Nguyễn Văn Thành
 

 

Sự Giáo Dục và Thi Cử Qua
    Các Thời Đại  Ở Việt Nam
:
 

 Phần 1  |   Phần 2  |  Phần 3  |

Phần 4   |   Phần 5  Phần 6  |

Phần 7   |   Phần 8  |  Phần 9  |

Phần 10 |  Phần 11 Phần 12 |

Phần 13 |  Phần 14 Phần 15 |

Phần 16 |  Phần 17 Phần 18 |

Phần 19 | Phần 20  |  Phần 21 |

Phần 22 | Phần 23  | Phần 24

 

 

 

 

 

 

 

 

 


S
  GiÁO  DỤC  VÀ THI C  QUA cÁC THỜI  ĐẠI
  V I Ệ T   N A M

Nguyễn Văn Thành


Phần 7:

  

 

C- GIÁO DỤC VÀ THI CỬ SAU NGÀY NHẬT ĐẢO CHÁNH PHÁP: (TRONG KHOẢNG MÙNG 9 THÁNG 3 NĂM 1945 ĐẾN NGÀY MÙNG 1 THÁNG 8 NĂM 1954).
 

III- Chi Tiết Về Sự Phân Ban Trung Học Đệ Nhị Cấp của Chính Phủ Quốc Gia Việt Nam:

Như đă đề cập trong phần trước, tại các bậc Đại Học trong giai đoạn này, toàn thể các môn vẫn được giảng dạy bằng tiếng Pháp ở những trường Luật Khoa, Khoa Học, Y Khoa, Nha Khoa, Dược Khoa, trường Kỹ Sư Công Chánh v́ phần lớn giáo sư từ Pháp gửi sang, chỉ trừ phân khoa Văn Khoa và Cao Đẳng Sư Phạm mở tại Hà Nội năm 1950, dạy bằng tiếng Việt. Điều kiện nhập học trường Cao Đẳng Sư Phạm, thí sinh cần có bằng Tú Tài II và nộp đơn theo học 2 năm.

Trường Cán Sự Vô Tuyến Điện có nhận dạy Cán Sự, học hai năm và điều kiện nhập học đ̣i hỏi học sinh phải có văn bằng Trung học Phổ Thông. Ngoài ra, chính phủ Quốc Gia c̣n tổ chức mở trường Đại Học Quốc Gia Hành Chánh từ năm 1952 khởi đầu tại Đà Lạt. Muốn vào trường này, sinh viên phải có văn bằng Tú Tài II và ghi danh theo học với học tŕnh là 3 năm, được giảng dạy hoàn toàn cũng bằng tiếng Việt. Trường này cốt đào tạo Đốc Sự Hành Chánh, những năm về sau trường phát triển thêm ngành Tài Chánh. Những người tốt nghiệp ban Đốc Sự thường được cử làm Phụ Tá Tỉnh Trường (Phó Tỉnh Trưởng Hành Chánh) c̣n những người tốt nghiệp ban Tài Chánh được bổ làm trưởng Ty Thuế Vụ ở mỗi tỉnh.

Tóm lại, chính phủ Quốc Gia trong những năm 1949-1954 tổ chức được nền Tiểu Học (5 năm) và Trung Học (7 năm), các kỳ thi Tú Tài I và II bằng tiếng Việt. Đại Học Văn Khoa, Hành Chánh và Cao Đẳng Sư Phạm cũng được tổ chức bằng tiếng Việt c̣n tất cả các Đại Học khác đều bằng tiếng Pháp kể cả trường kỹ sư Công Chánh và trường Cán Sự Vô Tuyến Điện. Ngoài ra, với chính sách chiêu hồi, học sinh nào có bằng Tú Tài do chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa cấp đều được thi bằng Tú Tài tương đương, chỉ thi Viết mà không phải thi Vấn Đáp và chương tŕnh thi được giới hạn, thí dụ Toán có 7 môn nhưng chỉ thi 2 hoặc 3 môn. Thí sinh chỉ thi những môn chính như Toán Lư Hóa và Triết v́ Tú Tài ở hậu phương (những vùng kiểm soát của chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa) không có chia ban cho nên Tú Tài tương đương cũng không có chia ban và v́ chương tŕnh này nhẹ hơn Tú Tài II nhiều nên tỷ số đậu từ 60 đến 80%, và được phép lên Đại Học nếu đậu.

Trong giai đoạn này, nhiều kẻ không có bằng Tú Tài hậu phương, đă lợi dụng cơ hội làm giả chứng chỉ để thi Tú Tài tương đương trong vùng Quốc Gia. Cũng nên nhắc lại rằng chứng chỉ cấp bởi chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa chỉ là một bản đánh máy và một dấu đóng. Con dấu (triện) được làm giả một cách dễ dàng bằng cách thuê những người thợ làm con dấu giả để đóng dấu giả và làm bằng giả. Bằng cấp giả lúc này có tên gọi là bằng "củ khoai". Những thí sinh nộp bằng "củ khoai" để dự thi, nếu đậu vẫn được phép lên Đại Học, nhưng v́ là giả nên các sinh viên này rất khó theo học những phân khoa như Khoa Học và Y Nha Dược nên họ thường vào những phân khoa dễ theo hơn như Văn Khoa, ban Sử Địa chẳng hạn. Tuy nhiên, một số người có bằng "củ khoai" mà đậu bằng Tú Tài tương đương, và họ cũng trở thành các sinh viên xuất sắc trong các phân khoa khác.

