Nguyễn Văn Thành
 

 

Sự Giáo Dục và Thi Cử Qua
    Các Thời Đại  Ở Việt Nam
:
 

 Phần 1  |   Phần 2  |  Phần 3  |

Phần 4   |   Phần 5  Phần 6  |

Phần 7   |   Phần 8  |  Phần 9  |

Phần 10 |  Phần 11 Phần 12 |

Phần 13 |  Phần 14 Phần 15 |

Phần 16 |  Phần 17 Phần 18 |

Phần 19 | Phần 20  |  Phần 21 |

Phần 22 | Phần 23  | Phần 24

 

 

 

 

 

 

 

 

 


S
  GiÁO  DỤC  VÀ THI C  QUA cÁC THỜI  ĐẠI
  V I Ệ T   N A M

Nguyễn Văn Thành


Phần 13:

  

 

E- GIÁO DỤC VÀ THI CỬ TỪ NĂM 1975 ĐẾN NGÀY NAY


Thời Kỳ Thứ Hai (1986-Ngày nay):

Trong giai đoạn 1975-1986, nền Kinh Tế Việt Nam hoàn toàn là nền Kinh Tế của Xă Hội Chủ Nghĩa trong đó chính phủ quản lư tất cả các cơ sở sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, thương mại,… thậm chí đến hàng phở, cà phê cũng hoàn toàn do nhà nước quản lư. Cũng trong thời gian này, một số lớn đồng bào đă bỏ nước ra đi và cuộc chiến tranh với Trung Quốc và Cam-Bốt đă xảy ra như đă đề cập ở phần trước.

Chủ tịch Sô Viết, Mikhail Gorbachev khuyên Việt Nam đổi mới để cho nền Kinh Tế được cải thiện hơn. Vào năm 1986, tân Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Nguyễn Văn Linh ban hành lệnh đổi mới, ngoài ra ông Linh cũng đă yêu cầu các nhà văn, nhà báo cứ thực sự viết ra những sai lầm của nền kinh tế nhà nước Việt Nam hầu có thể sửa đổi lại cho tốt hơn. Ông đă cho thi hành chính sách Kinh tế Tư nhân để cứu văn nền kinh tế XHCN. Từ đó, nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng XHCN ra đời, trong đó một phần áp dụng Kinh Tế Tư Bản và phần c̣n lại vẫn phải theo quyết định của nhà nước.

Dưới áp lực của Liên Hiệp Quốc, Việt Nam phải rút quân khỏi Cam-Bốt năm 1989, sau đó nền Kinh tế Việt Nam thoát khỏi nạn cấm vận quốc tế ngoại trừ Mỹ. Măi đến năm 1995, chính phủ Mỹ thiết lập bang giao với Việt Nam và tiếp theo đó Mỹ cũng rút lệnh cấm vận.

V́ sự đổi mới Kinh Tế, nên nền Giáo Dục và Thi Cử Việt Nam ảnh hưởng theo kể từ năm 1986 để có thể phục vụ hữu hiệu nền Kinh Tế Thị Trường, nói một cách nôm na là đủ các Kỹ sư, Chuyên viên Điện toán Tin học để phục vụ các Công ty Ngoại quốc cũng như các Công ty Liên Doanh Việt Nam. Ta thấy rằng các nhà Kỹ nghệ và Thương gia ngoại quốc đến Việt Nam kinh doanh, không biết nói tiếng Việt, và chỉ dùng tiếng Anh trong việc giao dịch thông tin và thương mại. V́ vậy, toàn thể các trường cố gắng không ngừng phát triển ngôn ngữ Anh, thậm chí các học sinh bậc Tiểu học và Mẫu giáo cũng học tiếng Anh. Tất nhiên, chính phủ không đủ tiền trong ngành Giáo Dục và tất cả các trường Công lập từ Tiểu Học, Trung Học và Đại học đều phải đóng học phí tùy theo từng trường đóng nhiều hay ít. Ngoài ra, các trường Tư Thục, Bán Công Dân Lập từ Tiểu Học, Trung Học đến Đại Học cũng được khuyến khích thành lập để bớt gánh nặng cho nhà nước. Và như vậy, những trường Tiểu Học có dạy thêm tiếng Anh đ̣i hỏi học sinh phải thi vào và đóng tiền riêng để được học Anh ngữ.

Chính phủ cũng khuyến khích các trường ngoại quốc thiết lập tại Việt Nam từ Tiểu học, Trung học và Đại học. Tuy nhiên, những trường tư Tiểu, hay Trung hay Đại học đều có giá biểu rất cao. Tiêu biểu, một học sinh Trung học Tư Thục của ngoại quốc phải đóng một tháng từ 5 đến 6 triệu đồng VN (khoảng 400 usd). Cho đến giờ này có rất nhiều trường ngoại quốc mở mang tại Việt Nam nhưng giá trị các trường này phải xét lại và sẽ được phân tích rơ hơn trong những phần kế tiếp.

