Nguyễn Văn Thành
 

 

      Ảnh Hưởng Của
          Phật Giáo Vào
     Nếp Sống Việt Nam

     Phần 1   
 Phần 2   
 

 

Cùng Một Tác Giả:

  Phật Đản 2007

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 



NH HƯỞNG CỦA PHẬT GIÁO VÀO NẾP SỐNG VIỆT NAM
Nhân Mùa Phật Đản, 2006 - Phật Lịch 2550
N
guyễn Văn Thành

  

Phần 1:
 

Tại Trung Quốc, nước Mông Cổ nhỏ bé đánh chiếm toàn Trung Nguyên lập nhà Nguyên, rồi từ đó quân Mông Cổ đánh chiếm nhiều nơi trên thế giới tới tận vùng Trung Đông. Một đế quốc hùng mạnh như Mông Cổ mà nay đă bị người Hán đồng hóa. Nội Mông đă hoàn toàn thuộc lănh thổ Trung Quốc duy chỉ có Ngoại Mông với số dân khoảng chừng 5 triệu người c̣n tồn tại đến ngày nay.

Măn Châu là dân tộc rất kiên cường cũng đă từng chiếm trọn Trung Quốc lập nên nhà Măn Thanh và cai trị Trung Quốc cho tới ngày cách mạng dân quốc. Mà nay Măn Châu cũng hoàn toàn trực thuộc Trung Hoa do sức đồng hóa vô cùng mạnh mẽ của dân tộc Hán.

Nước Việt Nam ta đă có thời nhà Lư tấn công lên nội địa Trung Quốc nhưng chỉ là cuộc chiến đánh phủ đầu làm cho Trung Quốc không dám tiến quân sang Việt Nam. V́ đường lối đó nên nước Việt Nam c̣n tồn tại đến ngày nay với 83 triệu dân trong nước và khoảng gần 3 triệu dân ở ngoài nước.

Nước Việt Nam có khoảng 54 dân tộc khác nhau, trong số đó người Kinh chiếm đa số gần 90%. Sức đồng hóa của người Kinh cũng giống như người Hán ở Trung Quốc và v́ vậy 54 dân tộc ở Việt Nam gần như đều nói và viết chung một thứ tiếng.

Xét về các đạo th́ tại Việt Nam có rất nhiều đạo khác nhau thí dụ như đạo Hồi của các đồng bào gốc Chàm và một số gốc Khmer hoặc gốc Mă lai Á đă lâu đời định cư tại Việt Nam; tuy nhiên đạo Hồi là thiểu số không đáng kể. Tới khi Trịnh Nguyễn phân tranh các chúa Nguyễn phát triển ở Đàng Trong nghĩa là cùng miền Trung th́ có các Linh Mục Thiên Chúa Giáo ở các nước Âu Châu như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và Pháp có đến giảng đạo và thiết lập đạo Thiên Chúa rồi phát triển cho đến ngày nay. Đạo Thiên Chúa có số tín đồ khoảng 8 triệu người tương đương với 10% dân số, ngoài ra trong nước c̣n có đạo Tin Lành ở các vùng Sài G̣n, Hà Nội và cả ở những vùng có đồng bào thiểu số. Tuy nhiên, số tín đồ Tin Lành không quá 1 triệu người. Ngoài ra, ở vùng Tây Ninh có đạo Cao Đài với số dân theo đạo này cũng khoảng vài triệu người. Đặc biệt đạo Cao Đài nay theo dân Việt Nam lan ra ngoại quốc.

