ tiêu hao kéo dài, ông tuyển mộ binh linh vào quân đội, xem như đạo quân lớn nhất vào thời ấy, cùng việc gia tăng quân trang, vơ khí, quân dụng cho nhu cầu thời chiến, ông c̣n được phong vị Thống chế Anh (British Field Marshal. Vai tṛ của Thống chế Kitchener trong trận chiến Đệ Nhất Thế Chiến thật là quan trọng, ông tham dự trông coi nguồn máy chiến tranh từ phía Anh trong thế chiến lược liên minh Anh Pháp chống Đức. 

Thống chế Horatio Herbert Kitchener

Trong suốt thời gian từ năm 1914 cho đến đầu năm 1915, Bộ trưởng Bộ Chiến tranh Anh Quốc là Horatio Herbert Kitchener, tức Bá tước Kitchener thứ nhất nhờ chuẩn bị chiến tranh kỹ lưỡng, quân số Anh tham gia hàng triệu người trong quân đội Anh và các đoàn quân t́nh nguyện lớn nhất trong cuộc chiến. Giữa các năm 1915 và 1917, có nhiều cuộc chiến dịch tấn công quy mô lớn xuyên suốt nhiều mặt trận thật khốc liệt, điển h́nh như Verdun và Somme. 

Trận chiến Verdun (Bataille de Verdun) là một trong những trận đánh lớn trong chiến tranh thế giới thứ nhất trên Mặt trận phía Tây. Nó đă được chiến đấu giữa quân đội Đức và Pháp, từ 21 tháng 2 đến ngày 18 tháng mười hai năm 1916, trên địa h́nh đồi núi ở phía bắc của thành phố Verdun-sur-Meuse ở đông bắc nước Pháp. Verdun dẫn đến 698.000 trường hợp tử vong chiến trường (362.000 Pháp và 336.000 chiến binh Đức), trung b́nh 70.000 người chết cho mỗi trong mười tháng của cuộc chiến. Đó là dài nhất và một trong những trận đánh tàn khốc nhất trong Chiến tranh thế giới thứ nhất và lịch sử chiến tranh.  

Rồi sang trận Somme, miệt bắc nước Pháp, gần sông Somme, diễn ra vào mùa hè và mùa thu năm 1916, là một trong những trận đánh lớn nhất của Chiến tranh thế giới lần thứ 1. Với con số thương vong hơn 1 triệu người, đây được xem là một trong số những trận đánh đẫm máu nhất trong lịch sử loài người. Phe Đồng minh cố gắng bẻ găy pḥng tuyến dài 40 km của quân Đức dọc sông Somme. Một mục đích khác của trận Somme là kéo giăn lực lượng quân Đức ra khỏi trận Verdun. Tuy nhiên, khi trận Somme kết thúc, số lượng thương vong lại vượt xa hơn cả thiệt hại ở Verdun.  

Cho đến khi Hoa Kỳ nhảy vào cuộc chiến, cán cân lệch về phía Đồng Minh Mỹ Pháp Anh. Chiến thuật "Tiền Pháo Hậu Xung" được h́nh thành qua cuộc chiến này. Các đợt tiến công thường mở đầu khi khai triển bằng hỏa lực của pháo binh nă đạn cày nát trận địa, xong cho lực lượng bộ binh tràn lên đánh chiếm mục tiêu. Thắng lợi của quân Anh trong Chiến dịch Sambre cùng với thắng lợi của liên quân Pháp - Mỹ trong Chiến dịch Meuse-Argonne đă đem đến chiến thắng toàn diện để chấm dứt cả cuộc chiến Đệ Nhất Thế Chiến. 

Tuy nhiên, Thống chế Kitchener đă bị chết khi thi hành công vụ. Khi tàu chiến hải quân Anh đưa ông sang Nga để tham dự các cuộc đàm phán ở Moskova, tàu bị trúng ḿn của quân Đức nên ch́m lĩm. Ông mất ngày 5 tháng 6, năm 1916, hưởng thọ 65 tuổi. Not bad at all. 

Dù sao nước Pháp không quên ơn ông. Thế là một góc đường của trường Trương Minh Kư của hai ông giáo Nguyễn Văn Sâm và Mai Thanh Truyết lại mang bảng tên mà tôi bảo sao giống nhà bếp London quá trời. Đường Kitchener, sau này là đường Nguyễn Thái Học. 

