Thơ và Truyện của Việt Hải             |                 www.ninh-hoa.com


Việt Hải
 

Tên thật: Trần Việt Hải
Sáng tác nhiều thể loại
Văn, Thơ, Biên Khảo,...
tại hải ngoại.

     

 



Hiện cư ngụ tại
Los Angeles - USA

 

 

 

 

  

Suy Thoái và Khủng Hoảng
Kinh Tế Tại Hoa Kỳ

Kinh tế Hoa Kỳ Nh́n Về Tương Lai

Trần Việt Hải


 

Tôi đọc sách mới của nhà văn hay b́nh luận gia Nguyễn Văn Thành, anh viết tác phẩm với tiêu đề "Các vấn đề của chúng ta", anh đề cập về nền kinh tế thế giới giới từ nhiều năm nay, những trọng điểm trong sách bàn bạc về kinh tế Hoa Kỳ và kinh tế Việt Nam đối với sự lưu tâm đặc biệt của nhiều người Việt chúng ta. Tác giả luận bàn về suy thoái và khủng hoảng kinh tế tại Hoa Kỳ.

 

Tôi thích chủ đề Kinh tế Hoa Kỳ về lư thuyết nói chung, Kinh tế Hoa Kỳ nh́n từ quá khứ và hướng về tương lai. Những đề tài thực tế hấp dẫn nhiều người về đời sống và về kinh nghiệm sống. Một sự suy thoái trầm trọng và lâu dài được gọi là khủng hoảng kinh tế. Sự tan vỡ tàn phá nền kinh tế là suy sụp hay đổ vỡ kinh tế. Các nền kinh tế theo xu hướng thị trường có đặc điểm là tăng giảm theo chu kỳ kinh tế, nhưng sự suy giảm thực tế, tức suy giảm các hoạt động kinh tế không thường xảy ra. Nhiều tranh luận về việc chính phủ có nên can thiệp để điều ḥa kinh tế như theo học thuyết kinh tế vĩ mô (macroeconomics) của John Maynard Keynes, được giảng giải rộng ra chu kỳ kinh tế thị trường với lư thuyết chu kỳ kinh tế thực, hoặc là tạo ra chu kỳ kinh tế theo chủ nghĩa tiền tệ theo Milton Friedman.

 

Suy thoái kinh tế do đâu ra? Những nguyên nhân đích thực của suy thoái kinh tế là đối tượng tranh luận sôi nổi giữa các nhà lư thuyết và những người làm chính sách mặc dù đa số thống nhất rằng các thời kỳ suy thoái kinh tế gây ra bởi sự kết hợp của các yếu tố bên trong (nội sinh) theo chu kỳ và các cú “shock” từ bên ngoài (ngoại sinh). Ví dụ, những nhà kinh tế học chủ nghĩa Keynes và những lư thuyết gia theo lư thuyết chu kỳ kinh tế thực sẽ bất đồng về nguyên nhân của chu kỳ kinh tế, nhưng sẽ đồng nhất do các yếu tố ngoại sinh như giá dầu, thời tiết, hay chiến tranh có thể tự chúng gây ra suy thoái kinh tế nhất thời, hoặc ngược lại, tăng trưởng kinh tế ngắn hạn.

 

Hăy phân biệt suy thoái kinh tế và khủng hoảng kinh tế: Suy thoái kinh tế theo tiếng Anh là recession hay economic downturn, được định nghĩa trong Kinh tế học vĩ mô là sự suy giảm của Tổng sản phẩm quốc nội thực trong thời gian hai hoặc hơn hai quư liên tiếp trong năm, nói cách khác, tốc độ tăng trưởng kinh tế âm liên tục trong hai quư (quư = 3 months or a quarter). Tuy nhiên, định nghĩa này không được chấp nhận rộng răi. Cơ quan nghiên cứu kinh tế quốc gia (NBER, National Bureau of Economic Research) của Hoa Kỳ đưa ra định nghĩa về suy thoái kinh tế c̣n mập mờ hơn "là sự tụt giảm hoạt động kinh tế trên cả nước, kéo dài nhiều tháng". Suy thoái kinh tế có thể liên quan sự suy giảm đồng thời của các chỉ số kinh tế của toàn bộ hoạt động kinh tế như việc làm, đầu tư, và lợi nhuận doanh nghiệp. Các thời kỳ suy thoái có thể đi liền với nạn hạ giá cả (giảm phát), hoặc ngược lại là nạn tăng nhanh giá cả (lạm phát) trong thời kỳ chịu nạn khó khăn khủng hoảng kinh tế.

