|
|
Vĩnh
Bi
ệ t
B
u ồ n
Tê
n h
Việt Hải

Tôi rời Sài G̣n cùng với gia
đ́nh chú tôi ngày tôi lên 18 tuổi như măng non, chưa biết nhiều về cuộc
đời. Trên chuyến tàu vượt biên định mệnh mang tên KG09, tượng trưng cho
con số hên 9 nút đó đă không đem lại một chuyến hải hành êm xuôi để cho
chúng tôi nhiều may mắn, mà trái lại rất nhiều xui xẻo. Chúng tôi gặp giặc
cướp bóc nhiều lần. Khi tàu bị bọn hải tặc đánh ch́m, chỉ c̣n một nhóm nhỏ
sống sót được cấp cứu đưa vào bờ.
Chú Lâm của tôi trong cặp mắt
mất thần, dáng người ủ rũ như người điên dại, tôi thật tội nghiệp cho chú
v́ khi tàu bị đắm, chú đau xót nh́n thân nhân ḿnh kêu gào mà chú không
thể cứu được thiếm và hai đứa con nhỏ Vĩnh và Thụy. Tất cả 152 người bị
chết ch́m và c̣n lại 9 người sống sót. Mường tượng lại nỗi sợ kinh hoàng
hăi hùng hàng trăm người la hét, khóc thét vẫn là sự ám ảnh muôn đời cho
tôi. Từ tỉnh Kiên Giang phía nam Việt Nam, ḷng tôi vừa lo sợ, vừa bùi
ngùi theo bầy chim bỏ xứ ra đi, xuyên qua biển Cao Miên có hải cảng
Kompong Som thật đẹp, trước khi vào lănh hải Thái Lan tàu chúng tôi bị
chận cướp 6 lần, đàn bà bị làm nhục và đàn ông kháng cự bị đánh đập và bị
giết chết, xác bị ném xuống biển. Vào biển Thái Lan chúng tôi bị cướp thêm
2 lần nữa và rồi chúng tôi chẳng c̣n ǵ cho bọn cướp, chúng đục phá tàu
chúng tôi trong nỗi vui sướng rất man dại. Khi 9 người chúng tôi ôm ván
hay các vật trôi nổi lềnh bềnh trên biển, chiếc tàu đánh cá Thái Lan thứ 9
lại nhân đạo ra tay cứu vớt chúng tôi. Viên thuyền trưởng người Thái Lan
gốc Triều Châu, có nước da ngâm đen sạm, trong gương mặt hiền từ nói tiếng
Tiều với chú Chương, bạn của chú Lâm là ông sẽ đưa chúng tôi vào gần bờ
thuộc tỉnh Songkla, từ đó chúng tôi bơi vào bờ và hăy khai báo là thuyền
bị đắm. V́ các tàu đánh cá Thái Lan không được phép đưa người tị nạn chui
vào đất Thái. Trong nỗi xót xa cho thân phận dân tị nạn Việt mất mát quá
nhiều, tôi hiểu nỗi khó khăn của ông thuyền trưởng người Tiều này.
Chúng
tôi tŕnh diện đồn cảnh sát gồm 7 người đàn ông và 2 người phụ nữ là Dung
Nhi 20 tuổi và Quỳnh Chi 27 tuổi được đưa vào bệnh viện cấp cứu v́ họ bị
làm nhục nhiều lần. Tuy vậy, họ may mắn sống sót, những phụ nữ khác đă vùi
thây vào ḷng đại dương bao la, hay biển cả vô tri của sự sợ hăi.
