|
 |
|
|
|
Nguyễn Văn Thành
|
|
So Sánh Nền Giáo Dục
Đào Tạo Chuyên Viên
Và Việc Hành Nghề tại
Hoa Kỳ và Việt Nam:
Phần 1 | Phần
2
|
Phần
3

|
|
|

SO
SÁNH
NỀN
GiÁO
DỤC
Đào
TẠo CHUYÊN
VIÊN
VÀ
VIỆC
HÀNH
NGHỀ
TẠI
HOA
KỲ
Và
VIỆT
NAM
Nguyễn Văn Thành


Phần 2:
II- Tương lai của các sinh viên Kỹ Sư tốt nghiệp:
B- Tại Việt Nam:
Ở
Việt Nam, nói chung muốn vào các trường Kỹ Sư
(thường gọi là trường Bách
Khoa) tại Hà Nội và Sài G̣n, thí sinh phải qua một kỳ thi tuyển lựa rất khó
khăn. Tỉ lệ đậu trong khoảng 10-15%, tùy trường chuyên môn thí dụ Điện, Cơ
Khí, Hóa Học v.v... Thời gian học từ 4 đến 5 năm, cũng rất khó khăn.
T a
có thể nói các Kỹ Sư ở Việt Nam có bằng tốt nghiệp có tŕnh độ tương đương
với Kỹ Sư bậc 1 của Hoa Kỳ (BS Engineering). Lư do hiện nay các ngành Tiến
Sĩ Kỹ Sư và Thạc Sĩ Kỹ Sư c̣n sơ khai tại Việt Nam nên chưa có nhiều người
tốt nghiệp trong khi tại Mỹ có rất nhiều. Sau khi ra trường, các Kỹ Sư
Việt Nam nếu không có thêm kiến thức về khoa Điện Toán (Tin Học) và vốn
liếng Anh Văn khá cao th́ cũng khó kiếm việc làm, đôi khi c̣n phải chạy
chọt mới có một chỗ làm cho nhà nước. Muốn làm cho các Công ty ngoại quốc
với mức lương từ 200-500 USD (đô-la Mỹ), sinh viên ra trường thường phải
thật xuất sắc và qua được cuộc phỏng vấn bằng Anh Ngữ của các Công ty
Ngoại quốc do các chuyên viên ngoại quốc phỏng vấn.
C ái
khó của sinh viên Việt Nam là dù có học tiếng Anh, viết tiếng Anh rất khá
nhưng không có cơ hội tiếp xúc trực tiếp với người ngoại quốc cho nên nghe
tiếng Anh không hiểu, là một vấn đề gặp phải. Vậy nói tiếng Anh mà người
ngoại quốc không hiểu th́ cũng khó kiếm được việc làm với Công Ty ngoại
quốc.
T óm
lại, việc kiếm việc làm khi mới ra trường là một điều khó khăn đầu tiên
của các sinh viên Việt Nam, trừ khi có cha anh là đảng viên cao cấp, có
chức có quyền th́ mới lọt được vào viên chức nhà nước với số lương khoảng
1 triệu đến 2 triệu đồng VN tương đương trên dưới 100 USD. Trong khi làm
việc, các Kỹ sư làm cho nhà nước thường không gặp nhiều khó khăn nhưng nếu
làm cho các Công Ty ngoại quốc th́ phải theo quy chế của từng Công Ty,
nhất là phải cố gắng nói tiếng Anh cho cấp chỉ huy hiểu được th́ mới có cơ
hội thăng tiến nghề nghiệp. Tuy nhiên, các Công Ty ngoại quốc thường chỉ
lợi dụng công nhân Việt Nam với giá lương rẻ cho nên các công nghệ ở Việt
Nam thường là sản xuất thí dụ: các xưởng sản xuất xe hơi của Toyota, Ford,
v.v..., các xưởng đóng giày Nike, các xưởng may quần áo, gia công cho các
công ty thí dụ JC Penney, Target, Walt Mart,v.v...