  

Sau khi nền giáo dục Trung và Tiểu học đă được thay đổi thành 12 năm ngang bằng với thời VNCH năm 1975, Bộ Giáo Dục và Đào Tạo cố gắng nâng cao tŕnh độ của các Giảng Viên Đại Học bằng cách tăng cường du học tại quốc ngoại. Trước kia trong giai đoạn 1975-1986, các Giảng viên Đại học thương chỉ do những người vừa tốt nghiệp Đại Học với hạng cao mới được giữ lại giảng dạy nghĩa là những người không có bằng Tiến Sĩ hoặc Thạc Sĩ. Các nhà Giáo Dục miền Bắc nay cử các sinh viên đó đi du học hầu khắp các nước như Nga, Đông Âu, các nước Âu Châu như Pháp, Đức, Anh, nhưng chưa có Hoa Kỳ.

Khoảng năm 1995, Mỹ thiết lập quan hệ ngoại giao b́nh thường với Việt Nam, lúc ấy sinh viên được cử đi sang du học tại Nhật và Mỹ. Mỗi năm chính phủ Mỹ cấp khoảng 50 học bổng FULBRIGHT cho các sinh viên Việt Nam, đồng thời Pháp và Đức cũng cấp nhiều học bổng. Trước năm 1990, các sinh viên thường đi du học tại Nga và các nước Đông Âu nhưng v́ tiếng Nga rất khó học cho nên phần đông sinh viên Việt Nam không đạt được học vị Tiến Sĩ mà chỉ đạt được học vị Phó Tiến Sĩ mà thôi tương đương với Master Degree tại Mỹ hoặc Doctorat de Troisième Cycle (Tiến Sĩ Đệ Tam Cấp) tại Pháp. Nhiều sinh viên được cử đi du học tại Đông Âu nhưng nếu không đậu, họ không trở về nước giảng dạy được, và chọn ở lại quốc gia đó để buôn bán. Trái lại, các sinh viên du học tại Mỹ nếu hết hạn, bắt buộc phải trở về Việt Nam v́ chính phủ Mỹ không cho ở lại.

  

Trong giai đoạn 1986 - 2005, bậc Trung và Tiểu Học vẫn 12 năm, tuy nhiên bắt đầu từ năm 2005 kỳ thi Tiểu học được băi bỏ, do đó chỉ c̣n Trung học Cơ Sở (lớp 9) và Trung học Phổ Thông (lớp 12) có tổ chức các kỳ thi. Tuy nhiên, việc thay thế kỳ thi Tiểu Học bằng các kỳ thi học kỳ tại các trường Tiểu học lớp 5 được sự quản lư chặt chẽ của các sở Giáo Dục; không c̣n thi tùy tiện của Giáo chức, nghĩa là ra thi cùng đề. Như vậy, tuy bỏ Tiểu học nhưng h́nh thức vẫn không thay đổi và kết quả của kỳ thi học kỳ này cũng dùng để xét tuyển vào lớp 6. Do đó, nhiều trường Bán Công và Tư Thục mở cửa để thu nhận một số học sinh không được xét tuyển vào các trường Công. Trong thời gian này, ngoài việc trường Trung học được học Sinh ngữ, các trường Tiểu học tùy từng trường cũng được phép mở thêm Sinh Ngữ cho bậc Tiểu Học. Tất nhiên, muốn được học Sinh Ngữ, học sinh phải đóng thêm tiền và nhiều nơi thậm chí phải thi tuyển tiếng Anh vào lớp 1. Các trường Tư thục, Tiểu học và Trung học dạy gần hết bằng tiếng Anh.

Đặc biệt, các trường Tư thục mở ra dành cho con cái của các nhà giàu hoặc con em cán bộ có khả năng trả học phí. Những trường Tư Thục này học phí rất cao, vài thí dụ điển h́nh:

Trường Kinder World: Một tam cá nguyệt, học phí 1500 usd (đô-la Mỹ), tiền đăng kư 100 usd, tiền đưa đón xe 500 usd.

Trường Asian School, lớp 6 và 7 học phí 3 triệu 3 một tháng (200 usd). Lớp 11 và 12, 5 triệu 3 một tháng (trên 300 usd một tháng).

Trường International Primary School, lớp 1,2, 3 đóng 1 triệu 7 một tháng, và lớp 4, 5 đóng 1 triệu 8 một tháng. Tất cả các trường Tư khác, Bán công kể cả trường Công lập phải đóng học phí.

