Nguyễn Văn Thành
 

 

Sự Giáo Dục và Thi Cử Qua
    Các Thời Đại  Ở Việt Nam
:
 

 Phần 1  |   Phần 2  |  Phần 3  |

Phần 4   |   Phần 5  Phần 6  |

Phần 7   |   Phần 8  |  Phần 9  |

Phần 10 |  Phần 11 Phần 12 |

Phần 13 |  Phần 14 Phần 15 |

Phần 16 |  Phần 17 Phần 18 |

Phần 19 | Phần 20  |  Phần 21 |

Phần 22 | Phần 23  | Phần 24

 

 

 

 

 

 

 

 

 


S
  GiÁO  DỤC  VÀ THI C  QUA cÁC THỜI  ĐẠI
  V I Ệ T   N A M

Nguyễn Văn Thành


Phần 10:

  

 

D- GIÁO DỤC VÀ THI CỬ TỪ NĂM 1954 ĐẾN NĂM 1975

I-Chính Phủ Việt Nam Cộng Ḥa (Chính Phủ Sài G̣n):
 

K) Các Trường Y Tá:

Chỉ cần Trung Học thi đậu vào học 3 năm.

L) Các trường Đại Học khác:

Trường Đại Học Vạn Hạnh do các vị Ḥa Thượng, Thượng Tọa (Phật Giáo chủ trương) khai giảng năm 1964, dạy các môn thuộc Cử nhân Triết Học, Cử nhân Phật Học, Quản Trị Kinh Doanh…

Trường Đại Học Vạn Hạnh có cấp phát các văn bằng Cử Nhân Phật Học, Triết Học và Quản Trị Xí Nghiệp. Ban giáo chức thường do các vị Tăng Sĩ có bằng Tiến Sĩ từ ngoại quốc về dạy hoặc nhờ những giáo sư của trường Đại Học Văn Khoa giảng dạy. Các giáo sư như Thượng tọa Thích Tuệ Sĩ, Thượng tọa Thích Minh Mẫn, Thượng tọa Thích Minh Châu…đă từng dạy tại trường này.

Trường Đại Học Minh Đức do các Cha lập ra gồm đủ các ngành Kỹ sư và Y Khoa nhưng v́ mới thiết lập khoảng năm 1970 cho nên chưa có một vị Bác Sĩ nào tốt nghiệp.

Trường Đại Học Nông Lâm Súc đào tạo các Kỹ Sư Canh Nông, Thủy Lâm, và Thú Y.

Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật sau này đ̣i hỏi Tú Tài II thi vào và học 3 năm. Cũng nên nhắc lại là lớp họa sĩ chuyên nghiệp đầu tiên hoạt động trước khi có Trường Mỹ Thuật Gia Định (1913) và Trường Cao Đẳng Mỹ thuật Đông Dương Hà Nội (1924) như Tôn Thất Sa, Nguyễn Khoa Toàn, Lê Văn Tùng, Nguyễn Văn Nhơn, Trần Văn Phềnh...

Trường Kỹ Thuật Nguyễn Trường Tộ ở Sài G̣n dạy từ lớp 6 đến lớp 9 và học sinh phải thi Trung Học Kỹ Thuật.

Trường Kỹ Thuật Cao Thắng cũng tại Sài G̣n, có các lớp từ lớp 6 đến lớp 12. Lớp 9 thi Trung Học Kỹ Thuật, lớp 11 thi Tú Tài I Kỹ Thuật và lớp 12 thi Tú Tài II Kỹ Thuật.

Những người có bằng Tú Tài Kỹ Thuật, nếu thi vào Đại Học Phú Thọ ban Kỹ Sư Công Nghệ th́ được ưu tiên.

Trường Đại Học của chính phủ tại Huế cũng tương tự như Đại Học Sài G̣n nhưng quy mô nhỏ hơn.

Trường Đại Học Chính Trị Kinh Doanh ở Đà Lạt là nơi đào tạo đầu tiên các văn bằng Cử Nhân Kinh Doanh và Quản Trị Xí Nghiệp. Ở Đà Lạt cũng có một số lớp thuộc chi nhánh của trường Đại Học Khoa Học Sài G̣n cho nên có một số giáo sư của trường này giảng dạy tại hai nơi.