 

Theo tờ Washington Post đăng bài tham luận vào 30 tháng 10 vừa qua, "Sự phục hồi của Mỹ c̣n hoang mang, nhưng đó là sự ganh tị của thế giới tiến bộ", b́nh luận gia Chico Harlan cho biết nền kinh tế Mỹ nhận vào những tin tức tốt có, tin tức xấu có, việc làm đang có lại, nhưng trong khi hàng triệu người phải miễn cưỡng chấp nhận việc làm bán thời gian. Rồi tin các nhà đầu tư đang làm giàu trở lại, nhưng thứ sự mức thu nhập hầu như không bao nhiêu, những tin khiến người ta hoang mang.

 

Trên b́nh diện toàn cầu, xu hướng của nền kinh tế Mỹ đang thúc đẩy một phản ứng khác nhau đưa đến sự ganh tị. Trên mức khả quan này là việc mở ra công việc sáu tháng ổn định, Hoa Kỳ đă xuất hiện trở lại như ngôi sao và có lẽ là chiếc đầu máy (locomotive) của một nền kinh tế toàn cầu nếu không sụt giảm. Trong lời nhắc nhở gần đây của chính phủ Mỹ kinh tế sẽ tăng nhanh hơn nhiều các nước phát triển, chính phủ cho biết hôm thứ Năm rằng tổng sản phẩm nội địa của quốc gia tăng trưởng với tỷ lệ hàng năm là 3,5 phần trăm giữa tháng Bảy và tháng Chín. Và các nhà kinh tế dự đoán rằng vào năm 2015 Hoa Kỳ sẽ là nền kinh tế nổi bật trong thế giới các nước giàu có.

 

Các nhà kinh tế cảnh báo rằng nền kinh tế Mỹ, khoảng thời gian này, vẫn c̣n mong manh. Và không chắc rằng nếu Hoa Kỳ có thể nâng lên nền kinh tế đang gặp khó khăn thêm hoặc sẽ đang đi xuống. Hoa Kỳ chiếm khoảng 16 phần trăm sản lượng kinh tế toàn cầu, so với khoảng 23 phần trăm trong năm 1995. Những người lạc quan th́ cho rằng Hoa Kỳ có thể tồn tại như một ḥn đảo của sự phát triển, phần lớn là do nhu cầu tiêu dùng cây nhà lá vườn mạnh trở lại. Nếu măi lực của người Mỹ chiếm tới gần 70 phần trăm của các hoạt động kinh tế, so với khoảng 13 phần trăm do việc xuất cảng. Nếu ta nh́n kinh tế thế giới là một đoàn tàu th́ Mỹ chính là cái đầu tàu. Nhưng một vài tin tốt trong thời gian qua cho thấy kinh tế Mỹ không đủ xua đi nỗi lo ngại về một khúc quanh rủi ro có thể đang canh me kinh tế Mỹ trong tương lai.