N hư
vậy, các Kỹ Sư Việt Nam trong khi học ở trường tới khi đi làm việc, thường
lẩn quẩn ở các khu sản xuất nên không có cơ hội sáng tạo (Design), thử
nghiệm (Test and Development) như các sinh viên Kỹ sư tốt nghiệp tại Hoa
Kỳ. Kết quả là sau thời gian 10-15 năm, các Kỹ Sư tại Hoa Kỳ sau khi tốt
nghiệp đă gặt hái được khá nhiều kinh nghiệm trong khi các Kỹ Sư tại Việt
Nam chỉ phát triển được trong ngành sản xuất mà không phát triển được
trong ngành sáng tạo, nghiên cứu các sản phẩm mới. Ấy là chưa kể các sinh
viên tốt nghiệp ở Việt Nam không thật sự xuất sắc và không có tiền để đút
lót th́ không được hành nghề Kỹ Sư mà phải hành nghề ngoài ư muốn thí dụ
nhân viên hướng dẫn du lịch đôi khi lại làm nghề đấm bóp hay tẩm quất
(massage) mà các báo trên những mạng Internet thường nói đến.
N ói
một cách tổng quát, tŕnh độ và kiến thức của sinh viên Kỹ Sư ra trường
tại Việt Nam không thua kém với các sinh viên tại Mỹ trừ trường hợp các
sinh viên thuộc ban Điện Toán (Tin Học) v́ các tài liệu giảng dạy thường
không được cập nhất hóa kịp thời và v́ vậy khi đi dự phỏng vấn với các
Công Ty ngoại quốc không trả lời được theo đúng những tài liệu mới nhất ở
ngành Tin Học, do đó khó kiếm việc làm.
X em
như vậy, ngành giáo dục tại Việt nam cần phải được cải tổ sao cho phát
triển tương đương với ngoại quốc, nhất là phải phát triển các ngành Thạc
Sĩ và Tiến Sĩ để có đủ chuyên viên nhận những dự án của ngoại quốc cần
nhiều nhân tài. Một thí dụ cụ thể là nhiều Công Ty phần mềm của Mỹ như
IBM, Microsoft mang nhiều công việc của họ tới Ấn Độ chứ không mang tới
Việt Nam với lư do Ấn Độ có đủ chuyên viên có tay nghề cao lại thông thạo
tiếng Anh cả viết lẫn nói, đáp ứng và thi hành được các đ̣i hỏi từ Công Ty
chính. Vậy việc mở rộng trường Đại Học đến các bậc Thạc Sĩ và Tiến Sĩ là
cần thiết để giúp cho nền kinh tế phát triển.
III- Sự Đào Tạo các Bác Sĩ Y Khoa và Hành Nghề:
A- Tại Hoa Kỳ:
a) Điều Lệ:
T rong những
loạt bài "Sự Giáo Dục và Thi Cử Qua các Thời Đại ở Việt Nam đă nói đến các
trường Y Khoa tại Việt Nam, ở đây ta chỉ nói đến các sự học hành về Y Khoa
tại Hoa Kỳ rồi so sánh sự hành nghề tại Mỹ và Việt Nam.
M uốn
vào trường Y Khoa tại Hoa Kỳ thường phải có bằng tốt nghiệp 4 năm ở các
trường Đại Học Hoa Kỳ như BS (Bachelor of Sciences) hay BA (Bachelor of
Arts) và phải học một số lớp Dự bị Y Khoa (Pre-Med) đặc biệt là các lớp về
Lư, Hóa, Sinh, Toán, Anh văn rồi dự một kỳ thi tuyển vào trường Y Khoa gọi
là MCAT (Medical College Admission Test).
T rái
với các trường Kỹ Sư, các trường Y Khoa giới hạn số sinh viên vào mỗi
trường thí dụ như trường Đại Học Minnesota mỗi năm chỉ nhận 165 sinh viên
vào trường trong đó có khoảng 127 sinh viên thường trú (permanent
residents) tại Minnesota, số c̣n lại khoảng 38 sinh viên trên khắp các tiểu
bang khác (non-permanent residents).