Ngoài những đạo đă kể ở trên ra th́ đại đa số dân Việt Nam theo đạo Phật, và v́ là đạo tự do nên không ai kiểm kê được số tín đồ một cách chính xác mà chỉ ước chừng nửa số dân Việt Nam nghĩa là trên dưới 40 triệu người trong nước và khoảng trên một triệu người Việt hải ngoại theo đạo Phật. Tại ngoại quốc, chùa chiền phát triển ở bất cứ nơi nào có người Việt sinh sống, hầu như không có tiểu bang nào trong số 50 tiểu bang ở Mỹ là không có một chùa Việt Nam. Riêng tại California, dọc đường Westminster đă có nhiều chùa chiền do người Việt Nam xây dựng. Người ta ước tính rằng khoảng trên 400 chùa ở trong nước và trên 300 chùa Việt tại nước ngoài, chỉ riêng tại Mỹ đă có khoảng 200 chùa c̣n lại ở Pháp, Úc, Canada và nhiều nước khác trên thế giới.

Xem như vậy, đạo Phật đă có ảnh hưởng rất sâu rộng vào nếp sống Việt Nam.

Trong những loạt bài này, ta sẽ nghiên cứu 3 phần:

Đức Phật

Sự phát triển của Phật Giáo tại Việt Nam

Ảnh hưởng của Phật Giáo vào nếp sống Việt Nam

  

Đức Phật:

Đức Phật Thích Ca có họ là Thích Ca tên là Tất Đạt Đa (Siddhartha). Họ là Cù-Đàm (Gotama) thuộc tộc Thích Ca. Ngài sinh ngày rằm tháng 4 năm 624 trước Tây Lịch là Thái Tử con vua Tịnh Phạn và Hoàng Hậu là Ma-Da, xưa thuộc Ấn Độ nay thuộc về nước Nepal. Ngài sinh ra tại vườn Lâm Tỳ Ni. Sau khi Hoàng Hậu sinh ra Thái Tử Tất Đạt Đa được 7 ngày th́ bà mất. Năm 16 tuổi, vua Tịnh Phạn cưới vợ cho Thái Tử Tất Đạt Đa là Công chúa Gia Giu Đà La, Công chúa sinh được một Hoàng nam tên là La Hầu La, đó là người con duy nhất của Thái tử Tất Đạt Đa.

Khi Thái Tử đi xem Hoàng thành lần đầu tiên, Ngài gặp một ông già lưng c̣ng gối mỏi tóc bạc phơ, lần thứ 2 ra cửa Nam ngài thấy một người bệnh đang đau đớn kêu khóc, lần thứ 3 ra cửa Tây Ngài thấy một người chết có thân nhân bao quanh than khóc thảm thiết. Một lần khác, Ngài ra cửa Bắc thấy một Tu sĩ tướng mạo đoan trang đi đứng thong dong.

Ngài nghĩ rằng sinh già bệnh tử là khổ ở đời và chỉ có đời sống một tu sĩ th́ mới t́m được đường thoát khỏi cảnh khổ. Ngài xin vua Tịnh Phạn cho phép đi tu nhưng vua không cho. Đêm mùng 8 tháng 2, Ngài trốn khỏi cung điện và quyết chí đi t́m chân lư. Mới đầu ngài tu khổ hạnh với các tu sĩ nhưng Ngài cũng không t́m được chân lư. Một hôm Ngài bị xỉu v́ kiệt sức, một thiều nữ dâng cho Ngài sữa và Ngài thấy người tỉnh táo. Sau khi năm người kia tu khổ hạnh bỏ Ngài, Ngài ra bờ sông tắm rửa cho sạch sẽ rồi dựa vào cây Bồ Đề ngồi thiền. Ngài tự nguyện nếu không t́m ra chân lư th́ quyết không rời cây Bồ Đề. Một lần Ngài ngồi thiền luôn trong 49 ngày đêm sau cùng Ngài chứng quả Niết Bàn, đó là ngày mùng 8 tháng Chạp năm 594 trước Tây Lịch. Năm đó Ngài được 35 tuổi. Từ đó, Ngài thành Phật, nơí Ngài thành đạo nay là Bồ Đề Đạo Tràng.