Ngoài ra, học sinh của nhiều trường Công lập c̣n kém, cũng phải đóng tiền học thêm. Trang Web sau đây sẽ dẫn chứng:

Tuần qua, không ít phụ huynh đă phản ứng về việc một số trường tăng tiết, ḍ bài cho học sinh. Như tại Trường THCS Chánh Hưng (quận 8) nhà trường đă tăng tiết trong 3 tháng (1, 2 và 3) và thu đến 200.000 đồng/HS...

http://www.sggp.org.vn/giaoduc/nam2005/thang5/48364/

Tóm lại trước năm 1986, học sinh không phải đóng tiền nay theo Kinh Tế Thị Trường, tất cả các trường đều phải đóng tiền học phí trong đó trường Tư đóng nhiều hơn trường Công.

Trái với giai đoạn giáo dục và thi cử trong khoảng 1975-1986, các trường Trung học không có phân ban nay chuẩn bị phân ban nhưng v́ c̣n trong thời gian thí điểm giảng dạy một số lớp với sách Giáo Khoa cho từng ban, trọng điểm như ban chuyên về Toán Hóa Sinh, ban chuyên về Sinh Ngữ v…v… nên toàn thể các trường chưa nhận lệnh thi hành. Bộ Giáo Dục và Đào Tạo sẽ ban hành vào khoảng năm 2006 hay 2007.

Các trường Đại học cũng có nhiều thay đổi thí dụ như ban Y Khoa có mở thêm Thạc Sĩ và Tiến Sĩ. Bác Sĩ học thi Thạc Sĩ, học thêm 2 năm lấy bằng Tiến Sĩ và Thạc sĩ học thêm 2 năm nữa thi lấy bằng Tiến Sĩ. Như vậy các thay đổi này không giống tổ chức của Pháp v́ theo Pháp, văn bằng Thạc Sĩ Y Khoa cao hơn văn bằng Tiến Sĩ Y Khoa.

Ngoài ra, tất cả các trường Đại Học có thêm ngành Tin học. Đại Học Bách Khoa Hà Nội hoặc Sài G̣n đào tạo các Kỹ Sư, mỗi năm có khoảng trên 3000 sinh viên. Thí dụ Đại Học Bách Khoa Sài G̣n năm 2004 tuyển lựa 600 sinh viên cho ban Điện Từ, 330 sinh viên cho Công Nghệ Thông Tin, 210 sinh viên Cơ Khí, Công Nghệ Dệt May 70 sinh viên, Kỹ Thuật Nhiệt 50 sinh viên, Hóa Thực Phẩm 310 sinh viên, Xây Dựng 300 sinh viên, Kỹ Thuật Địa Chất 150 sinh viên, Quản Lư Công Nghiệp 180 sinh viên, Giao Thông Vận Tải 120 sinh viên, Kỹ Thuật Môi trường 160 sinh viên…

Trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội cũng tuyển lựa đại khái như vậy.

Trường Đại Học Khoa Học Tự Nhiên có dạy các môn Toán, Tin Học, Đại Số và Giải Tích, Giải Tích Tin Học, Thống Kê, Toán Tin, Phương pháp Toán trong Tin học, Công Nghệ Thông Tin. Ngành Hóa Học có học các môn chuyên môn: Hóa Lư, Hóa Hữu cơ, Hóa Lư Thuyết, Hóa Tin Học, Hóa Xúc Tác, Điện Hóa Học, Hóa Học Phân Tử, Hóa Vô Cơ, Hóa Hữu Cơ, Hóa Phân Tích. Môn Vật Lư cũng học nhiều ngành chuyên môn như Lư Ứng Dụng, Lư Học Hiện Đại, Lư Học Phân Tử, Vật Lư Chất Rắn, Địa Chất, Sinh Vật, Công Nghệ Sinh Học v…v…

Trường Đại Học Khoa Học cấp phát các bằng Cử Nhân, Thạc Sĩ (Cao Học) hoặc Tiến Sĩ. Sau một thời gian dài măi đến năm 1986, những người tốt nghiệp Đại Học loại 4 năm không được gọi học vị Cử Nhân, nay dùng lại những danh từ có từ thời VNCH (Cử Nhân, Thạc Sĩ, Tiến Sĩ). Thí dụ tốt nghiệp Đại học Toán, Vật Lư nay tái sử dụng học vị Cử Nhân, Thạc Sĩ hay Tiến Sĩ mà không c̣n gọi là Tốt Nghiệp Đại Học.