S ự
tuyển lựa dựa trên nhiều phương diện: trước hết là điểm GPA (Grade Point
Average) từ 3.5 trở lên có trường nhận 3.8 trở lên (A=4.0, B=3.0, C=2.0),
thứ hai là điểm thi MCAT, thứ ba là các công tác từ thiện mà thí sinh xin vào
trường có trong các hoạt động nhân đạo, làm việc thiện nguyện trong các
trường Y Khoa, nhà thương, hội Hồng Thập Tự, giúp đỡ kẻ nghèo khó. Nói như
vậy có nghĩa là các Bác Sĩ tương lai là các người có ḷng thương yêu đồng
loại chứ không phải là những người chỉ mong tốt nghiệp để ra kiếm tiền
nhiều.
W esite sau
đây sẽ nói rơ chi tiết liên quan đến cách chuẩn bị vào trường Y Khoa:
http://hns.class.umn.edu/health_science_programs/medicine.html
Đây là thí dụ về sự tuyển lựa vào trường Y Khoa năm
2004, tổng số ghi danh là 2166 người, số người trúng tuyển là 165 người trong
đó dân gốc Minnesota nộp đơn 563 người được nhận vào 127 người. Ngoài tiểu
bang Minnesota có 1583 người nhưng được lựa chỉ có 38 người. Tuổi trung b́nh nhập học
là 23 tuổi.
T rên
toàn nước Mỹ mỗi năm nộp đơn khoảng 35 ngàn người và nhận vào khoảng 16500
người. Độc giả muốn biết thêm chi tiết, xin vào Website sau đây:
https://www.meded.umn.edu/admissions/statistics.cfm
b) Nộp Đơn Vào Trường Y Khoa:
M uốn
nộp đơn vào trường Y Khoa, sinh viên phải nộp đơn qua Hiệp Hội các trường
Đại Học của các trường Y Khoa Hoa Kỳ (American Association of Medical
Colleges - AAMC), đề rơ tên trường. Sau khi nhận được, Hiệp Hội sẽ chuyển
sang trường Đại Học mà sinh viên muốn vào, trong đơn phải ghi rơ điểm MCAT
và phải gửi thêm phiếu điểm GPA chuyển trực tiếp từ trường Đại Học mà sinh
viên tốt nghiệp Cử Nhân, BS/BA. Ta thường thấy toàn thể các trường Y Khoa của Mỹ có
số đơn nộp không nhiều.
Website sau đây bàn rơ về thủ tục nhập học vào trường Y
Khoa Hoa Kỳ (MD Program Admissions):
https://www.meded.umn.edu/admissions/index.cfm
T a thấy
khoảng 34000 đơn nộp vào nhưng chỉ được nhận 16500 v́ lẽ các trường này
đ̣i hỏi GPA cao trên 3.5/4.0 hoặc 3.8/4.0, tùy trường.
Đ ơn
xét tuyển của Hội Đồng Y Khoa căn cứ vào các điều kiện sau đây:
1- Điểm GPA
2- Điểm MCAT
3- Lời giời thiệu của các giáo sư
4- Quá tŕnh công tác làm việc thiện cho nhà thương, viện dưỡng lăo hoặc
Cộng Đồng, gây quỹ cho hội của những người mang bệnh nan y, v.v... để
chứng tỏ Bác Sĩ tương lai sẽ là người có nhân cách tốt, biết thương người,
tận tâm cứu người.
Sau khi đă được tuyển lựa, sinh viên được nhận học
trường Y Khoa.
c) Tiền Học:
T iền
học phí khoảng 40000 USD/năm không kể tiền ăn ở và nếu không phải là dân
của tiểu bang th́ học phí cao hơn khoảng từ 5000 đến 10000 USD mỗi năm.