Tôi
xếp hàng đi lănh thức ăn, đem về mấy lít gạo, dầu ăn, muối, cá ṃi hộp do
Cao Ủy Liên Hiệp Quốc nuôi người tị nan. Tôi lo việc nấu nướng, chú Lâm
thường ở lại căn nhà tạm trú của chúng tôi, ông nghĩ ngợi, buồn rầu bâng
quơ, rồi có khi chú khóc như trẻ thơ v́ ông nhớ vợ, nhớ con. Tôi tội
nghiệp chú, trong sự liên hệ gia đ́nh chú là chú ruột áp út của tôi, khi
chú đau ḷng mất người thân th́ đó cũng là nỗi đau đớn của chính tôi. Tôi
nghĩ ông bà nội tôi, bố mẹ tôi sẽ buồn nhiều lắm khi nhận được tin xui xẻo,
chẳng lành này về chuyến đi của chúng tôi. Ngày rời Sài G̣n, chúng tôi len
lén ra đi về miền Tây mà không hề thông báo cho bà con hay bạn bè v́ an
ninh của chuyến đi chui. Tôi nhớ đêm ngủ trọ tại Rạch Giá, chú Chương sắp
xếp cho nơi ăn chốn ở của chúng tôi, trước đó chú bảo chúng tôi lúc ở Sài
G̣n ráng ngâm nắng cho da đổi màu nâu sạm như các ngư phủ đánh cá miền
duyên hải th́ mới đóng kịch "Vượt Biên" được. Vĩnh con trai lớn của chú
Lâm 12 tuổi rất vui vẽ nói chuyện với em gái nó Thụy 9 tuổi, hai đứa bảo
nhau mai này sang Mỹ th́ bố mẹ chúng sẽ cho đi máy bay đó đây, chúng nh́n
máy bay trên bầu trời mà thèm thuồng. Tôi cố nhóm lửa khói nhiều quá cay
mắt tôi, h́nh như tôi khóc v́ củi tươi c̣n chưa ráo nhựa hay tôi khóc v́
nỗi xót xa xa nhà, xa quê hương, khóc cho cái giá tự do quá đắt, quá thê
thảm, nhất là nhớ lại khi nh́n người thân kêu gào và từ từ ch́m vào ḷng
biển cả bao la. Trời nóng oi bức của vùng nhiệt đới, chú Lâm quấn cái mền
quanh cơ thể ngủ ngon sau nhiều đêm khó ngủ, ông trằn trọc như điên loạn.
Tôi đi ra ngoài ṿi nước công
cộng xách nước về, cạnh nhà chúng tôi là nhà chú Chương. Chú Chương cũng
chẳng khá hơn chúng tôi, ông mất vợ và 4 đứa con, người con trai chú nhỏ
hơn tôi một tuổi là Hoàng lại đóng vai tṛ đầu bếp như tôi, nấu nướng lo
cho ba nó.
Những hôm sau đó hai người con gái Dung Nhi và Quỳnh Chi được giao về lại
cho chú Chương v́ ông là người đă đứng tên chủ “hộ” cho 2 cô này, chú đă
kư nhận bảo lảnh hai cô gái này khi lên đất liền, Quỳnh Chi là cháu ruột
của chú Chương và gia đ́nh ba mẹ Dung Nhi vốn là bạn rất thân với chú
thiếm Chương và họ đă tử nạn cùng chuyến tàu định mệnh KG09.
Mấy ngày sau đó bọn chúng tôi
4 đứa chị Quỳnh Chi, Dung Nhi, Hoàng và tôi thường sinh hoạt chung. Mấy
người bạn bè chú Lâm và chú Chương từ các nước tự do gửi tiền cho, chúng
tôi bắt đầu ăn “thịnh soạn” hơn, chúng tôi mua rau cải, đường, đậu, các
thức ăn tươi cho các bữa ăn dinh dưỡng hơn trong ngày. Người Thái Lan địa
phương có các hoạt động buôn bán cho người tị nạn, nhu cầu gặp nhau đôi
bên đều có lợi. Một hôm tôi nhóm lửa cho Dung Nhi nấu chè đậu xanh v́ chú
Lâm mấy hôm không ăn uống ǵ cả, tôi mua đậu xanh và nhờ Dung Nhi sang nấu.
Khi đợi cho chè chín, tôi và Dung Nhi tâm sự trao đổi nhiều mẫu chuyện t́m
hiểu về nhau. Tôi biết chị rất đau buồn v́ sự mất mát gia đ́nh, nhưng nghị
lực phấn đấu chị vẫn c̣n, chị là ngượi có bản lănh và sự tự tin. Chị t́m
hiểu từ bạn bè trên các nước gửi thơ cho chị, chị góp ư cho tôi nhiều kế
hoạch cho tương lai. Chúng tôi cùng đi học Anh văn, chị chỉ dẫn tôi về bài
vở. Tôi đề nghị chị sang đi bên gia đ́nh tôi bằng cách “ghép form” với tôi.
Tôi kể cho chú Lâm nghe vụ “ghép form” mà ông không phản đối ǵ cả.