Riêng trường Đại Học Luật Khoa chưa bao giờ được mở cửa trong giai đoạn 1975-1986 nhưng sau năm 1986, phải thiết lập v́ nhu cầu buôn bán với các nước ngoài, tranh tụng với những người nước ngoài cũng như người trong nước, và nhất là cần các Luật Sư và Chánh Án, Biện Lư có khả năng biết về Luập Pháp, ứng dụng Luật Pháp và phải là những người trí thức tốt nghiệp tại Đại Học Luật Khoa v́ khi giao dịch với nước ngoài, văn bản tranh tụng đều dựa trên luật pháp quốc tế, đảm bảo kinh doanh và an ninh của các nhà đầu tư ngoại quốc kinh doanh ở Việt Nam. Các nhà đầu tư cần thông hiểu luật pháp và một khi họ bỏ tiền đầu tư, họ cần biết tiền lời đầu tư có được phép chuyển về nước của họ hay không và thuế địa phương là bao nhiêu, v.v… Luật lệ cạnh tranh phải thật rơ ràng, luật lệ ngân hàng phải minh bạnh thí dụ Công ty ở Ngân hàng đến cuối tháng cần lấy tiền ra để trả công nhân nhưng nếu Ngân hàng chậm trễ không trả đúng thời hạn th́ công nhân tất nhiên sẽ đ́nh công cản trở và đ́nh trệ việc kinh doanh. Do vậy, muốn mở mang kinh tế buộc ḷng chính phủ phải mở trường Luật. Lúc đầu trường này chỉ có cấp phát văn bằng Cử Nhân nay hợp tác với ngoại quốc thí dụ hợp tác với trường Đại Học ở Na-Uy đang chuẩn bị mở Thạc Sĩ và Tiến Sĩ Luật tại Việt Nam. Trường Đại Học này theo khuynh hướng của Mỹ nghĩa là văn bằng Tiến Sĩ cao hơn văn bằng Thạc Sĩ; trong khi khuynh hướng của Pháp, trường Đại Học Luật Khoa và trường Đại Học Y khoa, Thạc Sĩ cao hơn Tiến Sĩ (xem lại phần 5).

Nói một cách tổng quát về cách tuyển lựa vào Đại Học và Cao Đẳng, cứ 6 người thi một người đỗ tức khoảng 15%. Chẳng hạn, năm 2005 có khoảng 1 triệu rưởi thí sinh toàn quốc nhưng chỉ tuyển lựa 225780 sinh viên trong số này có khoảng 120590 được tuyển lựa vào Đại Học và phần c̣n lại vào trường Cao Đẳng 2 năm.

Thí dụ:

Trích từ Website Giáo Dục và Thời Đại.
http://www.gdtd.com.vn/

Đại Học Kiến Trúc dự thi 7156 thí sinh chỉ có 900 người được tuyển.

Đại Học Nông Lâm Súc dự thi 32255 người lựa 2200 người.

Đại Học Kinh Tế ghi danh thi 45250 người tuyển 4300 người.

  Đại Học Luật dự thi 14640 người tuyển lựa 900 người

Đại Học Ngân Hàng ghi danh thi 7478 người tuyển lựa 800 người.

Đại Học Sư Phạm Kỹ Thuật Sài G̣n 22842 người dự thi tuyển lựa 2500 người.

Đại Học Sư Phạm Sài G̣n 27014 người dự tuyển 2000 người.

 Đại Học Bách Khoa 11309 người dự tuyển 3350 người

Đại Học Khoa Học Nhân Văn dự thi 13416 người dự tuyển 2260 người.

Đại Học Khoa Học Tự Nhiên dự thi 13475 người dự tuyển 3100 người.

Ngoài các Đại Học Công Lập cũng có các Đại Học Tư Thục gồm Đại Học Phương Đông, Đại Học Hùng Vương, Đại Học Văn Lang, Hồng Đức, Thăng Long, Đại Học Quản Lư và Kinh Doanh Hà Nội.


 

 

Tham khảo:

Trong việc hoàn tất loạt bài này, tác giả dựa theo trí nhớ và đă tham khảo những tài liệu sau đây:

Trước năm 1945: Tham khảo "Việt Nam Sử Lược" của
                           Trần Trọng Kim

Sau năm 1945:  Tham khảo của những người đă
                         sống trong những thời đó thí dụ muốn
                         biết việc thi cử trong khoảng 60-75 th́
                         hỏi những thí sinh và các giáo sư
                         trong khoảng thời gian đó.

Các Websites liên hệ được trích dẫn trong những bài viết.

Tác giả rất cần ư kiến của các chuyên gia về cách học tập và thi cử ở các trường Đại Học qua mọi thời đại thí dụ như về Y Khoa cần ư kiến của các Bác Sĩ đă từng tốt nghiệp ở Đại Học Việt Nam, Nha Khoa cần các Nha Sĩ, Dược Khoa cần Dược Sĩ, Luật Khoa cần các vị tốt nghiệp trường Luật và tất cả các trường khác tại Việt Nam,… Mong toàn thể quư vị góp ư kiến v́ không một ai có thể biết tất cả các bộ môn được. Cám ơn quư vị.

 

Nguyễn Văn Thành
Cuối tháng 5,
2005
(c̣n tiếp)