Độc giả muốn biết rơ, xin vào Website sau đây:
http://www.aamc.org/students/financing/debthelp/start.htm
N gười
ta ước lượng rằng sau khi tốt nghiệp Bác Sĩ với học tŕnh 4 năm, sinh viên
nợ khoảng 100 ngàn đến 200 ngàn USD cho 4 năm học. Tất nhiên, những sinh viên
nào có điều kiện được bố mẹ trợ giúp th́ nợ ít hơn.
d) Chương Tŕnh Học MD (Medical Doctor):
Kể từ bậc Cử Nhân là 4 năm học.
e) Chương Tŕnh MD-PhD:
H ọc
tŕnh là 8 năm học kể từ bậc Cử Nhân, sinh viên
được
hai bằng MD (Bác Sĩ Y
Khoa) và bằng MD-PhD (Tiến Sĩ Y Khoa). Muốn vào học ngành này, sinh viên
phải nộp đơn vào trường trước khi vào Y Khoa Đại Học hoặc sinh viên năm
thứ nhất, thứ hai Y Khoa và không nhận những người có bằng MD sẵn rồi. Chỉ
những sinh viên cực kỳ xuất sắc mới được nhận vào chương tŕnh MD-PhD v́
đây là ḷ đào tạo các giáo sư Đại Học Y Khoa của Mỹ và những nhà nghiên
cứu Y Học để t́m cách chữa trị các bệnh khó khăn như bệnh mất trí nhớ (lú
lẩn) của người già (Alzheimer) hoặc bệnh tiểu đường (Diabetic) của người
trẻ, thí dụ một nhà nghiên cứu tại Đại Học Minnesota mới đây đă thử
một
thứ thuốc trị được bệnh mất trí nhớ của con chuột già. Thuốc này phải thử
nghiệm
trên người và thử qua nhiều giai đoạn cho đến khi nếu có công dụng th́ sản
xuất ra và chắc chắn thành công th́ mới dùng trên người. Thí nghiệm cho
biết rằng thuốc đó đă công hiệu trên chuột v́ làm cho chuột mất trí nhớ
trở lại đời sống b́nh thường.
Wesite sau đây sẽ nói rơ chi tiết về 2 chương tŕnh MD
và MD-PhD của Đại Học danh tiếng về Y Khoa tại Minnesota:
http://mdphd.med.umn.edu/about.html
T óm
lại, học MD mất 4 năm và MD-PhD mất 8 năm. Chỉ những Bác Sĩ có bằng MD-PhD
mới được dạy trường Y Khoa và nghiên cứu cách chữa bệnh cho loài người.
f) Hành Nghề tại Mỹ:
Bác sĩ Tổng Quát (Bác Sĩ Gia Đ́nh) thực tập thường trú (Residency)
tại nhà thương 1 năm sau đó phải thi vào hành nghề.
Bác Sĩ Nội Thương (Internal Medecine) thường trú tại nhà thương 3
năm sau đó phải thi bằng hành nghề.
Bác Sĩ Chuyên môn thí dụ chuyên về tim, gan. phổi, tụy tạng v.v...
thực tập thường trú 5 năm tại các nhà thương rồi thi bằng hành nghề.
Các Bác sĩ giải phẫu tổng quát (General Surgeon) thực tập thường
trú 5 năm tại các nhà thương rồi thi bằng hành nghề.
Bác sĩ giải phẫu chuyên ngành mổ tim, tụy tạng v.v.. phải là Bác
Sĩ Giải Phẫu và thực tập thường trú chuyên ngành khoảng 2 đến 3 năm nữa.
g) Lương của các Bác Sĩ:
B ác
Sĩ có lương trung b́nh trên dưới 200 ngàn USD/năm, nhưng các Bác Sĩ chuyên
môn gây mê, mổ, thần kinh th́ lương cao hơn từ 300 ngàn đến 1 triệu USD/năm.
Tuy nhiên, việc đóng bảo hiểm của mỗi Bác Sĩ không phải
là ít.
Website sau đây liệt kê lương bổng của các Sinh viên
Thực tập Thường trú (Residency) và các Bác Sĩ (Physician):
https://www.meded.umn.edu/financial/debt.cfm#ResidencySalary
Đ ại
đa số các BS bên Mỹ vừa làm ở Bệnh Viện (Clinics) vừa làm ở nhà thương
(Hospital). Tuy cũng nhiều Bác Sĩ tự mở pḥng mạch tư nhưng nếu không đủ
tiền chi phí, tiền trả pḥng mạch, y tá, thư kư văn pḥng th́ cũng phải
dẹp tiệm.
