Nguyễn Văn Thành
 

 

Sự Giáo Dục và Thi Cử Qua
    Các Thời Đại  Ở Việt Nam
:
 

 Phần 1  |   Phần 2  |  Phần 3  |

Phần 4   |   Phần 5  Phần 6  |

Phần 7   |   Phần 8  |  Phần 9  |

Phần 10 |  Phần 11 Phần 12 |

Phần 13 |  Phần 14 Phần 15 |

Phần 16 |  Phần 17 Phần 18 |

Phần 19 | Phần 20  |  Phần 21 |

Phần 22 | Phần 23  | Phần 24

 

 

 

 

 

 

 

 

 


S
  GiÁO  DỤC  VÀ THI C  QUA cÁC THỜI  ĐẠI
  V I Ệ T   N A M

Nguyễn Văn Thành


Phần 6:

  

 

C- GIÁO DỤC VÀ THI CỬ SAU NGÀY NHẬT ĐẢO CHÁNH PHÁP: (TRONG KHOẢNG MÙNG 9 THÁNG 3 NĂM 1945 ĐẾN NGÀY MÙNG 1 THÁNG 8 NĂM 1954).
 

Sau ngày đảo chánh mùng 9 tháng 3 năm 1945, Nhật giao chính quyền cho vua Bảo Đại và nhà vua đă cử ông Trần Trọng Kim làm Thủ Tướng lập Chính Phủ Quốc Gia đầu tiên tại Việt Nam. Ông Hoàng Xuân Hăn được đề cử giữ chức vụ Bộ Trưởng Bộ Quốc Gia Giáo Dục.

Ông Hoàng Xuân Hăn tốt nghiệp từ trường Bách Khoa Pháp, ngoài ra ông c̣n có văn bằng Cử Nhân Toán tại Đại Học Sorbonne và bằng Thạc Sĩ Toán tại Paris. Công trạng đáng kể của ông là đă xuất bản lần đầu tiên năm 1942 và được tái bản nhiều lần quyển "Danh Từ Khoa Học - Hoàng Xuân Hăn" bao gồm các môn Toán, Vật Lư, Hóa Học và Vạn Vật Học, và là cơ sở cho việc học Khoa Học từ Tiểu, Trung và Đại Học kể từ năm 1945 cho đến ngày nay. Mặc dầu nền khoa học đă tiến bộ nhiều nhưng cơ bản các danh từ khoa học vẫn lấy Danh Từ Khoa Học của Hoàng Xuân Hăn là chính, về sau chỉ bổ túc thêm mà thôi.

Ông Hoàng Xuân Hăn rất giỏi về Hán tự và chữ Nôm cho nên ngoài Danh từ Khoa học, ông c̣n dịch truyện Kiều và Chinh Phụ Ngâm từ chữ Nôm ra chữ Quốc Ngữ và có lời b́nh giải rất uyên thâm.

Ông đă ra lệnh cho toàn thể các trường học giảng dạy bằng tiếng Việt ở bất cứ chỗ nào có thể thi hành được, tuy nhiên chỉ có Trung học và Tiểu học là cố gắng dạy tiếng Việt c̣n các trường Đại học hầu như không hoạt động được nữa v́ rằng đại đa số giáo sư người Pháp dạy trường này đều bị Nhật bỏ tù vào ngày mùng 9 tháng 3 năm 1945. Nói như vậy có nghĩa rằng chính phủ Trần Trọng Kim chỉ tổ chức được các kỳ thi Tiểu học, và Trung học Phổ thông, Tú Tài I và II bằng tiếng Việt nhưng không tổ chức được kỳ thi tốt nghiệp Đại Học năm 1945. Măi cho đến ngày 19 tháng 8 năm 1945, Việt Minh cướp chính quyền và sau ngày đó những vùng do chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa cai trị, các việc học được tổ chức bằng tiếng Việt gồm có miền Bắc và một phần miền Trung. Như vậy, chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa chỉ lập được nền giáo dục tại miền Bắc và một vài tỉnh ở miền Trung là dạy theo tiếng Việt. Năm 1946, chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa tổ chức các kỳ thi Tiểu học, Trung học, Tú Tài và bậc Đại học hoàn toàn bằng tiếng Việt.

 


Sau khi Nhật đầu hàng quân đội Đồng Minh, quân đội Anh vào miền Nam nước ta để giải giới khí giới của quân đội Nhật. Pháp đă lợi dụng cơ hội này, núp theo chân quân đội Anh tiến chiếm lại toàn miền Nam và Pháp đă thiết lập lại việc học giống như thời trước tại Sài G̣n và các tỉnh mà Pháp chiếm được.


I- Sự Giáo Dục Trong Miền Đất Do Chính Phủ Quốc Gia Việt Nam Kiểm Soát:

Ta kể chính phủ Quốc Gia Việt Nam từ thời chính phủ Trần Trọng Kim, sau đó tới lúc ông Bảo Đại kư kết với Pháp hiệp định Hạ Long năm 1948 chính thức công nhận Quốc Gia Việt Nam. Lúc này, Vua Bảo Đại không c̣n danh hiệu là Vua mà có danh hiệu là Quốc Trưởng.