Joseph-Simon Galliéni vs. Hùm Thiêng Đề Thám

Mai giáo sư giở sách sử năm xưa thao thao bất tuyệt như khi đứng lớp sư phạm:

Quan Tây thực dân Galliéni có liên quan đến anh hùng Hoàng Hoa Thám. Điểm qua tiểu sử Hoàng Hoa Thám có tên thật là Trương Văn Thám, vị anh hùng kháng Pháp. Thuở nhỏ, ông c̣n có tên là Trương Văn Nghĩa, thân phụ của ông là Trương Văn Thân và thân mẫu là Lương Thị Minh, quê ở làng Dị Chiến, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên. Ông lập chiến khu ở vùng Yên Thế thuộc Bắc Giang nghiễm nhiên là vị Đề lĩnh kiệt hiệt trong phong trào Cần vương, nên tục gọi là Đề Thám, với biệt danh là Hùm thiêng Yên Thế. 

Năm 1886, ông trở thành lănh tụ nghĩa quân Yên Thế với chiến khu và địa bàn hoạt động quanh vùng Bắc Giang - Thái Nguyên - Hưng Hoá, khiến quân Pháp kinh hoàng. Quân Pháp của viên đại tá Pháp Galliéni nhận chỉ thị của Thống tướng Douchemin từ Paris phải b́nh định phong trào quân dân Việt Nam nổi lên ở các tỉnh vùng trung và thượng du như mặt trận Yên Thế của anh hùng áo vải Hoàng Hoa Thám, quân Galliéni phối hợp với viên Tổng đốc tay sai Lê Hoan một mặt ra tay đàn áp bằng vũ lực, một mặt chiêu hàng Hùm thiêng Yên Thế, không dễ mua chuộc được Đề Thám v́ ư chí ái quốc nên "No way, Jose!"la2 đương nhiên, nhưng phe thực dân và bù nh́n vẫn không làm ǵ được ông. Đến năm 1894, chúng chịu điều đ́nh và cắt nhượng cho ông 6 tổng gồm 22 làng ở Phồn Xương để ông lập đồn điền, lập khu tự trị đưa đến giải trừ quân bị. Trong chiến thuật khôn ngoan ḥa hoăn cũng cố binh bị, Đề Thám chỉ trá hàng chứ không thực sự buông vũ khí. Năm 1905, sau khi tiếp xúc với Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Phạm Văn Ngôn (Tú Nghệ) ông lại vùng lên kháng chiến chống Pháp quyết liệt hơn trước, địa bàn hoạt động cũng mở rộng hơn với tổ chức “Đảng Nghĩa Hưng” và “Trung chân ứng nghĩa đạo” do ông làm lănh tụ, từ đấy suốt 8 năm ông tiếp tục chiến đấu, chiến trận leo thang gây khó khăn cho quân Pháp gây tổn thất nặng nề cho quân Pháp và đạo quân tay sai do Lê Hoan cầm đầu. Viên quan Tây thực dân Galliéni vốn mang bản tính bá quyền khinh khi phe ta, và y mê tửu rượu dù thắng hay thua y vẫn nốc cognac, goût potable là Cordon Bleu như Đốc sự Châu Văn Để hay Bác sĩ Trần Văn Thuần. Trước sự thua trận nặng nề, y nốc cạn chai Cordon Bleu, thề quyết loại trừ đối thủ là lănh tụ Đề Thám. 

Cuối cùng đêm 10-2 năm Quư Sửu (18-3-1915) ông bị thuộc hạ là Lương Tam Kỳ phản bội ám sát ông tại một nơi cách chợ Gồ 2 cây số, hưởng dương 55 tuổi.

Được tin cụ mất, chí sĩ Phan Bội Châu cho thơ điếu Hùm thiêng Yên Thế: 

Dị chủng sài lang măn địa tinh,
Độc tương chích thủ dữ cừu tranh.

Trấp niên thương kiếm sơn hà khí.

Bách chiến phong vân phụ tử binh

Quốc thế dĩ trầm quân thượng phấn,

Tướng đầu vị đoạn tặc do kinh.