Sau khi thành đạo, Ngài đă đến vườn Lộc Uyển để giảng đạo cho 5 người tu khổ hạnh. Bài giảng đầu tiên là Tứ Diệu Đế (Khổ, Tập, Diệt, Đạo), trong đó Ngài vạch rơ Sanh, Lăo, Bệnh, Tử (một phần trong chân lư đầu tiên) là khổ và muốn giải thoát phải tu theo Bát Chánh Đạo. Khi tại thế, đức Phật đi giảng đạo nhiều nước trong xứ Ấn Độ. Ngài có 1250 đệ tử xuất gia trong số đó có bà mẹ nuôi của đức Phật, tên là Ma Ha Ba Sa Ba Đề và là em ruột của mẹ đức Phật. Sau khi mẹ của đức Phật mất, chính bà đă nuôi đức Phật. Vợ đức Phật tức Công chúa Gia Giu Đà La, con đức Phật La Hầu La, nhiều vị Quốc vương, Hoàng hậu, Thái tử, Công chúa và các Đại thần của nhiều nước đều là đệ tử của Ngài.

Có 5 thời kỳ thuyết pháp: Thời kỳ thứ 1, 21 ngày giảng theo tiểu thừa, thời kỳ thứ 2, 12 năm Ngài giảng kinh A hàm, thời kỳ thứ 3 là 8 năm để chỉ dẫn Tiểu thừa qua Đại thừa. Thời kỳ thứ 4 trong 22 năm nói về kinh Bát Nhă. Thời kỳ thứ 5 trong 8 năm nói về kinh Pháp Hoa và Niết Bàn.

Sau khi giảng chúng sinh trong 49 năm, Ngài nhập Niết Bàn và Ngài trao quyền cho ông Ma Ha Ca Diếp đó là tổ thứ nhất rồi Ngài nói rằng sau khi Ngài nhập Niết Bàn th́ lấy Giới Luật làm Thấy. Ngài nhập Niết Bàn nhằm ngày rằm tháng 2 năm 544 trước Tây lịch, năm đó Ngài tṛn 80 tuổi. Phật Lịch được kể từ năm này.

Phật giáo hay là đạo Phật gồm có những phần chính yếu sau đây:

Làm việc thiện, sống có đạo đức

Nhận thức rơ ràng về mọi ư nghĩ và hành động của ḿnh

Phát triển trí tuệ

Đạo Phật không công nhận có Thượng Đế. Đức Phật dạy rằng mọi người đều có tính giác. Đức Phật chỉ cho ta đến con đường giác ngộ.

Phật giáo có thể tóm tắt trong Tứ diệu đế và Bát Chánh đạo.


T
ứ Diệu Đế:

1) Khổ đế: Đời sống và đau khổ, già nua, bệnh hoạn rồi chết.

2) Tập đế: Tất cả mọi đau khổ đều do ái dục và ḷng tham muốn, muốn giữ làm của riêng...

3) Diệt đế: là chân lư, cách làm chấm dứt sự đau khổ bằng cách dứt bỏ ái dục, ḷng tham, sân, si.

4) Đạo đế: là con đường đưa đến chấm dứt đau khổ. Con đường này gọi tên là bát chánh đạo. Bát chánh đạo gồm có: Chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định. Đây là con đường của đạo đức đi đến giác ngộ, qua lời nói ư nghĩ và hành động, và phát triển trí tuệ bằng sự nhận thức rơ ràng về tứ diệu đế và bằng sự tăng trưởng ḷng từ bi.

Ngũ giới: Ngũ giới gồm có không sát sinh, không lấy của của kẻ khác, không tà dâm, không nói dối và không dùng các chất làm say, làm lu mờ trí óc.

Nghiệp: Nghiệp hay nghiệp quả là một định luật cho biết mỗi nguyên nhân đều tạo ra một hậu quả.

Trí tuệ: Phật giáo dạy rằng trí tuệ phải được phát triển với ḷng từ bi. Trí tuệ cho biết rằng mọi vật đều không trường tồn (vô thường).