Một hôm chị và tôi đi học Anh ngữ về, chúng tôi gặp chú Lâm và chú Chương
đang chuyện tṛ gần pḥng thông tin, chị ngỏ ư với hai chú là chị xin dọn
sang nhà chúng tôi để hợp cho cung cách “ghép form”, v́ hai đứa tôi cần đi
chung và như vậy chị giúp tôi thêm, hai chú đồng ư v́ gia đ́nh tôi sẽ
interview với phái đoàn Mỹ tuần sau và chú Lâm có thứ tự ưu tiên sẽ sang
Mỹ trước. Chú Lâm khi xưa sang Mỹ du học và về xứ làm cho công ty xăng
Esso, chú được phái đoàn Mỹ cho lên danh sách ưu tiên đi Mỹ. Phần chú
Chương được người em gái tại Cali đứng ra bảo lănh, nhưng hồ sơ chưa phỏng
vấn v́ giấy tờ chú kê khai bị trục trặc, không ăn khớp nên người em gái từ
Mỹ sẽ gửi sang bổ túc xác nhận lư lịch thêm.
Như vậy trong “hộ”, tức gia
đ́nh chúng tôi gồm người chú, người cháu và cô fiancée Dung Nhi được đi Mỹ
trong 2 tuần nữa. Trong cái thâm t́nh theo ngày tháng đă gần gủi nhau và
để hợp lư cho vấn đề hôn nhân giả “ghép form”, Dung Nhi yêu cầu tôi gọi
Dung Nhi bằng tên, thay v́ bằng “chị”. Thế là cái đêm sau buổi sáng được
vinh dự “đậu” đi Mỹ, Dung Nhi nấu nồi chè đậu đỏ khoản đăi bạn bè, cḥm
xóm. Tôi đóng vai chú rể trẻ 18 trăng tṛn làm chồng tương lai Dung Nhi
20. Bạn bè chia vui chúng tôi và kèm theo tí ti chế nhạo chúng tôi. Nhưng
h́nh như ít người biết sự liên hệ thật sự giữa hai chúng tôi, v́ nhiều hôm
Dung Nhi dạy tôi các bài tập Anh văn xong tôi tự nhiên ôm hôn cô giáo Dung
Nhi, và nàng lại rất hấp dẫn trong tâm trí của tôi và khi tôi hôn th́ Dung
Nhi lại không tỏ vẽ phật ư ǵ cả. Dung Nhi kể là nàng có người em bằng
tuổi tôi, nhưng đă qua đời v́ bệnh sốt xuất huyết hồi nhỏ, nàng thương tôi
như em vậy thôi. Hơn nữa, trong cái trại tị nạn xa lạ này tôi bảo vệ cho
nàng. Khi Dung Nhi hay Quỳnh Chi đi các nhà restroom công cộng tôi theo hộ
tống đứng ngoài canh gác v́ các phường ba gai, du đăng hay phá quấy trong
trại. Mỗi chiều tối nàng đi tắm th́ cách tắm tại trại tị nạn này là thật
là buồn cười v́ sơ khai như các bộ lạc thuở xa xưa, nàng vấn cái sà rong
rộng thùng th́nh vào ngang người, và tôi giúp nàng xối nước gội đầu, cái
nhà tắm lộ thiên chơi vơi như vậy nằm ngay ngoài sân sau nhà, cũng tiện v́
khỏi phải đi xa. Nàng rất sạch sẽ, hầu như mỗi ngày nàng đều phải tắm gội,
và mỗi ngày tôi phải xách nước cho cô giáo này tắm, chính v́ thế tôi thấy
“con chuôt” ở hai bắp tay tôi càng ngày càng rắn rỏi hơn. Cái thẹn thùng
và kỷ niệm cho tuổi đời chúng tôi khi nàng luồng tay vào sà rong kỳ cọ,
tôi xoay mặt đi hướng khác, giả vờ như không biết để nàng tự nhiên làm
công tác vệ sinh. Sự xa quê hương rồi chúng tôi đến với nhau thật t́nh cờ.
Mấy hôm trời mưa ṛng ră, tôi chạy ra ngoài mua đồ hay lảnh đồ cho gia
đ́nh, ban đêm tôi bị cảm sốt lạnh run, tôi nhớ bên ngoài hăy c̣n mưa rơi,
h́nh như Dung Nhi say ngủ ở bên giường phía góc trái, tôi khẽ gọi nàng,
nàng mau mắn thức dậy cạo gió và đánh dầu nóng cho tôi. Tại đây chúng tôi
không có thuốc men trong đêm khuya mưa băo như thế này. Dung Nhi cho tôi
hơi ấm từ bàn tay mềm mại và sự dịu dàng của nàng. Chúng tôi ngủ tiếp, lần
này nàng sang ngủ giường tôi, chúng tôi ôm nhau ngủ khi bên ngoài vẫn c̣n
mưa rơi và trời chưa sáng.
