Nguyễn Văn Thành
 

 

Sự Giáo Dục và Thi Cử Qua
    Các Thời Đại  Ở Việt Nam
:
 

 Phần 1  |   Phần 2  |  Phần 3  |

Phần 4   |   Phần 5  Phần 6  |

Phần 7   |   Phần 8  |  Phần 9  |

Phần 10 |  Phần 11 Phần 12 |

Phần 13 |  Phần 14 Phần 15 |

Phần 16 |  Phần 17 Phần 18 |

Phần 19 | 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


S
  GiÁO  DỤC  VÀ THI C  QUA cÁC THỜI  ĐẠI
  V I Ệ T   N A M

Nguyễn Văn Thành


Phần 3:

  

 

B- GIÁO DỤC VÀ THI CỬ TRONG THỜI PHÁP THUỘC:
 

Sau cuộc cách mạng kỹ nghệ tại Âu Châu khoảng thập niên 1800, người Âu Châu có thể sản xuất nhiều khí giới tốt cho nên họ có tham vọng đi t́m thuộc địa và v́ thế bành trướng chủ nghĩa đế quốc của họ..

Tây Ban Nha chiếm Mễ Tây Cơ (Mexico) và Nam Mỹ.

Ḥa Lan chiếm Nam Dương quần đảo.

Anh chiếm một phần Gia Nă Đại (Canada), Bắc Mỹ, Ấn Độ (trong đó có Pakistan và Bangadesh), Mă Lai Á, Úc Châu và một số nước Phi Châu.

Pháp chiếm một phần Canada (hiện nay Québec, Montréal vẫn c̣n nói tiếng Pháp), Louisiana (sau Pháp bán lại cho Mỹ). Pháp cũng chiếm Phi Châu như Maroc, Tunisia, Algerie, Trung Đông. Syria, Liban, một phần Ấn Độ (Pondichéry), Việt Nam, Lào và Cam Bốt.

Anh chiếm một phần Thượng Hải khoảng thế kỷ thứ 19, Pháp cũng chiếm một phần trong lănh thổ của Trung Hoa, gọi là Tô Giới.

Pháp bắt đầu lấn chiếm Việt Nam trong thời vua Tự Đức. Khoảng năm 1858 đến năm 1884, coi như Pháp đă chiếm toàn bộ nước ta sau khi kư kết với Tàu và Pháp trả lại Tô Giới tại Thượng Hải, đổi lại Tàu rút quân về nước không đánh giúp các vua triều Nguyễn nữa. (Hiệp ước Thiên Tân được kư giữa Tàu và Pháp ngày 27 tháng 4 năm Ất Dậu - 1885, Tàu đă nhượng bộ để Việt Nam hoàn toàn cho Pháp đô hộ và cam kết không c̣n giúp Việt Nam chống lại Pháp nữa). Cho đến khi vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết thất trận, Pháp hoàn toàn cai trị nước ta, tuy chỉ có 2 vua Thành Thái và Duy Tân c̣n cố gắng chống cự lại Pháp. Thực dân Pháp đă bắt đi tù 3 vua Hàm Nghi, Thành Thái và Duy Tân măi tận Phi Châu, rồi những vua sau đời nhà Nguyễn thực tế chỉ là bù nh́n của Pháp mà không c̣n chút quyền hành nào cả.

Hoàn tất việc bảo hộ xong, Pháp chuẩn bị mở mang nền giáo dục. Tuy nhiên, v́ chưa có một nền giáo dục nào cả nên lúc đầu, họ vẫn xử dụng các tri huyện là những người biết chữ Nho. Đến khoảng năm 1900, Pháp bắt đầu thiết lập bậc Tiểu Học rồi Trung Học.

Cũng trong thời gian này, Pháp mở các trường Thông ngôn và các trường Huấn luyện Hành chánh có dạy kèm một số Dân Luập Pháp nằm phục vụ cho chính quyền bảo hộ. Măi đến năm 1917, Pháp băi bỏ các kỳ thi chữ Nho và mở trường Đại Học Hà Nội năm 1918.