Trường Đại Học Cần Thơ có mở các phân khoa Văn Khoa, Khoa Học và chú trọng đến ngành Kỹ Sư Canh Nông để phát triển ngành đồng bằng sông Cửu Long.

Trường Quốc Gia Âm Nhạc ở Sài G̣n đ̣i hỏi bằng Tiểu Học và học tŕnh 7 năm có tŕnh độ văn hóa như Trung học. Trường có ban Âm Nhạc và ban Kịch Nghệ… Riêng ban Kịch Nghệ có Giáo Sư Vũ Khắc Khoan giảng dạy, ban Âm Nhạc có Nhạc Sĩ Nghiêm Phú Phi giảng dạy…

Ngoài ra, chính phủ Quốc Gia c̣n tổ chức trường Đại Học Quốc Gia Hành Chánh từ năm 1952 để huấn luyện các Đốc Sự Hành Chánh và các Thuế Vụ Viên, thời hạn học là cũng 3 năm sau đó trường có phát triển thêm ngành thuế vụ thi tốt nghiệp ra làm Trưởng Ty Thuế Vụ mỗi tỉnh, trong khi tốt nghiệp ngành Đốc Sự Hành Chánh thường làm phụ tá Tỉnh Trưởng.
 

M) Cách Tổ chức Các Bậc Tiểu Học và Trung Học:

Tiểu Học: Học tŕnh 5 năm.
Trung Học: Các học sinh phải thi vào trường Trung Học Công Lập và học 4 năm từ lớp 6 đến lớp 9 (đệ Thất đến đệ Tứ), sau đó có thể thi Trung Học Đệ Nhất Cấp.

Bắt đầu niên học 1970-1971, Bộ Quốc Gia Giáo Dục bỏ kỳ thi Trung Học Đệ Nhất Cấp nên kỳ thi đệ nhị lục cá nguyệt của lớp 9 trở nên khó khăn hơn.

Học hết lớp 11 (đệ Nhị) thi Tú Tài phần I, sau lớp 12 (đệ Nhất) thi Tú Tài phần II. Như vậy, hoàn tất bậc Trung học Đệ Nhất và Đệ Nhị Cấp đ̣i hỏi thời gian 7 năm.

Thi Tú Tài cũng như trước năm 1954 gồm có các ban A, B C, D như đă đề cập trong phần 7, vẫn không thay đổi. Tú Tài I và Tú Tài II đ̣i hỏi thí sinh đậu thi Viết mới được thi Vấn đáp.  Tuy nhiên, Bộ Giáo Dục đă băi bỏ kỳ thi Vấn Đáp kể từ năm 1968.

Bộ cũng đă quyết định bỏ kỳ thi Tú Tài I, niên khóa 1972-1973 nên kỳ thi đệ nhị lục cá nguyệt của lớp 11 lại càng khó khăn gấp bội. V́ có sự thay đổi và hủy bỏ các kỳ thi Trung Học Đệ Nhất Cấp và Tú Tài I này, nên Tú Tài II c̣n lại là kỳ thi duy nhất của bậc Trung Học và sau đó cũng đổi thành bằng Tú Tài (trước kia gọi là Tú Tài II) kể từ năm 1974.

Năm 1974 là năm đầu tiên cũng là năm cuối cùng, chính phủ tổ chức thi Tú Tài bằng máy điện toán IBM. Thí sinh phải thi tất cả các môn theo phương pháp trắc nghiệm.

  

Nói tóm lại, một cuộc cải cách của nền Tiểu và Trung Học Việt Nam đă thiết lập từ lớp 1 đến lớp 5 (Tiểu Học) và từ lớp 6 đến lớp 12 (Trung Học). Ngoài ra kể từ lớp 6, học sinh được học Sinh ngữ thứ nhất tùy ư lựa chọn Anh hoặc Pháp. Từ lớp 10 học thêm Sinh ngữ thứ hai, và như thế khi tốt nghiệp Tú Tài, học sinh đă được học Sinh ngữ thứ nhất 7 năm và Sinh ngữ hai là 3 năm. Ngoài ra, chương tŕnh Toán cũng được thay đổi, thi Tú Tài Toán không c̣n 7 môn Toán nữa nhưng chỉ rút lại c̣n những môn căn bản là Tân Toán, H́nh Học và H́nh Học Giải Tích (gồm có Giải Tích, Đạo Hàm và Tích Phân). Như vậy, chương tŕnh Trung Học đặc biệt ban Khoa Học B cũng tương đương với cách học tại Hoa Kỳ ngày nay. Điều này được chứng tỏ rơ ràng là hầu hết các người Việt tị nạn tại Mỹ nếu có bằng Tú Tài Việt Nam và nếu theo học Đại Học tại Hoa Kỳ th́ phần lớn đều tốt nghiệp.
 