Ba người chúng tôi mang tâm
trạng bỡ ngỡ như dân quê mùa lên thành thị, cái phi trường Los Angeles lần
đầu tiên hiện ra trong ánh mắt tôi. Nó nguy nga vĩ đại, nó tôi tân, sang
trọng như thiên đàng, chả bù với cái phi cảng Tân Sơn Nhất bé nhỏ hay ngay
cả phi cảng Bangkok năm 1981, Bangkok hăy c̣n cái nét quê mùa lắm. Chú
Quốc Dân là bạn học cũ với chú Lâm ra đón chúng tôi và tôi nghe mấy chú
nói về chuyện vượt biên, về sự rùng rợn của chuyến đi, và nhiều mẫu đối
thoại về đời sống và kỷ niệm khác. Trong khi đó đôi mắt tôi vẫn miên man
dán vào cửa kính xem ngoại cảnh, để rồi đi từ ngạc nhiên này sang ngạc
nhiên khác, ngẩn ngơ v́ cái hiếu kỳ mới lạ của nước Mỹ. Chúng tôi dừng
chân tại cái thành phố bé nhỏ, rất thanh b́nh, yên tĩnh được gọi là Simi
Valley. Mấy người láng giềng của chú Dân và gia đ́nh chú ấy ra nghênh đón
chúng tôi với sự hiếu kỳ và thương hại. Có lẽ họ nghĩ chúng tôi vừa thoát
nạn từ cuốn phim đẫm máu “The Killing Fields”, mà h́nh như gần đúng như
vậy, chúng tôi có nước da sạm nắng cháy đen ng̣m của vùng rừng núi của
miền nhiệt đới như Thái Lan hay Cao Miên.
Mấy tháng sống tại Mỹ chúng
tôi lần lần hội nhập vào đời sống mới. Chúng tôi thuê cái apartment 2
pḥng, vẫn như thuở bên tị nạn trại Thái Lan, chú Lâm ngủ riêng, tôi và
Dung Nhi ngủ chung pḥng, đi học và đi làm tại đại học Moorpark College.
Ba người chúng tôi đều lái xe. Chú Lâm đi làm lái xe hơn nữa giờ, ông cũng
là mạnh thường quân nuôi chúng tôi hoc hành, v́ chúng tôi chỉ có học bổng
căn bản và hưởng lương Work Study bán thời gian với số lương khiêm nhường
mà thôi. Theo hồ sơ di trú, chúng tôi vẫn là vợ chồng trên giấy tờ. Tôi và
Dung Nhi h́nh như vẫn để nó yên lặng như vậy mà chưa có sự sửa đổi mới.
Tôi biết tôi có thói quen hay ôm nàng khi chúng tôi ngủ. Ngày cuối tuần
chúng tôi theo bạn bè đi chơi đó đây, chú tôi thường quanh quẩn xung quanh
con phố nhỏ, hiền hoà này. Ông mệt mỏi v́ đi làm lái xe đi làm xa, cuối
tuần ông muốn nghỉ ngơi hay đi theo các bạn lớn tuổi của chú họp nhau tán
gẫu.
Phần khác v́ ḷng ông vẫn c̣n nhung nhớ, vương vấn đến sự mất mát vợ
con. Dù mỗi lần đi chơi xa nhưng tôi thường nghĩ ngợi về chú. Tôi thật tội
nghiệp chú, một người đàn ông chỉ 40 mà đă dở dang đường t́nh. Ông là
người chồng, người cha nhân hậu, hiền từ. Với tôi, ông cũng là người chú
tốt, ông đóng vàng cây cho tôi vượt biên và giúp tôi và Dung Nhi đi học.
Dung Nhi học ngành tâm lư học, c̣n tôi lại chọn ngành xă hội học. Chúng
tôi học tiếp lên cao khi xin chuyển sang trường lớn, UCLA. Sau bậc cử nhân
4 năm, cả hai chúng tôi học tiếp lên cao học. Khi các trại tị nạn tại Đông
Nam Á (ĐNA) càng xua đuổi, đẩy người tị nạn ra khơi hay đưa về nguyên quán,
v́ họ quá mệt mỏi chán nản người dân tị nạn chúng tôi, họ muốn giải quyết
phức vấn nạn tị nạn Đông Dương. Tôi được mấy người bạn cũ trong trại tị
nạn kêu gọi hăy trở lại ĐNA giúp đỡ người tị nạn. Chuyến trở lại ĐNA của
tôi cả hai chú Lâm và Dung Nhi không ngăn cản và cũng không tỏ ư thích thú
bàn luận ǵ cả. Với hai người này chốn cũ mà họ đă đi qua chỉ nhắc nhỡ
những kỷ niệm quá đau buồn, họ không muốn khơi lại vết thương cũ nữa. Dung
Nhi theo đuổi học tiếp ra tiến sĩ tâm lư học. Chú tôi mở cơ sở thương mại,
ông bận rộn cả ngày. Ư ông h́nh như không muốn tôi ra đi như khi tôi thông
báo ông là tôi sẽ về Á châu. Ông chỉ dặn ḍ tôi nên cẩn thận.