Từ bi: từ bi bao gồm ḷng thương người khác, chăm lo và sẵn sàng an ủi người khác.

Chi tiết sau đây theo Ḥa Thượng THÍCH THIỆN HOA
(Trước Chúa giáng sanh 624 năm. Nếu tính năm Phật Nhập Diệt th́ trước Chúa giáng sinh 544 năm).

  • 19 tuổi xuất gia, nhằm ngày mùng 8 tháng 2

  • 5 năm tầm học các đạo

  • 6 năm tu khổ hạnh

  • 49 ngày nhập định

  • 30 tuổi thành đạo, nhằm ngày mùng 8 tháng chạp

  • 49 năm thuyết pháp độ đời

  • 80 tuổi nhập Niết bàn, nhằm ngày rằm tháng 2.

CHÚ THÍCH. Theo tài liệu cuả Ḥa Thượng Thich Minh Châu và Dr. Binh An Sơn th́ Đức Phật xuất gia năm 29 tuổi, thành đạo năm 35 tuổi và thuyết pháp 45 năm.


Đạo Phật Truyền vào Việt Nam:


Thời Kỳ khởi thủy
:

Theo sách của ông Mâu Tử th́ một cuốn sách nói về Phật Giáo ở đất Giao Châu (Việt Nam thời Bắc thuộc). Khi ông chạy sang Việt Nam để lánh nạn giặc giả bên Trung quốc vào năm 995 sau Thiên chúa giáng sinh, ông đă thấy tại Giao Châu đă có Phật Giáo. Ngoài ra ông Khương Tăng Hội gốc người Ấn Độ, cha mẹ đến Giao Châu buôn bán. Đến năm ông lên 10 tuổi cha mẹ qua đời, ông tu tại Giao Châu và đến năm 247 ông sang đất Ngô của Tôn Quyền bên Trung quốc để truyền bá đạo Phật. Ông có dịch kinh từ chữ Phạn ra chữ Hán.

Phật giáo từ Trung Quốc truyền sang Việt nam

Thời kỳ đầu: Phật giáo truyền sang Việt Nam, dưới thời cai trị của Thái Thú Sĩ Nhiếp (187-226).

Thiền Tôn truyền sang Việt Nam: Tổ Bồ đề Đạt Ma đến Trung quốc năm 520 để truyền bá Phật giáo. Ở Việt Nam, Thiền Tôn được truyền năm 580 tại chùa Pháp vân, Sư Vạn Hạnh thuộc môn phái Thiền Tông

Phật giáo qua các thời đại:

Ta chia ra làm 11 thời kỳ:

1- Thời kỳ Băc Thuộc đến cuối nhà Ngô (43-865): Phật giáo du nhập vào Việt Nam là thời kỳ nước ta bị Trung Quốc đô hộ có các nhà sư Ấn độ sang truyền đạo ở Việt Nam.

2- Nhà Đinh (958 – 980): Đinh Tiên Hoàng phong cho Chân Lưu chức Tăng thống sắc phong là Khuông Việt Đại sư

3- Nhà Tiền Lê (980-1009): Vua Lê Đại Hành thường thỉnh tăng thống vào triều để bàn việc nước, sau khi ḥa với nhà Tống, vua sai sứ sang Trung Quốc thỉnh kinh

4- Nhà Lư (1010-1025): Lư Thái Tổ tức Lư Công Uẩn là con nuôi của Lư Khánh Vân cho nên ngài cho xây cất nhiều chùa chiền. Có khoảng 100 chùa đă được xây cất dưới thời Lư, đồng thời sai sứ sang Tàu thỉnh kinh. Năm 1049, vua Lư Thái Tông cho xây chùa một cột ở Hà Nội.