N) Các Kỳ Thi Trung Học Toàn Quốc:

Chính phủ Việt Nam Cộng Ḥa đă tổ chức các kỳ thi Trung Học Toàn Quốc trong khoảng năm 1960-1964, thường chỉ dành cho các học sinh lớp 12 (đệ nhất). Theo chỉ thị của Bộ Quốc Gia Giáo Dục, mỗi trường đề cử chỉ một người về một môn trong số các môn Việt Văn, Lư, Hóa, Toán, Vạn Vật. Chương tŕnh thi là chương tŕnh tổng quát thuộc Đệ Nhị Cấp và thường có những bài toán rất dài về môn Toán, Vật Lư, Hóa Học hoặc câu hỏi tổng hợp về Vạn Vật, và một môn B́nh Giải thuộc Việt Văn.

Tất cả các học sinh giỏi nhất của các trường trên toàn quốc thi với nhau và mỗi một môn, trường chỉ lựa có một người xuất sắc nhất. Ai đậu được th́ chẳng những mang danh giá cho trường ḿnh mà c̣n dễ dàng trong việc cứu xét đi du học.


O) Đại Học Xá Minh Mạng:

Tưởng cũng nên nhắc lại về Đại Học Xá Minh Mạng v́ nơi này giúp ích cho sinh viên chẳng những kư túc xá để ở, một câu lạc bộ ăn uống mà c̣n là nơi sinh hoạt và gặp gỡ của các bạn bè.

Như đă đề cập trong Phần 6, ngày 1 tháng 8 năm 1954 đoàn sinh viên Hà Nội gồm khoảng 500 người di cư vào Nam và tạm trú tại trường nữ Trung Học Gia Long. Đến ngày 15 tháng 9 cùng năm, trường Gia Long tựu trường v́ thế các sinh viên dời đến lều của quân đội Mỹ ở đường Gia Long, sau biến thành khu Đại Học Văn Khoa của thập niên 1955-1960, và sau này dời về góc đường Cường Để và Đại lộ Thống Nhất.

Chính phủ Ngô Đ́nh Diệm bắt đầu xây khẩn cấp khu cư xá Đại Học ở Đại lộ Minh Mạng (gọi tắt là Đại Học Xá Minh Mạng) rồi chuyển các sinh viên này về đó. Lúc đầu chỉ có sinh viên di cư được ở nhưng dần dần khu này được xây cất thêm và một số sinh viên di cư đă tốt nghiệp Đại Học nên bất cứ sinh viên nào không có nhà tại Sài G̣n đều có thể nộp đơn xin ở trong Đại Học Xá.

Khu này chia làm 2 phần: một phần gồm có sinh viên độc thân và phần kia gồm những sinh viên có gia đ́nh. Sinh viên có gia đ́nh được ở trong các căn nhà có 2 pḥng nhỏ dành cho một gia đ́nh. Nhiều pḥng khác dành cho sinh viên độc thân, mỗi pḥng có thể ở tối đa là 6 người, mỗi người có một giường cá nhân nhỏ và 1 bàn học chung cho 6 người. V́ lúc đó rất ít nữ sinh viên cho nên không có nữ sinh viên nào ở trong Đại Học xá. Khu Đại Học Xá c̣n tổ chức một câu lạc bộ tức là một khu ăn uống với giá biểu là 10 đồng cho mỗi bữa ăn. Thời gian này giá vàng 2800 đồng/một lượng, và mức lương trung b́nh của một công chức là 5000 đồng/một tháng. Thành ra giá 10 đồng/một bữa ăn rất là rẻ, nhưng số tiền này thực tế chỉ dành để mua thức ăn v́ gạo do chính phủ Mỹ hoặc Việt Nam cung cấp.

Đại học xá là nơi quy tụ của nhiều sinh viên từ Bắc đến Nam do đó cứ vào Đại Học Xá Minh Mạng sẽ gặp các bạn bè quen biết.