Nhóm bạn tôi tụ họp tại Hong
Kong v́ nơi này đồng bào đấu tranh dử dội. Chúng tôi gồm nhiều bạn trẻ từ
Mỹ, Úc, Canada, Pháp, Anh,... làm t́nh nguyện giúp đồng bào. Tôi muốn trở
lại trại tị nạn cũ của tôi tại Thái Lan, nhưng chính quyền tại đây không
muốn chúng tôi. Chỉ có hai nơi Phi Luật Tân và Hong Kong là dễ dăi cho
chúng tôi hoạt động hơn các nơi khác. Và tai Hong Kong tôi quen một người
bạn mới là Mai Lan. Mai Lan đă ghé qua trại tị nạn Hong Kong năm 1978 trên
chuyến vượt biên được tàu thương thuyền Anh cứu vớt và mang vào tạm trú,
tá túc tại đây. Nàng kể tôi nghe thời gian đó chính quyền và người Hong
Kong đón dân tị nạn với tấm ḷng mở rộng vị tha lắm. Gia đ́nh nàng được
thong thả ra phố kiếm việc làm. Nàng và người chồng cũ xích mích, gây gổ
v́ hai bên gia đ́nh sui gia rất nghịch nhau, chàng bênh gia đ́nh chàng,
nàng bênh gia đ́nh nàng. Họ tan vỡ và chia tay nhau trong cay đắng. Chàng
bắt đứa con trai chung 3 tuổi, rồi cùng cha mẹ sang định cư tại Toronto,
Canada. Nàng theo cha mẹ đi định cư tại Sydney, Australia. Tôi biết đất
Hong Kong đông đúc dân chúng này cũng nhắc nhở nàng nhiều kỷ niệm nhiều
vui buồn. Chúng tôi trao đổi nhiều kinh nghiệm làm việc tại trại cấm tại
Hong Kong như trại cấm Chi Ma Wan, trại cấm White Head. Đây là trại giam
giữ đông đảo dân tị nạn. Đỉnh cao của nó vào những năm đông nhất là 29.000
người. Kể từ năm 1989, Kế Hoạch Hành Động Toàn Diện - Comprehensive Plan
of Action (CPA) - ra đời, vấn đề thanh lọc gắt gao hơn, buộc đồng bào hồi
hương. Do đó việc làm chúng tôi càng khó khăn hơn, càng bề bộn, vất vă hơn.
V́ di chuyển thường xuyên và quá bận tôi ít liên lạc với Dung Nhi và chú
Lâm tại Mỹ. Cái thực tế mỗi ngày hoạt động ráo riết can thiệp cho nhiều hồ
sơ đầy ắp tại Hong Kong, vô h́nh chung tôi gần gủi với Mai Lan hơn.
Tôi
thấy nàng có tấm ḷng từ thiện và bác ái. Nàng thương người cô thế, nàng
làm việc không mệt mỏi, làm quên thời gian để giúp đỡ đồng bào. Khi xưa
nàng theo học tại Bác Ái Học Viện (Institut de Fraternité) trong Chợ Lớn.
Buổi họp nhóm sáng nay nàng đưa ra những kế hoạch đối phó với hồ sơ thanh
lọc cẩu thả của chính quyền Hong Kong. Nàng tốt nghiệp ngành luật khoa tại
Canberra, nàng khôn khéo và lanh lợi, nàng có cái hấp lực vô biên khi tôi
làm việc chung. Sự giúp đỡ đồng bào được đổ dồn về trại cấm White Head,
nơi bị cảnh sát bố ráp, tấn công người tị nạn thô bạo và ép buộc họ phải
lên đường hồi hương, đồng bào kháng cự mănh liệt, nổi lửa phóng hỏa các
barracks, ấu đả với cảnh sát, tuyệt thực, tự vận, rất thương tâm. Tôi c̣n
nhớ Mai Lan cùng hai bà thiện nguyện viên Sally O’brien từ Mỹ và Meredith
Miller từ Úc sang trong toán chúng tôi đă từng khóc ṛng trong nỗi bất lực
khi nh́n từng đứa bé ngây thơ hay từng phụ nữ yếu đuối bị khiêng đi như
con vật rồi vất vào xe bít bùng tải ra phi trương đuổi về quê hương, họ
kêu gào, van lạy, khóc lóc thảm thiết trong tuyệt vọng. Chúng tôi đứng
chứng kiến trong nỗi đau xót, ngậm ngùi. Những người xui xẻo khi đi tị nạn
cuối mùa, không như tôi hay Mai Lan, nhanh chân vượt biên sớm hơn họ.