Anh hùng bản sắc chung năng kiện,

Vạn lư thời văn hổ khiếu thanh.

 

Bản dịch:  

Sài lang chết đất giống hôi tanh,
Cùng địch ra tay quyết đấu tranh.

Non nước bao năm ngời bao kiếm,

Cha con trăm trận nổi hùng binh.

Nước nhà dù đắm thân c̣n dấn,

Đầu tướng chưa ĺa giặc vẫn kinh.

Cuộc chót anh hùng càng to nét,

Vẳng nghe hổ thét dội muôn tŕnh.

Đôi nét thêm về GS. Nguyễn Văn Sâm:  

Nh́n những công tŕnh khám phá và nghiên cứu về chữ Nôm xứng đáng để GS. Sâm có học vị tiến sĩ nhưng v́ Đại học Văn Khoa không có ban giám khảo có đủ học vị để lượng giá và định chẩn cho các giáo sư được cấp bằng tiến sĩ Nôm học được, hay là một yếu tố tế nhị nào đó. Như Giáo sư Lê Hữu Mục kể tôi nghe khi ông theo ngành Hán Nôm, môn học về văn thơ Nôm cổ xưa ít người muốn theo học v́ bản sắc của nó khô khan và khó hiểu, khi mà đa số vốn trọng văn chương Quốc ngữ hơn. Xét cho cùng chữ Nôm là nguồn gốc văn chương trước chữ Quốc ngữ, nếu loại bỏ văn chương Hán Nôm, văn học ta mất đi giai đoạn đầu cao quư. Chính v́ thiếu nhân tài về văn chương Nôm, số người theo Nôm học vơi dần, trong quá khứ ngành Nôm học cần được khuyến khích những học giả có công tŕnh khảo cứu thiết thực, đôn đốc giai đoạn đầu tiên phong đào tạo nhân tài, phát triển ngành, tránh t́nh trạng giới hạn nhân tài.

Tôi xem bài viết "Anh Lê Hữu Mục, gương làm việc không ngưng nghỉ", do GS. Nguyễn Văn Sâm, Giáo sư Viện Việt Học, Nam California, ghi nhận chuyện cũ như kỷ niệm đă qua. Xin trích đoạn như sau: 

"Cơ cấu giáo dục Đại Học của VNCH thời 1950-1972 đă ngăn chặn bước tiến thủ của anh Mục. Từ lúc có bằng Cử Nhân, giữa thập niên 50, đến khi anh có thể thi Tiến Sĩ phải mất hơn hai mươi năm. Những người có trách nhiệm ở Đại Học thời đó không mở chương tŕnh Tiến Sĩ v́ lư do nầy lư do khác. Khi mở th́ cũng mở nửa chừng, Tiến Sĩ Đệ Tam Cấp chớ không phải là Tiến Sĩ Quốc Gia. Nghĩa là rồi sẽ phải thi thêm lần nữa! 

Và tôi được thi cùng luợt với anh, khóa đầu tiên của Trường Đại Học Văn Khoa Sàig̣n, 1973, dành cho những người đang giảng dạy ở Đại Học Văn Khoa mà chưa có bằng Tiến Sĩ (v́ không được đi ngoại quốc.) Kỳ thi cuối khóa Năm Thứ Nhất Tiến Sĩ, xác nhận rằng các thí sinh đủ điều kiện để tŕnh Luận án Tiến Sĩ, Anh Mục đỗ đầu, Nguyễn Văn Sâm hạng nh́. Kế đó là Phạm Việt T. (gần đây ở Pháp), Nguyễn Thiên T. (hiện đang ở Canada) và sau đó c̣n mấy người nữa mà tôi quên tên v́ qua lâu ngày và là những vị mà tôi ít cùng sinh hoạt… " 