P) Sự Xếp Hạng Trong Các Kỳ Thi Trung và Đại Học:

Do ảnh hưởng của Pháp trong thời Pháp thuộc, sự xếp hạng trong việc thi cử của các bậc Trung học và Đại học ở nước ta như sau:

Thứ (điểm 10/20) - mention passable
B́nh Thứ (điểm 12/20) - mention assez bien
B́nh (điểm 14/20) - mention bien
Ưu (điểm 16/20) – mention très bien
Tối ưu (điểm 18/20) – mention honorable

  

Q- Kết Luận:

Ảnh hưởng của nền Giáo Dục vào Kinh Tế

Đặc biệt, chính phủ Việt Nam Cộng Ḥa cố gắng thay đổi nền giáo dục từ Tiểu, Trung và Đại Học; tất cả đều được giảng dạy bằng tiếng Việt khác với trước năm 1954, Đại Học học bằng tiếng Pháp. Ngoài ra, toàn bộ các sách Giáo Khoa cũng đă được dịch sang tiếng Việt và đă sắp xếp từ lớp 1 đến lớp 12 y hệt của Mỹ và v́ vậy, sau năm 1975 các học sinh Việt Nam di chuyển sang Mỹ chuyển lớp dễ dàng để hội nhập vào các trường học tại Mỹ.

Một cố gắng cuối cùng của chính phủ là bỏ kỳ thi Tú Tài I năm 1973, do đó năm 1974 chỉ cần học bạ lớp 12 là được dự thi bằng Tú Tài và dùng máy Điện Toán IBM để chấm bài. Kỳ thi này đă cho tốt nghiệp rất nhiều Ưu hạng, B́nh hạng và B́nh Thứ khác hẳn trong chế độ thi cử cũ, rất ít người đậu Ưu hay B́nh.

V́ kỳ thi Tú Tài Việt Nam đă bỏ Vấn Đáp kể từ năm 1968, cho nên trong kỳ thi Viết có những phần riêng hỏi về Sinh Ngữ, Sử Kư, Địa Lư, Việt Văn, và Vạn Vật. Trong kỳ thi Trắc Nghiệm, tùy từng ban trong đó các môn chính được điểm cao hơn thí dụ ban B, môn Toán được 80 điểm (tương đương với hệ số 4), môn Lư Hóa 60 điểm (tương đương với hệ số 3), môn Triết được 20 điểm (tương đương với hệ số 1)…

Tuy nhiên, việc thi hành và xử dụng máy Điện Toán IBM đề chấm bài thi là một khuyết điểm lớn (hành động không giống ai) của Bộ Quốc Gia Giáo Dục v́ rằng trên toàn thế giới ngay cả bên Mỹ cũng không dùng máy Điện Toán để chấm bất cứ một kỳ thi nào. Trong thời gian này, những máy Điện Toán IBM trong Bộ Tổng Tham Mưu chỉ được dùng trong vấn đề Quân Sự chứ không phải phục vụ việc chấm bài thi nên đă làm cho các giáo chức ngồi chơi xơi nước. Kết quả của cuộc thi Tú Tài năm 1974 (quen gọi là Tú Tài IBM) là đậu quá nhiều so với thường lệ, và bằng cấp do đó bị lạm phát v́ có rất nhiều bằng Tối ưu và Ưu mà không phản ảnh đúng khả năng của thí sinh.

Tính cho đến cuối năm 1974, chính phủ Việt Nam Cộng Ḥa đă xây dựng được một nền giáo dục 12 năm ngang bằng các nước tân tiến như Mỹ Quốc và phục vụ cho một nền Kinh tế Thị trường càng ngày càng phát triển thí dụ lập được các nhà máy Dệt tại Thủ Đức, lập được nhà máy xi-măng tại Hà Tiên và đă thăm ḍ thấy một số dầu hỏa ở ngoài khơi thuộc địa phận Việt Nam, trái với thời Pháp thuộc một năm chỉ sản xuất được 100 trí thức th́ nay năm 1974 đă sản xuất được hàng vạn trí thức thuộc các ngành Bác Sĩ, Nha Sĩ, Dược Sĩ, Cử Nhân Luật, Cử Nhân Khoa Học, Đại Học Sư Phạm, Cử Nhân Văn Khoa, các Kỹ Sư Điện, Cơ Khí, Công Chánh, Công Nghệ, Hóa, Nông Lâm Súc, Bác Sĩ Thú Y, một vài bằng Tiến Sĩ Khoa Học nhất là Kiến Trúc Sư phục vụ cho nền kinh tế đang trên đà mở mang.