Một hôm chiều trong nỗi buồn
bă tuyệt vọng, Mai Lan rủ tôi đi ra phố ăn tối và nói chuyện đời. Trong
buổi ăn hôm đó, tôi hiểu nàng nhiều hơn, tôi khám phá ra hai điều mà tôi
chưa từng biết trước đây:
1- Hôm nay là ngày sinh nhật của nàng và
2- Nàng bảo là nàng yêu tôi.
Tôi vội níu tay nàng ghé ngay
vào một cửa hiệu kim hoàn mua biếu nàng một cái đồng đeo tay, v́ tôi thấy
nàng bận rộn mà tay chẳng có đồng hồ. Phải nói là trong tâm hồn nàng, nàng
chủ trương lối sống thật ḷng, sống vui vẽ, sống thoải mái và sống giản dị.
Tôi đeo đồng hồ mới vào tay nàng và chúc nàng sinh nhật thật hạnh phúc.
Nàng mỉm cười và cho biết đi bên tôi là nàng đă có hạnh phúc rồi. Chúng
tôi ra ngắm biển vào buổi chiều, Hong Kong là thành phộ ven biển. Mai Lan
biết tôi có Dung Nhi trong tim th́ nàng chỉ là người bạn trong chuyến công
tác xa nhà này thôi. Nàng nói nàng không dám nh́n xa hơn với tôi. Tôi đang
trong tâm trạng áy náy và nghĩ ngợi về nỗi mặc cảm vu vơ, như nỗi phiền
muộn trong tâm hồn. Mai Lan và tôi ghé quán café văn nghệ thính pḥng ven
biển, nơi đây có nhạc nhẹ như đệm piano, nhiều khách hàng đến ca và đàn.
Mai Lan đă đến nơi này vài lần và đây là lần đầu tôi ghé qua một quán nhạc
như vậy. Khách có thể nh́n ra biển xa xa thật mênh mông, khung cảnh thính
pḥng ấm áp vừa lăng mạn, vừa có nhạc sống mà khách có thể tự ḿnh biểu
diễn ca hát hoặc lắng nghe nhạc thính pḥng. Thật vậy quán mang sắc thái
rất Âu châu thơ mộng như Vienna hay Paris. Mai Lan ngồi lên chiếc dương
cầm và nàng thả đôi tay lă lướt, bay nhảy trên phím đàn. Nàng đàn liên tục
từng đoạn trong những bài ca tôi vô cùnh thích thú: Réverie du Soir (Sweet
dream, Tchaikovsky), Nocturne in E (Chopin), Lettre à Ma Mere, Fur Elise,
Moonlight Sonata (Beethoven), và Claire de Lune (Claude Debussy). Mai Lan
học dương cầm từ thuở nhỏ. Nàng rất mê đàn dương cầm và thích ca hát. Nàng
hát hai bài hát tôi yêu cầu là Sérénade và Le Danube Bleu với tiếng đàn
thật mầu nhiệm và rồi hát một ca khúc rất "Việt Nam" là bài "Cát Bụi" sau
khi nàng dịch ư nghĩa cho khách tại quán, giọng ca nàng ray rứt và buồn bă
như tiễn đưa các thuyền nhân đă ra đi v́ biển cả hay đă tự kết liễu đời
ḿnh trong các trại tị nạn mà chúng tôi đă cùng tranh đấu cho họ.
Nhân
dịp cuối năm tôi và Mai Lan về thăm gia đ́nh, tôi trở lại Hoa Kỳ. Nàng ghé
Toronto thăm con trai nàng trước khi về lại Úc. Chúng tôi đáp cùng chuyến
bay về hướng bắc Mỹ châu. Tôi nói với nàng tôi rất mong là có dịp tôi sẽ
sang Úc châu thăm quê hương thứ hai nơi nàng cư ngụ. Chia tay nhau tại Los
Angeles, nàng đổi chuyến bay đi Toronto, tôi cuối xuống hôn môi nàng từ
giả, nàng ôm gh́ lấy tôi trong ánh mắt lưu luyến.