Quốc Trưởng Bảo Đại lập chính phủ Quốc Gia Việt Nam tại Sài G̣n do Thủ Tướng Trần Văn Hữu rồi Nguyễn Văn Tâm. Chính phủ Quốc Gia Việt Nam tổ chức nền Giáo Dục trong khoảng năm 1948 - 1954, Bộ Trưởng Giáo Dục là ông Vương Quang Nhường. Từ năm 1948 đến năm 1954, chính phủ Quốc Gia tổ chức các kỳ thi Trung Học, Tú Tài I và II bằng tiếng Việt, c̣n Đại Học vẫn bằng tiếng Pháp. Chỉ có trường Đại Học Văn Khoa tại Hà Nội là dạy bằng tiếng Việt được chính phủ Quốc Gia Việt Nam mở ra năm 1950 và trực thuộc Bộ Giáo Dục. Ngoài ra cũng tại Hà Nội, chính phủ Quốc Gia c̣n tổ chức được trường Cao Đẳng Sư Phạm gồm có 2 ban Khoa Học và Văn Chương cũng dạy bằng tiếng Việt để cung cấp Giáo sư Trung học Đệ Nhất Cấp. C̣n tất cả các trường Đại Học khác kể cả trường Luật, từ Viện Trưởng đến Khoa Trưởng và hầu hết các Giáo sư đều là người Pháp, tất nhiên dạy và học bằng tiếng Pháp.

Sau khi Hiệp Định Genève kư kết ngày 20 tháng 7 năm 1954, ông Viện Trưởng De Lassus ra lệnh cho tất cả trường Đại Học dọn vào Nam tức khắc và các sinh viên di chuyển theo trường được phép tạm trú tại trường Nữ Trung Học Gia Long tại Sài G̣n ngày mùng 1 tháng 8 năm 1954 v́ lúc đó là kỳ nghỉ hè nên các nữ sinh Gia Long về quê. Tổng số sinh viên của trường Đại Học Hà Nội lúc bấy giờ chỉ có 550 sinh viên nhưng độ 500 sinh viên di chuyển vào Sài G̣n; chỉ c̣n 50 người ở lại v́ lư do gia cảnh. Thế nhưng, trong số 50 người đó cũng có một số người vào trong Nam sau này, những người khác ở lại tiếp tục việc học và trở thành các Giáo sư Đại Học tại Hà Nội.

Trường Đại Học ở Hà Nội tập trung tại một nơi nhưng ở Sài G̣n các trường Đại Học được phân tán làm nhiều nơi:

Trường Đại Học Khoa Học chiếm một khu đất của trường Trương Vĩnh Kư (Pétrus Kư) tại Đại Lộ Cộng Ḥa.

Trường Luật chiếm một khu tại đường Duy Tân.

Trường Y-Nha-Dược hỗn hợp chiếm một khu ở đường Trần Quư Cáp.

Ngoài ra c̣n trường Kỹ Sư Công Chánh vốn đă có ở trong Nam từ trước năm 1954.

Trường Y-Nha-Dược cũng không thay đổi bao nhiêu so với thời Pháp thuộc. Y Khoa vẫn học 7 năm, Nha Khoa cũng học 5 năm, Dược Khoa vẫn 5 năm. Nha Khoa chỉ sản xuất ra Nha Sĩ không sản xuất Tiến Sĩ Nha Khoa.

Tổng kết quá tŕnh từ lúc xuất hiện Quốc Gia Việt Nam tới năm 1954, chính phủ Quốc Gia Việt Nam đă xây dựng một nền Tiểu Học 5 năm trong đó bỏ lớp Nh́ năm thứ 2 có từ thời Pháp thuộc. Và nền Trung Học có thời gian 7 năm, thi Tú Tài có 2 sinh ngữ : sinh ngữ 1 và sinh ngữ 2. Nền giáo dục ở bậc Đại Học gần như không có ǵ thay đổi v́ sự quản trị hoàn toàn vẫn do giáo sư người Pháp điều hành. Tuy vậy nhưng cũng có rất ít thay đổi thí dụ ban Cử Nhân Khoa Học trước năm 1945 chỉ có 3 chứng chỉ nay lên 4 chứng chỉ và trước năm 1945 không cấp phát văn bằng Cử Nhân Toán, nay cấp phát được bằng Cử Nhân Toán. Điều đáng kể là chứng chỉ Vi Tích Phân Toán Học chỉ mở tại Sài G̣n, sinh viên không cần phải qua Pháp để hoàn tất như trong thời Pháp thuộc. Như vậy có nghĩa rằng muốn có văn bằng Cử Nhân Toán Học, các sinh viên Khoa Học tại Hà Nội phải vào Sài Gỏn học chứng chỉ đó để hoàn tất Cử Nhân Toán Học. Lúc này, Cử Nhân Giáo Khoa Toán gồm các chứng chỉ Toán Đại Cương, Cơ Học Thuần Lư, Vi Tích Phân Toán và Vật Lư Học Đại Cương.