Trong thời gian này, kỹ nghệ cơ khí cũng bắt đầu chế tạo được xe hơi tên là La Dalat mượn đầu máy động cơ của Pháp hiệu Citroën nhưng được đóng thùng tại Việt Nam. Đồng thời, Hải Quân Công Xưởng cũng đă chế tạo tàu Ferro-Cement tiện dùng cho các Duyên Đoàn Hải Quân bảo vệ bờ biển duyên pḥng của miền Nam cùng với ghe Yabuta,...

Công lao to tát của tất cả các giáo sư, giảng sư giảng dạy trong các trường Đại Học Việt Nam kể cả trường Kỹ Sư Phú Thọ mặc dầu c̣n thiếu rất nhiều Giáo Sư có bằng Tiến Sĩ hoặc Thạc Sĩ (Y Khoa, Luật Khoa) nhưng cũng góp công hết ḷng hết sức giảng dạy bằng tiếng Việt đưa nền Giáo dục Việt Nam, bậc Trung học cũng như bậc Đại học không thua kém với các nước đương thời như Singapore, Thái Lan, Đại Hàn….

  

Ta cũng nên nhắc lại nền kinh tế Việt Nam Cộng Ḥa là nền Kinh tế Thị trường phát triển theo các nước tự do và tập cho người dân quen biết với kinh tế thị trường nghĩa là giá cả thị trường theo khuynh hướng Cung Cầu. Luật Cung và Cầu có nghĩa rất đơn giản là nếu "Cầu nhiều Cung ít" th́ giá phải lên và ngược lại "Cung nhiều Cầu ít" th́ giá phải xuống và như vậy một nước muốn cho nền kinh tế phát triển ắt phải điều ḥa Cung và Cầu tại giao điểm của 2 đường biểu diễn (Điểm cân bằng – Equilibrium point). Cái ưu điểm của nền Kinh tế Thị trường là tự do cạnh tranh để có thể bảo đảm giá hàng cho người tiêu thụ, lương bổng cho công nhân và một phần cho các nhà tư bản. Nhờ máy móc càng ngày càng phát triển, như vậy năng suất công nhân càng ngày càng cao và lương bổng của công nhân cũng được tăng theo hàng năm mà không ảnh hưởng tới vấn đề lăi của các cổ đông nghĩa là những người đă có vốn cho công ty kinh doanh. Thực tế, nền tư bản là do sự đóng góp của toàn thể các cổ đông (những người có mua cổ phần chứng khoán). Nền kinh tế của miền Nam Việt Nam đang trên đà phát triển theo chiều hướng tư bản th́ bị ngưng lại sau khi miền Nam bị miền Bắc đánh chiếm vào ngày 30 tháng 4 năm 1975.


 

 

Tham khảo:

Trong việc hoàn tất loạt bài này, tác giả dựa theo trí nhớ và đă tham khảo những tài liệu sau đây:

Trước năm 1945: Tham khảo "Việt Nam Sử Lược" của
                           Trần Trọng Kim

Sau năm 1945:  Tham khảo của những người đă
                         sống trong những thời đó thí dụ muốn
                         biết việc thi cử trong khoảng 60-75 th́
                         hỏi những thí sinh và các giáo sư
                         trong khoảng thời gian đó.

Các Websites liên hệ được trích dẫn trong những bài viết.

Tác giả rất cần ư kiến của các chuyên gia về cách học tập và thi cử ở các trường Đại Học qua mọi thời đại thí dụ như về Y Khoa cần ư kiến của các Bác Sĩ đă từng tốt nghiệp ở Đại Học Việt Nam, Nha Khoa cần các Nha Sĩ, Dược Khoa cần Dược Sĩ, Luật Khoa cần các vị tốt nghiệp trường Luật và tất cả các trường khác tại Việt Nam,… Mong toàn thể quư vị góp ư kiến v́ không một ai có thể biết tất cả các bộ môn được. Cám ơn quư vị.

 

Nguyễn Văn Thành
Thượng tuần tháng 5, 2005
(c̣n tiếp)