GS. Nguyễn Văn Sâm cùng GS Lê Hữu Mục có đam mê và trải qua nhiều năm nghiên cứu, t́m ṭi về văn chương chữ Nôm, hai ông là những hạt ngọc trai hiếm quư của ngành Nôm học ở giai đoạn cuối đời không được cơ hội phát triển ngành Nôm học đ xa hơn. Tôi xem qua tác phẩm mới nhất của GS. Sâm mới vừa được xuất bàn (2012) gần đây là một thí dụ; Tác Phẩm"Người Hùng B́nh Định nổi loạn Truông Mây" là một kiệt tác Nôm miền Trung vào thế kỷ 18. Một tác phẩm khác là "Thế Kỷ Của Văn Học Quốc Ngữ, Thế Kỷ XX", rồi tác phẩm "Khuyên Con Trai Nên Đọc Sách", mà bản Nôm do GS. Nguyễn Văn Sâm sưu tập, phiên âm, sơ chú, và giới thiệu. Bài có phần đóng góp của GS. Lê Văn Đặng trên miệt Seattle soạn phiên bản Unicode, và viết lời kết bài. Thật vậy thuở xưa con trai không đọc sách th́ đường công danh cho đời sống khó vươn trong xă hội, làm sao có vơng lộng vinh quy đưa nàng d́a dinh nhỉ <?>. Ngày nay tôi nh́n hai cậu con trai ôm những cuốn text book dầy cộm của trường học bắt chúng ngấu nghiến cả weekend, ḷng ḿnh chút ǵ vui vui, hớn hở ra phết, ḿnh tự hỏi GS. Nguyễn Văn Sâm sưu tập và viết bài "Khuyên Con Trai Nên Đọc Sách", sao mà có lư quá sá trời. Hôm Labor Day tham dự ngày hấp hôn 25 năm Silver Bell kỷ niệm của hai em Trương Thể và Ni Cô Lâm, tôi ngồi ngoài vườn hoa Buddha Garden của đôi t́nh nhân dễ thương này, an tọa giữa 3 ông giáo của 3 ngành học khác nhau: GS. Nguyễn Văn Sâm, GS. Mai Thanh Truyết và GS. Lê Văn Khoa, tôi đă cám ơn tác phẩm để đời của GS. Sâm truyền bùa cho những người trẻ, con trai từ những định chế văn hóa chữ nghĩa từ UCLA, USC, UC Irvine, UC Berkeley,...đến Cornell, Columbia, Princeton, Stanford, Yale, Harvard, Dartmouth hay Notre Dame,... Con trai mà không nghe lời huấn dụ của GS. Sâm phải đọc sách và đọc sách th́ đường công danh từ đại học bước ra xă hội khó lắm các con trai ơi. Tiếc là tác phẩm GS. Sâm chỉ truyền bùa lỗ ban cho con trai mà thôi, đề nghị GS. Sâm hăy viết nốt volume two cho các cháu gái luôn, mặc dù xă hội phong kiến xưa kia không buộc họ việc sách đèn vinh quy để đưa chàng d́a dinh. 

Các bài viết của GS. Nguyễn Văn Sâm được lưu trữ nhiều trong website

www.namkyluctinh.org.


Nữ gia chủ Lâm Mai Thy

Từ công viên mà Hội đồng hương Cà Mau tổ chức picnic gần trường Bolsa Grande, trong thành phố Garden Grove, tôi theo hai ông giáo Mai Thanh Truyết và Nguyễn Văn Sâm đến gia trang của Trương Thể và Lâm Mai Thy có buổi họp bạn thân mật mừng Labor Day cùng dự tiệc kỷ niệm 26 năm đôi bạn này sống đời hạnh phúc bên nhau. Tại vườn Buddha Garden, bông hoa trong vườn tươi thắm, có căn nhà tranh trà thất xây theo lối Nhật là Tea parlor cottage, hồ cá koi, có cây phượng đỏ (flamboyant), phượng tím (jacaranda),... Xung quanh có treo những phướng Tây Tạng và nhiều tượng phật được an vị ở các góc mà gia chủ thờ phượng. 

Lâm Mai Thy vốn sùng Phật giáo, cô tu theo hệ phái Mật Tông Tây Tạng rất nghiêm túc, đúng lệ là mỗi ngày người thọ đạo như cô phải giữ lễ quỳ lạy 108 lạy, tôi mà làm như vậy chắc phải đi thăm viếng mấy ông chiropractor triền miên tháng ngày. Tôi được Mai Thy kể cho nghe về Văn hóa Mật Tông, Niệm chú Mật Tông, Hạnh phúc đi tu,... Khi ngộ, t́m được đạo pháp, tôi nghĩ người đi tu đă t́m được chân lư. 