Những
lúc xa nhà như các chuyến trở về Á châu làm thiện nguyện. Tôi thích thú và
phấn khởi v́ có tính mạo hiểm, v́ sống theo ư muốn của ḿnh, theo ư muốn
tuổi trẻ thích phiêu lưu, thích thử thách khi giúp người. Nhưng mặt trái
của vấn đề tôi cảm nhận sự thiếu sót t́nh cảm cần để ư đến Dung Nhi hơn.
Dù sao chúng tôi đă sống như người yêu, như h́nh thức vợ chồng by common
law dù là chưa chính thức cưới. Chính điểm mặc cảm then chốt này khiến tôi
chùn bước trước Mai Lan. Mặc dù nhiều chuyến công tác chung chúng tôi khá
gần gủi, chia chung pḥng ngủ hay chia chung giường. Thật ḷng mà nói với
Mai Lan, tâm tư tôi nhiều lúc bồi hồi, xao xuyến, rồi lại lạc lỏng, phân
vân, biểu hiện cho con tim nhiều trăn trở, đầy muộn phiền.
Tôi về đến nhà 11 giờ khuya.
Đèn đường tỏa mờ khu phố vắng Simi Valley. Tôi đi rón rén vào nhà và v́
căn nhà yên tĩnh quá. Tôi vào pḥng ngủ t́m Dung Nhi, Dung Nhi đâu chẳng
thấy. Linh tính cho sự kiện khác thường, tôi bước sang pḥng chú Lâm, tôi
nhẹ mở cửa, đèn ngủ toả sáng một góc giừờng, tim tôi chết điếng người mục
kích Dung Nhi nằm ngủ trong ṿng tay chú tôi. Thật ra điều ngang trái này
có những lúc tôi đă tự đặt nghi vấn nàng đă có t́nh nhân, v́ sau này tôi
và nàng đă rất hiếm khi liên lạc với nhau, v́ khi con tim tôi chao đảo tại
đất Hong Kong với Mai Lan, th́ tôi phải trả cho cái giá trước mắt tôi thôi.
Tôi nhớ Dung Nhi thường đổ thừa cho bận rộn làm việc và vẫn lo chu toàn
cơm nước cho chú Lâm như khi xưa để bớt gọi thăm tôi. Phần tôi, tôi lại
viện lẽ như lời than văn với Dung Nhi nhiều việc cần làm gấp cho đồng bào
để rồi cả hai chúng tôi tự động xa nhau. Tôi thương chú Lâm v́ chú là em
bố tôi, chú cưu mang đời tôi nhiều lần. Khi chú khóc có nghĩa là tôi khóc.
Phải chăng nếu chú vui là tôi vui ? Và khi chú hạnh phúc là tôi có hạnh
phúc ? Tôi ngồi xuống bàn viết lá thơ từ biệt cho chú Lâm và Dung Nhi, tôi
hiểu t́nh cảm của hai người mà trong căn nhà này mà tôi là kẻ dư thừa, tôi
cần lánh mặt, dọn đi nơi nào thích hợp cho tương lai tôi. Tôi chúc hai
người hạnh phúc. Xong tôi gọi cho Mai Lan ngày hôm sau từ khách sạn là tôi
đổi ư sẽ sang Úc châu của nàng sinh sống và lập nghiệp ở đó với nàng. Nàng
chia sẻ cái xui của đời tôi, nhưng cũng là ngă rẽ xoay về hướng nàng. Tôi
bảo nàng đợi tôi tại Toronto v́ tôi sắp xếp cho chuyến sang Úc, sau đó hai
đứa cùng nhau từ Toronto bay sang Sydney. Ba ngày sắp xếp của tôi đă qua
mà sao ngày lại trôi qua thật chậm chạp và quá dài, mà ḷng bỗng bồn chồn
vô kể. Tôi cần Mai Lan hơn bao giờ hết. Tôi muốn gặp Mai Lan ngay lúc này
để nói với nàng tôi đă yêu nàng thật rồi. Tuy nhiên, tôi thấy ḷng khó
chịu như linh tính thêm điềm xui nào khác chăng ? Hay là nàng đă gặp lại
người chồng cũ, và nàng sẽ nối lại t́nh xưa ? Tôi đang cô đơn trong ư nghĩ
và ước mong giả thuyết của tôi không là sự thật.