5- Nhà Trần (1225-1400): Trần Thái Tông rất mộ đạo. Thái Tông có viết 2 cuốn sách gồm có Thiều Tông chỉ Nam là sách nói về thiền và sách y khóa hư lục giải rơ về tứ khổ: Sinh Lăo Bệnh Tử.

Sau khi nhường ngôi cho con Trần Nhân Tông lên tu tại núi Yên Tử và lập nên môn phái Thiền Trúc Lâm Yên Tử.

6) Nhà Hồ (1400-1407): Hồ Quư Ly lên ngôi được 7 năm th́ nhà Minh xâm chiếm nước ta. Quân Minh tịch thu sách vờ kinh Phật và chùa chiền bị đốt phá.

7) Từ Hậu Lê: Nói chung Phật giáo không thay đổi ǵ nhiều.

8) Thời Tây Sơn: Vua Quang Trung nhận thấy nước ta có quá nhiều chùa nhưng không có chùa lớn và v́ vậy không đủ các vị chân tu hiểu nhiều về đạo Phật và có thể giảng dạy chính pháp của đạo Phật cho nên một mặt bắt các vị tu sĩ đặc biệt là các vị Ḥa thượng, Thượng Tọa, Đại Đức phải thi giáo lư của Phật giáo. Những người nào thi đậu giáo lư cơ bản th́ được tiếp tục tu hành c̣n vị nào không đậu phải về đời sống dân giả, làm ruộng. Đồng thời các chùa nhỏ ở làng th́ giải tán và lập những chùa lớn tại những phủ, huyện, tỉnh cốt để có cơ sở có quy củ cho các vị chân tu, tu tập giáo lư của đức Phật, đó là điều rât tiến bộ trong thời kỳ này.

9) Thời Trịnh Nguyễn phân tranh: Các thiền sư được chúa Trịnh và vua Lê trọng đăi vua chúa đàng trong đàng ngoài kính trọng đạo Phật. Phật giáo dần dần phục hưng.

10) Thời nhà Nguyễn 1802-1945: Sau khi vua Gia Long lên ngôi, nhà vua cho sửa lại chùa Linh Mụ, Vua Thiệu Trị cho xây chùa Diệu Đế, ở Đà Lạt có chùa Linh Sơn Ban Mê thuột có chùa Khải Đoan. Hoàng đế Bảo Đại là Hội trưởng của Hội Phật học Việt Nam. Nói chung dưới thời Nguyễn từ Nam tới Bắc đều có thêm chùa mới.

11) Thời Cận Đại (1945-ngày nay):

a) 1945-1975: Trong thời chiến tranh Việt Pháp 1946-1954, ngoài Bắc hầu như không xây dựng được những chùa chiền nào đáng kể. Trong những vùng miền Nam cũng rất ít chùa mới được xây dựng.

Kể từ năm 1954-1975, ngoài Bắc gần như không có chùa nào được xây dựng. Trong Nam, cũng có ít chùa được xây cất thêm.

b) 1975-ngày nay: Từ năm 1975-ngày nay, gần 3 triệu người ra đi tị nạn ở ngoại quốc nên có khoảng 300 chùa mới được xây dựng ở ngoại quốc, nhiều nhất là tại Hoa Kỳ, Gia Nă Đại, Úc Châu, Pháp, Anh v. v. Hiện nay, người ta đếm được khoảng gần 300 chùa ở ngoại quốc ( riêng tại Mỹ có khoảng 200 chùa nhiều nhất là California) và trong nước cũng khoảng trên 400 chùa.

Ít chùa được xây dựng thêm trong nước, tuy nhiên chỉ củng cố sửa chữa các chùa xét có lợi cho nền du lịch ví dụ như chùa Hương Tích (Hà tây) để phục vụ nền du lịch, ở đó mới thiết lập được các đoàn xe dây cáp để chuyển hành khách thăm viếng.