 

Con số tăng trưởng GDP 4% trong quư 2-2014 do Bộ Thương mại Mỹ công bố mới đây được đón nhận với cảm giác được giải khuây, sau khi kinh tế Mỹ rơi vào suy thoái trong quư 1. Tuy nhiên, sản lượng của kinh tế Mỹ vẫn đang ở dưới mức tiềm năng khoảng 5%, theo ước tính của Văn pḥng ngân sách Quốc hội Hoa Kỳ. Tháng 6, Bộ lao động Mỹ rao tin vui kinh tế Mỹ có thêm 288.000 việc làm mới, nâng tổng số việc làm lên 1,4 triệu trong năm 2014, theo thống kê từ Văn pḥng Thống kê lao động Mỹ. Đây là thành tích sáu tháng tốt nhất kể từ năm 2006. Thông thường số việc làm mới được tạo ra nhiều như thế sẽ tương ứng với một nền kinh tế đang tăng trưởng mạnh mẽ và ổn định. Tuy nhiên, lúc này th́ không phải như vậy. GDP quư 1-2014 của Mỹ giảm 2,9%, tệ nhất từ khi khủng hoảng bùng nổ ra trong năm 2007. T́nh h́nh chưa sáng sủa hơn dù nhiều khi các nhà kinh tế dự báo 2014 sẽ là năm phục hồi tốt nhất của kinh tế Mỹ trong năm năm qua.

Tăng trưởng kinh tế trong chu kỳ kinh doanh chủ yếu được thúc đẩy bởi sự tăng tổng số cầu, nhưng những năm gần đây tổng số cầu đang tụt lại v́ trong khi dân chúng phải lo tiết kiệm để trả nợ, chính phủ lại thắt chặt chi tiêu và tăng thuế, lăi suất đă là con số 0 nên không thể xuống thấp hơn nữa. Tuy nhiên trong dài hạn, tăng trưởng của nền kinh tế phụ thuộc vào bên số cung sẽ có bao nhiêu nhân công có việc làm, việc thu dụng nhân công. Khó khăn gần đây của nền kinh tế Mỹ, việc làm tuy được cải thiện, nhưng sự tăng trưởng vốn quá chậm, cho thấy nước Mỹ phải đối diện với vấn đề nhức nhối giữa hai phía cầu lẫn phía số cung, một khi nhân công nhiều hơn mà sản lượng vẫn không cao hơn. Do đó là tin tức xấu cho người dân Mỹ v́ mức sống của một quốc gia phụ thuộc vào năng suất nhân công của quốc gia đó.

 

Đây cũng là mối lo âu của Cơ quan Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ (FED) bởi lạm phát sẽ tăng nhanh hơn trong khi nền kinh tế tăng trưởng chậm hơn, nó đồng nghĩa với việc lăi suất có thể sẽ tăng sớm hơn so với sự dự báo, dù trong một nền kinh tế tăng trưởng chậm th́ nhu cầu về vốn sẽ tiếp tục thấp.

 

Trong thập niên 1990, Mỹ là một trong những nước giàu có tỉ lệ tăng trưởng dáng lưu ư nhất, trung b́nh trên 3% hàng năm, khi lực lượng lao động chỉ tăng 1%, tức năng suất lao động đă tăng 3% mỗi năm nhờ vào những tiến bộ do khoa học kỹ nghệ và nhất là sự phát triển Internet. Trong năm 2007, văn pḥng ngân sách của Quốc hội Mỹ c̣n dự báo tăng trưởng vào khoảng 2,6% mỗi năm, trong khi hiện nay con số đó đă giảm xuống c̣n 2,1%. Với các con số về tăng trưởng việc làm và tăng trưởng GDP hiện tại, Ngân hàng JPMorgan ước tính năng suất lao động ở Mỹ đă giảm 0,4% trong năm qua. Trên cơ sở đó, JP Morgan đánh giá tăng trưởng triển vọng của kinh tế Mỹ sắp tới chỉ là 1,75%/năm, bằng một nửa so với trung b́nh của giai đoạn 1947-2007.

 

Năm nay khi tăng trưởng đă được cải thiện đôi chút trong quư 2-2014, kinh tế Hoa Kỳ của trào ông 7 Obama hiện giống y chang với các nền kinh tế già nua cằn cỗi tăng trưởng như thần kim qui chậm chạp, dù là từ trước đây bao giờ người Mỹ vẫn tự hào là nền kinh tế Hoa Kỳ sáng giá và năng động bậc nhất thế giới.