Tôi
sang đến nhà con trai nàng là cái apartment trong thị trấn Scarborough,
gần trường đại học Toronto. Tôi gặp B́nh, chồng cũ của nàng cho biết nàng
và con trai bị tai nạn thảm khốc khi con trai nàng chở nàng đi thăm cô bạn
Vân Trang, một t́nh nguyện viên rất thân với Mai Lan tại Hong Kong mà tôi
biết khi sinh hoạt, làm việc chung. Tôi chết điếng người trong sự cô đơn
kế tiếp. Tại sao cái thế giới xung quanh tôi thay đổi quá mau lẹ đến chóng
mặt, hoa mắt tôi ? Nó đă đưa tôi đi từ thất vọng này sang thất vọng khác.
B́nh cho tôi hay Trí con trai của hai người bị thương nặng, nhưng c̣n sống,
Mai Lan bị chấn thương sọ năo, khi xe cứu thương đưa vào bệnh viện th́
nàng qua đời. Sáng mai tôi và B́nh sẽ ra sân bay để đón ba và anh Mai Lan
từ Sydney sang đem xác nàng về chôn cất tại Úc. Tâm hồn tôi nặng trĩu, ră
rời, niềm hy vọng trước đây lại trở thành nỗi bùi ngùi thất vọng khôn tả.
Sau ngày chôn cất Mai Lan, ba mẹ và anh em Mai Lan bảo tôi hăy ở lại
Sydney với họ để bắt đầu cuộc sống mới tại vùng đất mà tôi đă thủ thỉ với
Mai Lan nhiều lần là tôi muốn đến thăm nàng. Giờ đây tôi đă có mặt tại Úc
châu, th́ nàng lại vội vă ra đi. Mai Lan kể cho gia đ́nh nghe về tôi, gia
đ́nh nàng tiếp đón tôi nồng hậu trong t́nh cảm thân thiện. Tôi đồng ư ở
lại đây định cư và cám ơn họ. Mỗi tuần tôi đem bông đến thăm mộ nàng.
Khung cảnh nghĩa trang Lidcome thật yên b́nh, thật thanh thản. Tôi chậm
bước đến trước mộ nàng, trên bia đá có bức h́nh của nàng tươi cười trong
sự tự tin và yêu đời, h́nh được cẩn vào bia đá. Nay v́ sao Thiên Xứng tự
tin ấy của tôi đă ra đi, bỏ tôi lại với một chân trời mới lạ vùng Nam Cực.
Tôi đốt nén nhang cầu nguyện nàng giúp tôi sẽ thành công tại quê hương mới
này như niềm tin yêu và nụ cười luôn luôn nở trên môi nàng. Tôi đọc thơ
của thi sĩ Thâm Tâm mà nàng hằng ưa thích như bài "Tống Biệt Hành":
"Đưa người ta không đưa sang sông,
Sao nghe tiếng sóng ở trong ḷng ?
Bóng chiều không thắm, không vàng vọt,
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong ?... "
Đoạn tay tôi sờ lên bức h́nh
của nàng như hôm nào tôi cuối xuống hôn môi nàng khi chia tay nhau tại phi
cảng Los Angeles. Trong niềm cô đơn tuyệt đối, tôi đọc bài thơ khác là bài
"Dang Dở", cũng của Thâm Tâm:
"Khi biết ḷng anh như đă chết,
Mây thôi hồng, và lá cũng thôi xanh.
Màu hoa tươi cùng héo ở trên cành
Và vũ trụ thay một màu đen tối... "
Tôi tước từng cánh hoa hồng để
biểu tượng cho một đóa hoa hồng nhan bạc mệnh đă thật sự trở về với cát
bụi, mà hồn tôi bỗng nhớ bài ca cũ mà nàng đă hát tại quán nhạc thính
pḥng Hong Kong năm nào:
“Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi
Để một mai vươn h́nh hài lớn dậy
Ôi cát bụi tuyệt vời
Mặt trời soi một kiếp rong chơi
Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi
Để một mai tôi về làm cát bụi
Ôi cát bụi mệt nhoài
Tiếng động nào gơ nhịp không nguôi
...
Mặt trời nào soi sáng tim tôi
Để t́nh yêu xay ṃn thành đá cuội
Xin úp mặt bùi ngùi
Từng ngày qua mỏi ngóng tin vui
Cụm rừng nào lá xác xơ cây
Từ vực sâu nghe lời mời đă dậy
Ôi cát bụi phận này
Vết mực nào xóa bỏ không hay... ”
Việt Hải
Los Angeles
*Tặng Đặng Thành Danh, Sydney, Australia.
|