* Văn hóa Mật Tông: là những điểm sáng lạng, huyền diệu và độc đáo để nước Tây Tạng chưa bị ngoại xâm đồng hóa. Nó không chỉ có bối cảnh lịch sử văn hóa được lưu truyền lâu đời, mà c̣n có những ư nghĩa thâm sâu, dồi dào sức quyến rũ, lôi cuốn quần chúng thực tiễn bước vào việc tu học những pháp môn của Phật giáo. Phật giáo Tây Tạng dựa văn hóa Mật Tông thuộc vào địa vị chủ chốt đặt nền tảng vững chắc cho hệ thống Phật giáo nước này. 

Vào thế kỷ thứ 7(AD) được xem là mốc thời gian Phật giáo truyền vào đất Tây Tạng, là khi Phật giáo Ấn Độ đă phát triển đến giai đoạn Mật Tông bắt đầu thịnh hành. Do vậy, Phật giáo khi truyền qua trên đất Tây Tạng th́ mang đậm màu sắc Mật Tông của Phật giáo Ấn Độ thời hậu kỳ. Điều đáng chú ư là trong toàn quá tŕnh h́nh thành và phát triển của Phật giáo Tây Tạng, có hai vị đại sư từ nước ngoài vào, họ đă đống góp và có địa vị vô cùng quan trọng trong việc xây dựng nên Mật tông của Phật giáo Tây Tạng. Đó là Padmasambhava (Liên Hoa Sanh) thuộc Tiền hoằng kỳ, và Atisa (A-để-hiệp) thuộc Hậu hoằng kỳ. Padmasambhava trước lúc đến Tây Tạng, từng là một vị học Tăng chuyên về Mật tông của trường đại học Nālandā thuộc Ấn độ, tư tưởng Phật giáo mà ông đeo đuổi là hệ thống tư tưởng Trung Quán của Nagajuna, một trong hai ḍng tư tưởng chủ lưu của Phật giáo Ấn Độ thời bấy giờ, đồng thời ông lại tinh thông về Mật chú, uyên bác về nghi lễ. Giữa thế kỷ thứ 8 (AD), Padmasambhava được nhà vua Khri-srong lDe-btsan (Xích-tùng Đức-tán) cung thỉnh đến Stod-bod, ông dùng chú thuật Mật tông để triển khai việc đấu pháp thuật với những vị thuộc đạo Bon của Tây Tạng, đấu pháp diễn ra rất kịch liệt, và cuối cùng ông hàng phục được họ. Có thể nói, Padmasambhava lấy pháp thuật mật Tông Phật giáo để làm sức mạnh của vũ khí, ông đă mở toang cánh cửa truyền thống văn hóa (Đạo Bon) của Tây Tạng. Đấy cũng v́ muốn cho Phật giáo đứng vững trên nền trời Tây Tạng mà ông đă khổ cực và mất rất nhiều công lao, đặc biệt là tư tưởng Mật tông hậu kỳ của Phật giáo Ấn Độ đă nhanh chống và thuận lợi dời đến trồng trên đất Tây Tạng, đồng thời đă tạo ra sự ảnh hưởng vô cùng sâu đậm đối với Mật tông của Phật giáo Tây Tạng sau này.  

Vị thứ hai là Tôn giả Atisa trước lúc đến Tây Tạng, ông từng chuyên trách về Mật tông và trụ tŕ chùa Siêu Giới và đại học Nālandām, là một vị danh Tăng Ấn Độ có đức cao vọng trọng, danh vang khắp trong giới Mật tông Phật giáo. Năm 1042 ông được nhà vua Tây Tạng cung thỉnh đến Tây Tạng, và cũng bắt đầu cho công việc chỉnh đốn lại những lề lối của Phật giáo Tây Tạng, như quy định tu hành theo thứ lớp, trang nghiêm nghi chấp của Mật tông v.v.. Bởi chính bản thân Atisa thông hiểu một cách sâu sắc về cả hai phương diện Mật và Hiển, ông rất được giới Phật giáo Tây Tạng kính trọng và tin thuận lúc bấy giờ, cũng từ đó ông đă chấn hưng lại địa vị chính thống của Phật giáo Mật tông. Ông đă cống hiến cho việc chấn hưng và sự phát triển của Phật giáo Mật tông Tây Tạng thời “Hậu hoằng kỳ”, cho nên người đời sau thường tôn ông là một vị “trung hưng” của Phật giáo Mật tông Tây Tạng. Qua sự nổ lực tột bậc của hai tôn giả Padmasambhava (Liên Hoa Sanh) và Atisa (A-để-hiệp), cuối cùng Mật tông đă chiếm cứ địa vị nổi bật nhất trong toàn bộ tiến tŕnh lịch sử của Phật giáo Tây Tạng. 