 

Chính phủ của ông 7 Obama thân thương đă nỗ lực rất nhiều trong việc cải thiện hoạt động của nền kinh tế nói chung, như tạo ra công ăn việc làm và hỗ trợ người dân lao động gặp khó khăn v́ thất nghiệp nói riêng, nhưng các bước đi đó kết quả chậm chạp sẽ mất nhiều năm mới có thể có hiệu quả, đó là chưa kể nhiều điểm yếu của Chính phủ Mỹ hiện giờ bị coi là không thuận lợi với các doanh nghiệp tư nhân vốn là những động lực chính phục hồi nền kinh tế Hoa Kỳ. Lấy ví dụ như hệ thống pháp luật và thuế doanh nghiệp hiện nay khiến cho các doanh nghiệp lớn trở nên chán nản và mệt mỏi. Trong tháng 7, 2014 khoảng chục doanh nghiệp cỡ lớn đă thông báo kế hoạch sáp nhập với các công ty đối tác ngoại quốc, di chuyển trụ sở ra khỏi nước Mỹ để đóng thuế thấp, mức lương nhân công trả rẻ hơn và kiếm lợi nhuận hơn. Hệ thống thuế doanh nghiệp ở Mỹ có hai khuyết diểm lớn lao.

 

1/ Thứ nhất là tỉ suất thuế, hiện là 35%, cao nhất trong số 34 nước phát triển thuộc Tổ chức Hợp tác Phát triển Kinh tế (Organisation forEconomic Co-operation and Development, OECD). Nhưng với mức thuế đó, thực thu của ngân sách Mỹ lại thấp hơn so với mức trung b́nh của OECD v́ những lỗ hổng lớn và các đợt miễn giảm thuế liên tục. Năm 2013, các khoản miễn giảm này lên tới 150 tỉ USD, hơn một nửa tổng thu từ thuế doanh nghiệp của ngân sách quốc gia, hic hic... chịu đời ǵ thấu, hỡi ông 7 Obama ơi ông 7 Obama!?

2/ Vấn đề thứ hai là cách đánh thuế thu nhập vào một công ty có trụ sở tại Mỹ, bất kể thu nhập đó kiếm được từ đâu, trong khi các nước khác chỉ đánh thuế phần thu nhập mà một công ty đa quốc gia (multi-national corporation) tạo ra trong lănh thổ nước họ mà thôi. Các doanh nghiệp không phải trả thuế phần lợi nhuận ở nước ngoài cho tới khi họ chuyển phần lợi nhuận đó về nước. V́ thế cho nên không có ǵ ngạc nhiên khi các công ty đa quốc gia của Mỹ hiện đang chuyển số tài sản kếch xù trên 2.000 tỉ USD hiện nay nằm ở xứ ngoài. Ông làm kinh tế ǵ mà kỳ cục vậy ông 7 Obama ? Ông giúp ông Tập Cận B́nh HD-981 sẽ vô cùng nguy hiểm đấy.

Điểm quan yếu v́ tỉ suất thuế cao làm giảm đầu tư, trong khi các lỗ hổng (loop-holes) khiến việc kinh doanh được cân nhắc trước hết từ khía cạnh thuế khóa, thay v́ hiệu năng suất của khoản đầu tư. Mức thuế thực sự trả của các doanh nghiệp rất khác nhau tùy ngành kinh doanh và tùy theo sự “sáng tạo kịch bản” hay "vẽ vời chỉ đường cho hươu nai chạy" của các luật sư cho nên có một số công ty không phải trả một đồng thuế nào cả, trong khi những doanh nghiệp khác phải đóng đủ 35%. Tại sao vô lư như vậy hở ông 7 ?

 

Tóm lại tất cả vấn đề không hay do đường lối lănh v́ yếu tố toan tính chính trị đó khiến nền kinh tế Mỹ đang phải trả giá khá đắt. Và một khi cái đầu tàu vẫn c̣n quá nhiều trục trặc, khó kỳ vọng đoàn tàu kinh tế thế giới sẽ có thể tăng gia tốc ổn định được, ít ra trong tương lai gần.