Tổ chức giáo dục của Pháp trên thực tế chỉ phục vụ cho nền cai trị và quyền lợi của thực dân Pháp. Họ đào tạo một số công chức nhà nước sẵn sàng theo lệnh của nhà cầm quyền Pháp mà không có một mục đích nào để phát triển văn hóa và phục vụ cho xă hội và nhân dân Việt Nam cả.


(1) Cách Tổ Chức Các Trường Tiểu Học:

Pháp chia nền giáo dục Tiểu Học thành 7 năm học.

Muốn vào lớp Năm phảỉ theo học từ một đến hai năm Dự Bị, tương đương với Mẫu Giáo (École Maternelle) bây giờ.

Lớp Năm, lớp Tư và lớp Ba được giảng dạy bằng tiếng Việt nhưng buộc học sinh bắt đầu học tiếng Pháp. Sau lớp Ba, học sinh thi văn bằng tốt nghiệp gọi là bằng Sơ Học Yếu Lược (Certificat d’Études Élémentaires). Đậu Sơ Học Yếu Lược xong, học sinh phải thi vào lớp Nh́ (Cours Moyen) nhưng nếu rớt học sinh không được tiếp tục việc học nữa.

Tất cả các môn học ở lóp Nh́ đều phải học bằng tiếng Pháp, do vậy Pháp đặt ra 2 lớp Nh́:

Lớp Nh́ năm thứ nhất
Lớp Nh́ năm thứ hai.

Cuối năm lớp Nhất, học sinh phải thi bằng Tiểu học trong đó tất cả các môn thi được thi bằng tiếng Pháp như Chính tả (Dictée), Luận văn (Composition), Toán (Mathématiques), Khoa học (Sciences) và Sử - Địa (Histoire – Géographie).

Nếu phạm 5 lỗi viết chính tả, thí sinh dự thi viết đương nhiên rớt. Do đó các kỳ thi Tiểu Học (Primaire) cũng ít khi đậu quá 30%. Sau khi tốt nghiệp Tiểu Học, học sinh phải thi vào năm thứ nhất bậc Trung Học.
 

(2) Cách Tổ Chức Các Trường Trung Học:

Sau 4 năm học, học sinh thi bằng Trung Học Tốt Nghiệp, nếu đậu, học sinh phải thi vào lớp Seconde (École secondaire) tương đương với lớp 10 bây giờ. Sau khi học một năm lớp Seconde, học sinh lên lớp Première tương đương với lớp 11 bây giờ, cuối năm đó thi Tú Tài I. Đậu xong Tú Tài I, học sinh lên lớp Terminale (lớp 12 bây giờ) là lớp cuối cùng của bậc chót Trung Học để thi Tú Tài II.

Trung Học Phổ Thông, Tú Tài (Baccalauréat) I và II đều phải thi bằng tiếng Pháp.

Việc giáo dục được Pháp chia ra một phần dành cho con cháu của các quan cai trị người Pháp theo học tại trường Pháp và có chương tŕnh y hệt bên Pháp, phần c̣n lại cho các trường Trung Học Việt Nam để cho dân Việt Nam theo học.

Đại đa số những người học ở trường Pháp là con của các nhân viên người Pháp nằm trong bộ máy cai trị tại Việt Nam như con của các quan công sứ, bác sĩ, kỹ sư, giáo sư, luật sư, chánh án, các thương nhân, chủ đồn điền cao su….và rất ít những người con của Việt Nam được học nhưng sau dư chỗ v́ không đủ sĩ số học sinh nên Pháp cho phép một số ít dân Việt Nam theo học sau khi đậu kỳ thi tuyển vào trường Pháp.