* Ứng dụng những Mật Chú:

Những nhà tu hành Mật Tông dùng những Mật Chú trong những trường hợp cần thiết nhất và các thầy cũng hạn chế tránh những tác hại khác. Mai Thy kể là một trong những loại Mật Chú quan trọng và thông dụng là Mật Chú Đà Ra Ni (Dharani). Theo nguyên nghĩa th́ Đà Ra Ni là bảo tồn, ǵn giữ, chống lại những lôi cuốn khác bất cứ từ đâu tới. Những Mật Chú này dùng để khống chế vọng tưởng và vọng động. Trong một giá trị khác, Mật Chú Đà Ra Ni sẽ phát huy đạo tâm của hành giả đứng trước những thử thách nghiêm trọng. Tà ma, ngoại đạo đều bị Mật Chú Đà Ra Ni chế ngự ngay từ bước đầu. Dùng Mật Chú không thể khinh thường và thiếu cẩn trọng. Chỉ trong những trường hợp khổn cùng, cấp bách, không thể thoát khỏi tai kiếp th́ mới đọc lên. 

Mật Chú Đà Ra Ni c̣n được gọi là "chân ngôn" hay "chân kinh" tức là những câu nói ngắn nhưng rất vi diệu, chân thật, "bất khả tư nghị" của chư Phật hay chư Bồ Tát. Mật Chú không thể giải nghĩa được hay lư luận được. Những buổi lễ quan trọng nhất của Mật Tông mới được dùng những Mật Chú này. Công dụng chính là đưa những sức huyền diệu, anh linh của vũ trụ đi vào trong nội tâm của con người. Mật Chú cũng có thể tiêu trừ những bệnh khổ do Tứ Đại gây ra. Những bệnh do Ngũ uẩn, hay do quỷ thần gieo rắc cũng có thể giải cứu bằng Mật Chú được. Cũng như Đàn Tràng (hay Đàn Pháp) (Mandala), Mật Chú có công dụng vô biên, khó lường được. Nhiều người coi thường Mật Chú và Đàn Tràng, cho nên khó giải thoát. Hiển Mật Viên Thông có chép rằng: "Ba đời của đức Như lai, chưa hề có vị Phật nào không theo Đàn Pháp mà thành Phật Đạo".

Những vị cao tăng Tây Tạng ít khi nói đến những Mật Chú. Theo họ, một giới tử nào vọng động trong việc dùng Mật Chú, tưởng là cứu cánh tu hành, sẽ bỏ mọi khả năng tu tập chính của ḿnh để học Thần Chú. Mật Chú chỉ được dùng như là cẩm nang tối hậu chỉ được mở ra thực hiện trong một thời điểm cần thiết nhất. Một giới tử sau khi được Điểm Đạo hay Quán Đỉnh th́ được nhắc nhở điều này. 

Nhân đôi bạn gia chủ vui hạnh phúc hơn một phần tư thế kỷ để tiến lễ vàng 50 năm chung sống cùng dưới mái nhà, đồng vợ đồng chồng, một ư niệm tuy đơn giản chỉ v́ hạnh phúc lứa đôi, nhưng tại xă hội Huê Kỳ này, thành quả của việc làm của họ tôi cho là một mẫu mực đáng khen, gia chủ đại diện cho một đơn vị gia đ́nh gương mẫu. Lâm Mai Thy chịu khó đọc sách, cô thích môn triết học đông phương, đặc biệt triết học phật giáo. Tôi có dịp thảo luận với Mai Thy về quan niệm hạnh phúc trong cuộc sống. Dĩ nhiên hạnh phúc như vậy với cô có ba yếu tố như gia đ́nh, đạo pháp và những yếu tố ngoại vi như ngoài gia đ́nh, cộng đồng và xă hội. 