Cử Nhân Giáo Khoa Lư Hóa gồm các chứng chỉ Toán Lư Hóa ( hoặc Toán Đại Cương), Vật Lư học Đại Cương, Hóa học Đại Cương, Cơ học Thuấn Lư (hay Vi Tích Phân Toán).

Cử Nhân Giáo Khoa Vạn Vật gồm có chứng chỉ Lư Hóa Nhiên, Thực Vật Đại Cương, Khoáng Vật Đại Cương, Sinh Vật Đại Cương.

Cách tổ chức này kéo dài đến năm 1974 và chỉ có sự thay đổi nhỏ là năm 1965 tách rời chứng chỉ lớn thành chứng chỉ nhó mà ta sẽ nói chi tiết trong phần sau.


II- Sự Giáo Dục Trong Miền Đất Do Chính Phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa Kiểm Soát:

Đến ngày 19 tháng 12 năm 1946 toàn quốc kháng chiến khiến chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa chạy vào bưng biền ẩn náu trong các tỉnh miền Bắc Việt Nam và có tổ chức các kỳ thi Tiểu học, Trung học và Tú Tài Toàn Phần trong những năm 1947-1950 nhưng bỏ kỳ thi Tú Tài I. C̣n các trường Đại Học hầu như tê liệt hoàn toàn, nhưng cũng có một số trường chạy sâu vào nội địa Trung Quốc an toàn và mang theo một số giáo sư Việt Nam theo dạy.

Sở dĩ các trường Đại Học vào nội địa Trung Quốc v́ năm 1949 chính phủ Quốc Gia Trung Hoa do Thống Chế Tưởng Giới Thạch làm Tổng Thống Trung Hoa Dân Quốc đă bỏ đất liền tới đảo Đài Loan và v́ vậy Trung Cộng đă lập được chính quyền trên toàn lục địa Trung Hoa. Lúc này, Trung Cộng sẵn sàng giúp đỡ chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa trong việc giáo dục tại nội địa Trung Hoa trong những vùng sát Việt Nam trong thành phố Nam Ninh, thủ phủ tỉnh Quảng Tây.

Như vậy trong suốt thời gian kháng chiến chống Pháp, Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa chỉ tổ chức được một nền giáo dục rất yếu kém và nền Trung Học chỉ tới lớp 9. Sau ngày tiếp thu Hà Nội, ngày 10 tháng 10 năm 1954, trường Đại Học Hà Nội chính thức mở cửa lại vào ngày 1 tháng 11 năm 1954 và cho phép các học sinh mang học bạ lớp 9 lên thẳng Đại Học học cùng với các học sinh Việt Nam từ Hà Nội cũ có bằng Tú Tài II. Đồng thời các trường từ bên Trung Quốc cũng dọn về và các sinh viên đi theo các xe của quân đội trở về học lại tại Đại Học Hà Nội.

Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa mở lại tất cả các phân khoa Y-Nha-Dược, Khoa Học, Sư Phạm, Văn Khoa và theo nguyên tắc có bao nhiêu, học bấy nhiêu. Thí dụ năm thứ 5 trường Y Khoa c̣n lại 5 sinh viên th́ học 5 sinh viên, trường Dược c̣n lại 3 người th́ học 3 người v.v.. Chính phủ chú trọng từ năm thứ nhất, cơ bản là huấn luyện đào tạo các giáo chức nên mở trường Sư Phạm học 3 năm ban Văn và ban Khoa Học.

Những năm 1950-1954, gần như không c̣n tổ chức các kỳ thi nào nữa v́ lư do chiến tranh.


 

 

Tham khảo:

Trong việc hoàn tất loạt bài này, tác giả dựa theo trí nhớ và đă tham khảo những tài liệu sau đây:

Trước năm 1945: Tham khảo "Việt Nam Sử Lược" của
                           Trần Trọng Kim

Sau năm 1945:  Tham khảo của những người đă
                         sống trong những thời đó thí dụ muốn
                         biết việc thi cử trong khoảng 60-75 th́
                         hỏi những thí sinh và các giáo sư
                         trong khoảng thời gian đó.

Các Websites liên hệ được trích dẫn trong những bài viết.

Tác giả rất cần ư kiến của các chuyên gia về cách học tập và thi cử ở các trường Đại Học qua mọi thời đại thí dụ như về Y Khoa cần ư kiến của các Bác Sĩ đă từng tốt nghiệp ở Đại Học Việt Nam, Nha Khoa cần các Nha Sĩ, Dược Khoa cần Dược Sĩ, Luật Khoa cần các vị tốt nghiệp trường Luật và tất cả các trường khác tại Việt Nam,… Mong toàn thể quư vị góp ư kiến v́ không một ai có thể biết tất cả các bộ môn được. Cám ơn quư vị.

 

Nguyễn Văn Thành
Đầu tháng 4,
2005
(c̣n tiếp)