Trong thời kỳ này, Phật giáo được truyền bá rộng răi tại ngoại quốc v́ lư do khi tới đất định cư, đại đa số các người giúp đỡ người tị nạn đều thuộc đạo Công giáo hoặc Tin Lành cho nên dân ta vốn theo đạo Phật lâu đời, sau khi định cư lạc nghiệp đều cố gắng xây dựng các chùa để làm nơi tụ tập, lễ Phật. Ngày rằm, mồng một hoặc các ngày thứ bảy chủ nhật, chùa rước các vị chân tu về đọc kinh hoặc thỉnh các cao tăng từ các nơi khác về thuyết giảng trong các dịp Phật Đản, Phật nhập Niết Bàn, rằm tháng giêng, rằm tháng bảy... Ở trong nước, cũng như ở ngoại quốc rất nhiều kinh Phật đă được dịch ra hàng ngàn cuốn kinh Phật đă được in thành sách. Ngoài ra, hiện nay nhiều kinh Phật đă được bỏ trên các Website mà chúng ta có để ở dưới đây.

Nhiều trường học được thiết lập ở trong nước chuyên dạy về đạo Phật dành cho các tu sĩ Phật giáo. Các trường này ngoài việc giảng dạy về các kinh của Phật Giáo c̣n phải giảng dạy Mác- Lênin. Các kinh Phật dịch ra trong nước hoặc ngoài nước không có sai lời Phật dạy, những phần luận bàn cũng rất chính xác. Hiện nay các Phật tử trên toàn thế giới đều đọc các kinh Phật không phân biệt các kinh Phật dịch ra từ trong nước hay ngoài nước v́ tất cả các lời Phật dạy đều là chân lư. Như vậy, kể từ khi các người tị nạn Việt Nam di tản ở rải rác trên các quốc gia thế giới, đạo Phật càng ngày càng phát triển. Chúng ta có thể tóm tắt lại hiện nay ĐẠO PHẬT nhiều nhất tại Tích Lan, Thái Lan, Nhật Bổn, Trung Quốc, Đài Loan, Miến Điện, Tây Tạng (quốc giáo), Nepal, Việt Nam, Đại Hàn... C̣n đạo Phật ở Ấn Độ th́ bị tàn lụi chỉ c̣n khoảng 4 triệu dân theo đạo Phật.

Vậy đối với Việt Nam sự di cư ra ngoại quốc của trên 3 triệu dân, đạo Phật lại càng phát triển v́ càng trải qua các kinh nghiệm vô thường th́ thấy chân lư đạo Phật càng sáng tỏ từ đó ảnh hưởng tới những người địa phương. Một số các công dân Mỹ, Pháp, Gia Nă Đại, Úc... cũng bắt đầu theo đạo Phật nhất là các kinh Phật trước kia bằng chữ Phạn (Ấn Độ), chữ Pa li, chữ Hán nay đă được dịch sanh tiếng Việt và tiếng Anh. Nhiều tăng ni VIỆT NAM tốt nghiệp tại Ấn ĐỘ, Tích Lan, Nhật bổn, Diến Điện, Thái Lan. Nhiều trường ĐẠI HỌC MỸ cấp phát văn bằng Ph. D về Phật học, Website dưới đây sẽ nói rơ.

Cho nên đạo Phật càng ngày càng được nhiều người có học thức nghiên cứu. V́ rằng Phật nghĩa là giác nghĩa là hiểu rơ chân tướng bản thể của ḿnh cho nên chỉ những người nào có nền học vấn cơ bản và ḷng tin nhiệt thành mới có thể hiểu rơ đạo Phật và nay v́ học vấn của mỗi người dân càng ngày càng lên cao cho nên khi nghiên cứu đạo Phật th́ mới hiểu được ư nghĩa đích thực của đạo Phật và tin theo.