Mai Thy cho là xây dựng gia đ́nh hạnh phúc, theo quan điểm của Phật giáo, đều do nhân duyên tạo nên. Mái ấm gia đ́nh là nguồn gốc hạnh phúc cơ bản nhất. 

Nh́n lại, Phật giáo như các giáo lư của các tôn giáo khác khuyên như con người sống đạo đức hướng thiện. Khởi nguồn từ mái ấm gia đ́nh hạnh phúc, gia đ́nh cần dựa trên nền tảng đạo đức. Đạo đức ở đây là đạo đức của con người và xă hội đă quy định. Sống và làm việc phải thích nghi với con người và những qui luật của xă hội hiện hành. Đức Phật quy định đạo đức của người Phật tử phải dựa trên nền tảng của ngũ giới đó là: Không sát sanh, Không trộm cắp, Không tà dâm, Không nói dối, và Không uống rượu.  

Với quan điểm của Đức Phật, ngũ giới cấm như trên đủ để xây dựng một gia đ́nh hạnh phúc. Người chồng và người vợ, nếu giữ được năm giới cấm này, Đức Phật đă so sánh như là tiên nam sống ḥa điệu cùng với tiên nữ. Nếu người một trong hai người không giữ giới, mái ấm gia đ́nh sẽ lung lây. Nếu cả hai không giữ giới gia đ́nh đi đến sụp đổ. Đức Phật dạy trong kinh Pháp Cú: “Không làm các điều ác, hăy làm các việc lành, giữ tâm ư trong sạch. Đó là lời Phật dạy.” 

Trong cuộc sống nên gieo mầm hạnh nhân thiện lành. Tôi quan sát từ bấy lâu nay quen biết gia đ́nh Mai Thy, họ làm phước giúp người, nếp sống chia sẻ những khổ đau xă hội. Mai Thy chọn việc làm mang nhiều ư nghĩa giúp người, giúp đời.

Đức Phật khuyên chúng sinh nên làm các hạnh lành, có nghĩa chính là tạo phước, làm điều thiện duyên lành, và sống có trách nhiệm với nhau. 

Có mười cách tạo phước lành trong luận tạng Pali. Trong ca dao tục ngữ Việt Nam có câu: “ Ai ơi cố gắng làm lành, kiếp này chưa hưởng, để dành kiếp sau", trong sách vở vẫn nêu ra những ư niệm do sư tích đức như “Tiên tích đức, hậu tầm long”, hay “đức năng thắng số”, “đức trọng quỷ thần kinh”,... Chung qui tất cả những khía cạnh trên đều khuyên lơn chúng ta hăy gieo nhiều hạnh lành. Lư do cuộc sống trên đời này bị chi phối bởi luật nhân quả, v́ mỗi hành động của chúng ta làm đều gây ra kết quả. Gieo nhân lành th́ gặt quả lành, gieo nhân ác th́ gặt quả ác. Nếu chúng ta làm nhiều việc thiện lành th́ tất nhiên gia đ́nh của chúng ta sẽ được an vui và hạnh phúc, con cháu ngoan ngoăn, mọi sự việc trong cuộc sống thường hanh thông,...

Nói tóm lại gia đ́nh hạnh phúc th́ đồng nghĩa với những hành động thiện, lời nói thiện và tư tưởng thiện. 

Bài viết này nẩy sinh do hôm họp bạn tại gia trang của hai em Trương Thể và Mai Thy, những bạn bè quư mến hai em v́ đă vượt qua hơn 25 năm của lễ bạc, với nề nếp hạnh phúc gia đ́nh bền vững, con cái giỏi giang, ngoan ngoăn,... Xin chia vui tin cháu Amy Trương là thí sinh trúng tuyển cho việc làm trong số 100 ứng viên. Hai em gieo nhân lành để đức năng thắng số, như trường hợp của Amy. 

Congratulations for all!

 

 

 


 

Việt Hải Los Angeles

 

 

 

         

 

Thơ và Truyện của Việt Hải               |                 www.ninh-hoa.com