Bằng cấp phát theo hệ thống giáo dục bên Pháp, bằng Trung Học được gọi là bằng Brevet, bằng Tú Tài gọi là bằng Tú Tài Pháp và tỷ số thi đỗ khoảng 50-60% trong khi đó bằng Trung Học cho dân bản xứ học th́ gọi là bằng Tú Tài nội địa (Baccalauréat local) và bằng Trung Học được gọi là Cao Đẳng Tiểu Học Đông Dương (DEPSI – Diplôme d’Études Primaire Supérieure Indochinois). Thông thường, thi Tú Tài Pháp th́ dễ hơn thi Tú Tài bản xứ, do đó đề thi của Tú Tài Pháp và Tú Tài bản xứ khác nhau. Điều này có nghĩa rằng, thi đỗ bằng Tú Tài Việt Nam rất khó. Trong các kỳ thi, Tú Tài I có sĩ số thí sinh đậu chiếm từ 10 tới 20% và Tú Tài II khoảng chừng 20 đến 40%.

Rất ít trường Trung Học được Pháp thiết lập trên khắp lănh thổ Việt Nam từ Bắc tới Nam. Ngoài Bắc chỉ có trường Bưởi và trong Nam có trường Petrus Kư là dạy được Tú Tài II. C̣n các trường khác như trường Phan Thanh Giản ở Cần Thơ hoặc trường Nguyễn Đ́nh Chiểu ở Mỹ Tho, chỉ dạy đến Trung Học Đệ Nhất Cấp mà thôi. Ở miền Trung chỉ ở Huế có trường Trung Học Đệ Nhất Cấp gọi là trường Bảo Hộ (École Protectorate Française).

Ngoài ra, ở Hà Nội có trường Trung Học của Pháp tên là Lycée Albert-Sarraut, trong Nam có trường Chasseloup- Laubat ở Sài G̣n là dạy đến lớp cuối cùng (Terminale) của chương tŕnh Pháp. Và v́ vậy cả Bắc lẫn Nam, mỗi năm sản xuất chỉ được trên dưới 100 người có bằng Tú Tài mà thôi. Tuy nhiên, Pháp không đặt trường Đại Học ở trong Nam v́ con cháu của các người giàu có thường là dân Tây (có quốc tịch Pháp) gửi con theo học các Đại Học tại Pháp. V́ vậy ta không lấy làm lạ là trường Đại Học chỉ được mở tại Hà Nội năm 1918 mà không mở tại Sài G̣n.

Xem như vậy, thực dân Pháp không thực sự mở mang nền giáo dục của nước ta mà họ chỉ muốn đào tạo một số công chức và người làm tay sai cho Pháp mà thôi. Và với dân số khoảng 25 triệu người Việt Nam khoảng thập niên 1940 mà mỗi năm không quá 100 người tốt nghiệp bậc Đại Học thời Pháp thuộc.


 

 

Tham khảo:

Trong việc hoàn tất loạt bài này, tác giả dựa theo trí nhớ và đă tham khảo những tài liệu sau đây:

Trước năm 1945: Tham khảo "Việt Nam Sử Lược" của
                           Trần Trọng Kim

Sau năm 1945:  Tham khảo của những người đă
                         sống trong những thời đó thí dụ muốn
                         biết việc thi cử trong khoảng 60-75 th́
                         hỏi những thí sinh và các giáo sư
                         trong khoảng thời gian đó.

Các Websites liên hệ được trích dẫn trong những bài viết.

Tác giả rất cần ư kiến của các chuyên gia về cách học tập và thi cử ở các trường Đại Học qua mọi thời đại thí dụ như về Y Khoa cần ư kiến của các Bác Sĩ đă từng tốt nghiệp ở Đại Học Việt Nam, Nha Khoa cần các Nha Sĩ, Dược Khoa cần Dược Sĩ, Luật Khoa cần các vị tốt nghiệp trường Luật và tất cả các trường khác tại Việt Nam,… Mong toàn thể quư vị góp ư kiến v́ không một ai có thể biết tất cả các bộ môn được. Cám ơn quư vị.

 

Nguyễn Văn Thành
Trung tuần tháng 3,
2005
(c̣n tiếp)