Tổng kết các Tông Phái đạo Phật:

Các môn phái chính:

  1. Thiền tông: Thiền tông có tổ là Bồ đề Đạt Ma từ Ấn Độ truyền sang Việt Nam. Ngài là đệ nhất tổ Thiền tông Trung Hoa. Đệ tử của Ngài truyền đến đời thứ 9 là Vô Ngôn Thông truyền sang Việt Nam năm 820.

  2. Tịnh độ tông: Tịnh độ Tông là môn phái chuyên niệm Phật A Di Đà để được văng sanh về Tây phương cực lạc do đức Phật A Di Đà làm giáo chủ lấy kinh vô lượng thọ, quán vô lượng thọ và tiểu bản A Di Đà làm căn bản. Ở Việt Nam có cư sĩ Minh Trí thành lập Tịnh độ cư sĩ Việt Nam, tổ đ́nh đặt tại Minh Hưng tự số 101 đường Lư Chiêu Hoàng quận 6 Sài G̣n xây cất năm 1931.

  3. Mật tông: Mật tông là tông phái đặc biệt từ Ấn Độ truyền sang Trung Hoa, Tây Tạng theo giáo lư bí mật của kinh Đại Nhật, kinh Kim Cương. Thích Nguyên Đức dịch kinh mật tông gồm có kinh Hiển mật viên thông thành Phật Tâm yếu. Kinh Đại thừa trang nghiêm Bảo vương, kinh Mạt pháp nhất tự Đà La Ni.

  4. Phật giáo nguyên thủy: Phật giáo nguyên thủy do Ḥa thượng Hộ Tông mang về. Môn phái này theo đúng kinh tiếng Pa-Li tức là theo đúng những lời giảng dạy của đức Phật. Môn phái này có xây chùa Kỳ viên tự ở 610 đường Nguyễn Đ́nh Chiểu Quận 3 Sài G̣n. Đặc biệt môn phái này theo kinh điển Pa-li mỗi ngày ăn một bữa chính ngọ, tụng kinh và ngồi thiền.

  5. Giáo phái khất sĩ: Giáo phái khất sĩ do tổ sư Minh Đăng Quang thành lập.

  6. Phật giáo Ḥa hảo: Phật Giáo Ḥa hảo do đức Huỳnh giáo chủ khai sáng. Đức Huỳnh giáo chủ khai Đạo tại làng Ḥa hảo nên gọi là Phật giáo Ḥa hảo. Đạo Phật giáo Ḥa hảo thực hành Tứ ân: Ân tổ tiên cha mẹ, Ân đất nước, Ân Tam Bảo. Ân đồng bào nhân loại. Đạo này chủ trương bài trừ mê tín như đốt vàng mả thầy bùa thầy Pháp, không chủ trương cất chùa mới chỉ cất các giảng đường để mồng một ngày rằm đọc Sấm giảng 500 trang của đức Huỳnh Giáo chủ đó là các lời dạy khuyên tu của Ngài theo thể văn vần.

Hiện nay ở ngoại quốc có đủ các tông phái trên trong cộng đồng người Việt. Nhiều người thích tu thiền th́ đi nghe thuyết pháp của nhiều vị thiền sư giảng dạy.


(Xem tiếp Phần 2)

  

 

 

Tham khảo:

1) Địa chỉ của các chùa:

http://www.thuvienhoasen.org/index-diachichua.htm

2) NGHIÊN CỨU VỀ PHẬT GIÁO:

Kinh Phật Bằng Tiếng Việt và Anh:

 http://www.saigon.com/~anson/

http://www.golden-wheel.net/buddlinks.html


K
inh và CD Tịnh Độ:

 http://www.tinhthuquan.com/tinhkhongps.htm

 http://www.thuvienhoasen.org/

 http://www.buddhismtoday.com/index/phatphap.htm

3) Các Trường Trên Thế Giới Nghiên Cứu Về Phật Giáo:

http://www.h-net.org/~buddhism/GradStudies.htm

 

Nguyễn Văn Thành
Nhân Mùa Phật Đản, 2006 - Phật Lịch 2550