M ột
số các Bác Sĩ mở pḥng mạch riêng chưa đến tuổi về hưu cũng phải tự cho
ḿnh về hưu nếu cán cân chi phí mất cân bằng nghĩa là thu tiền bệnh nhân
không đủ trang trải các khoản tiền mướn ....
B- Tại Việt Nam:
M uốn
vào trường Y Khoa Việt Nam, thí sinh phải thi vào và tỉ số vào trường
khoảng độ 10%. Sau khi trúng tuyển, sinh viên Việt Nam đi thẳng
vào trường Y Khoa trong khi tại Mỹ, sinh viên đ̣i hỏi phải có văn bằng Cử
Nhân (BS hoặc BA), một số lớp dự bị (Pre-Med) và điểm MCAT. Sau khi trúng tuyển, sinh viên Y Khoa
Việt Nam học 6 năm tốt nghiệp bằng Bác Sĩ Y Khoa, trái lại bên Mỹ học Y
Khoa là 8 năm (kể từ tốt nghiệp Trung học).
Đó là điểm khác biệt cơ bản giữa Hoa Kỳ và Việt Nam.
Việt Nam hiện nay có bằng Thạc Sĩ Y Khoa và Tiến Sĩ Y
Khoa với học tŕnh như sau:
Thạc Sĩ Y Khoa là Bác Sĩ học
thêm 2 năm.
Tiến Sĩ Y Khoa là Thạc Sĩ học
thêm 2 năm nữa.
M ỹ
không có bằng Thạc Sĩ Y khoa mà chỉ có bằng Bác Sĩ Y Khoa (MD) và Tiến Sĩ
Y Khoa (MD-PhD ngoài việc chữa bệnh c̣n dạy học, t́m ṭi, nghiên cứu Y học,
v..v...)
T uy
nhiên ngành Thạc Sĩ và Tiến Sĩ ở Việt Nam v́ mới thiết lập nên chưa đào
tạo được bao nhiêu. Các sinh viên sau khi tốt nghiệp Bác Sĩ Y Khoa cũng
phải thực tập trước khi được hành nghề (v́ nếu không được thực tập thường
trú th́ không được hành nghề) nhưng không phải thi bằng hành nghề như ở
bên Mỹ.
N hững
ai được chính phủ cho làm việc th́ lương Bác Sĩ Y Khoa ở Việt Nam hiện nay
chỉ 2-3 triệu đồng (» 200-300 USD)/tháng. Một
số các Bác Sĩ ngoài giờ làm việc có thể mở pḥng mạch tư ở nhà hoặc mở tại
pḥng mạch thuê tại các nhà thương thí dụ ở Chợ Lớn có nhà thương Triều
Châu cho thuê pḥng mạch.
T uy
nhiên, v́ thiếu phương tiện hiện đại nên việc chữa trị của Việt Nam c̣n có
phần bị hạn chế mặc dầu Việt Nam không thiếu ǵ các Bác Sĩ tài giỏi, hết
ḷng chữa trị bệnh nhân góp phần bảo vệ sức khỏe cho đồng bào nhưng nhiều
khi bó tay không cứu nổi thân chủ. Một số ít Bác Sĩ có hành động tham
nhũng phải có tiền đút lót mới ưu tiên chữa bệnh cho bệnh nhân hoặc ưu tiên
hơn trong việc mổ cho bệnh nhân.
T hông
thường mỗi lần khám bệnh, mỗi bệnh nhân phải đóng khoảng 20-30 ngàn đồng
Việt Nam (» 2 USD). Một số các Bác Sĩ Việt Nam
phải tự bán thuốc cho bệnh nhân để kiếm lời chút đỉnh. Điều này tuyệt đối
trái với luật lệ tại Hoa Kỳ.
Đó cũng là những khác biệt cơ bản giữa Hoa Kỳ và Việt Nam.
(Xem
tiếp Phần 3)


Nguyễn
Văn
Thành
22/7/2005
(c̣n tiếp)
|
|