 

Sách "Các Vấn Đề Của Chúng Ta" của b́nh luận gia kinh tế và tài chánh Nguyễn Văn Thành là tập sách viết sự thực tế của chuyện đă xảy ra trong đời thường với những dẫn chứng số liệu rành mạch. Với cá nhân tôi khi đọc nó, tôi nhớ lại ngày nào trong giảng đường đại học làm quen với hồng thư nhật tụng kinh tế vĩ mô cơ bản của Paul Samuelson về những ư niệm như Theory of Keynesian Economics, hay Theory of Monetary Economics by Milton Friedman, hoặc theo hệ phái Kinh tế Áo với điển h́nh Carl Menger (Austrian Economics of liberalism and "Laissez-faire Economics”, với sự thực thi kinh tế tối hảo do sự can dự giới hạn của chính quyền; where economic performance is optimised when there is limited government interference).

 

a/ Theo trường phái Keynes, một kinh tế gia người Anh, John Maynard Keynes, lư luận rằng cơ chế thị trường sẽ tự động điều chỉnh thị trường tự do không hoạt động được. Dù lăi suất giảm nhưng đầu tư không tăng trưởng được do sự kỳ vọng về tương lai không có triển vọng lạc quan.

b/ C̣n Theo trường phái thiên về kinh tế tài chánh, hay kinh tế tiền tệ (monetarism) điển h́nh như kinh tế gia người Mỹ Milton Friedman, suy luận khủng hoảng là do sự xiết chặt quá mức của số cung tiền năm 1930, và rằng Cơ quan Dự trữ Liên bang đă sử dụng sai chính sách tiền tệ, đáng lẽ phải tăng số cung tiền, thay v́ đă giảm số cung tiền.

c/ Trường phái kinh tế học Áo giữ quan điểm rằng lạm phát bởi cung tiền tệ gây ra suy thoái kinh tế ngày nay và các thời kỳ suy thoái đó là động lực tích cực theo nghĩa chúng là cơ chế tự nhiên của thị trường điều chỉnh lại những nguồn lực bị sử dụng không hiệu quả trong giai đoạn tăng trưởng hoặc lạm phát. Phần lớn học giả theo thuyết tiền tệ tin rằng những thay đổi triệt để về cơ cấu kinh tế không phải là nguyên nhân chủ yếu; nguyên nhân của các thời kỳ suy thoái ở Mỹ là bởi quản trị tiền tệ yếu kém.

 

Sau cùng là lời biết ơn trong tấm thạnh t́nh văn học của 535 trang sách mới "Các Vấn Đề của Chúng Ta" toàn những chữ nghĩa công phu hàn lâm, bần bút tôi xin cám ơn hai nhà văn thân hữu Nguyễn Văn Thành, Minneapolis, Minnesota, và Trâm Anh, San Jose, California biếu món quà Noël thật ư nghĩa.

 

Trần Việt Hải

 

* Infolinks:

 

http://www.economist.com/news/finance-and-economics/21635050-weaker-world-economy-does-not-hurt-and-may-help-america-lonely-locomotive

 

http://press.ihs.com/press-release/economics-country-risk/us-locomotive-global-economic-growth-first-time-being-derailed-

 


Barack Obama, Vladimir Putin and Chinese premier and
event host Xi Jinping and wife Peng Liyuan) with 21 world
leaders who attended the summit of Pacific Rim nations
in Beijing today


Barack Obama also donned the burgundy outfit ahead
of a meeting with Xi Jinping in the day.

APEC Summit: Economic Leaders.


Smart: Mr Xi appeared to complement Mr Putin on his attire as the Chinese leader's wife looked on


Meet and greet: Then came Barack Obama's turn
to receive the compliment

 

 

 

 

Việt Hải, Los Angeles

12//2014

 

 

 

 

 

 

 

 

Thơ và Truyện của Việt Hải               |                 www.ninh-hoa.com