Các trường của Pháp ở Hà Nội (Lycée Albert Sarraut) cũng như ở Sài G̣n (Chasseloup Laubat), học sinh được phép thi bằng Tú Tài của Pháp cũng giống như thời Pháp thuộc. Tú Tài Pháp hay Việt cũng đều được phép ghi danh vào Đại Học như nhau và thí sinh không phải thi vào.

Trung Học Đệ Nhất Cấp không phân ban, chỉ có Trung Học Đệ Nhị Cấp phân ban rơ rệt và có 3 lớp, tương đương với lớp 10, 11 và 12 ngày nay. Học sinh học hết lớp 11 thi Tú Tài I, nếu đậu được học lớp 12 và cuối năm 12, thi Tú Tài II.

Chính phủ Quốc Gia Việt Nam cũng đă tổ chức được 4 ban khác nhau là A, B, C, D cho bậc Trung Học Đệ Nhị Cấp hay trong kỳ thi Tú Tài, như sau:.

  Ban  A đặt trọng tâm vào Vạn Vật Lư Hóa
  Ban  
B trọng tâm là Toán Lư Hóa
  Ban  
C chú trọng về Triết Học và các Sinh Ngữ Anh,  Pháp
  Ban
D chú trọng về Hán Văn, cộng một sinh ngữ nữa thí dụ như Anh hoặc Pháp và Triết Học. Riêng phần Triết Học học thêm về Triết Học Đông Phương thí dụ như Lăo Tử.


 

Ban A Tú Tài II có môn Triết Học hệ số 3, môn Lư Hóa hệ số 3 và môn Vạn Vật Học cũng hệ số 3. Phần Triết Học của ban A, ngoài Luận Lư Học, có thêm phần Tâm Lư Học và phần này sẽ giúp cho các học sinh ban A khi lên Đại Học có thể theo học Y Khoa để biết tâm lư của bệnh nhân. Ngoài ra, môn Vạn Vật của Tú Tài II, ban A cũng chuyên chú về thân thể con người ta và phần này cũng giúp ích cho các sinh viên Y Khoa tương lai.

Ban B Tú Tài II, thi viết gồm có 3 môn chính. Môn Toán Học hệ số 4, môn Lư Hóa hệ số 3 và môn Triết Học hệ số 1. Triết Học ban B chỉ chuyên nhiều về Luận Lư Học v́ phần này giúp ích cho luận lư khoa Học. Đặc biệt, môn Toán Học ban B gồm 7 môn Toán: H́nh Học, Đại Số Học, Cơ Học, H́nh Học Họa H́nh, Số Học, Thiên Văn Học, và Lượng Giác Học.

Phần chính của Ban B Tú Tài II là H́nh Học, chứa đựng nhiều phần phức tạp như các phép biến đổi vị tự, nghịch đảo, đối cực, trục đẳng phương,… và phần sau bao gồm 3 h́nh Cônic là Ellipse, Parabole và Hyperbole. Tất cả các h́nh Cônic này đều dùng định nghĩa của Quỹ Tích, thí dụ:

Ellipse là quỹ tích của tất cả những điểm trên mặt phẳng có tổng số khoảng cách đến hai điểm cố định (gọi là tiêu điểm), bằng một hằng số.

Parabole là quỹ tích của các điểm trên mặt phẳng mà khoảng cách từ điểm đó đến tiêu điểm, bằng khoảng cách từ điểm đó đến một đưởng thẳng (gọi là đưởng chuẩn).

Hyperbole là quỹ tích của những điểm trên mặt phẳng mà hiệu số khoảng cách đến hai điểm cố định (tiêu điểm), bằng một hằng số.

Những môn khác th́ có Đại Số Học gồm Giải Tích và một phần Tích Phân, Cơ Học gồm Cơ Học Chất Điểm và Cố Thể trên mặt phẳng có ma sát hay không ma sát, H́nh Học Họa H́nh, Lượng Giác Học. Ngoài ra c̣n có môn Thiên Văn Học học về sự chuyển động của các v́ tinh tú, nhật thực và nguyệt thực, ngày đêm dài ngắn khác nhau và tại sao ngày mùa đông th́ ngắn hơn ngày mùa hè. Ấy là chưa kể môn học rất phức tạp, đó là môn Số Học (Arithmétique) và nếu môn Toán này được ra trong kỳ thi Viết, thí sinh chỉ có nước ngậm viết mà thôi.

Trong những đề thi Tú Tài II về Lượng Giác, thí sinh phải dùng bảng Logarithm để giải Toán, cho nên nhiều người thi rớt môn này. Và mặc dầu môn H́nh Học Phẳng là môn khó nhất nhưng nếu thí sinh Tú Tài II gặp đề này thường dễ đậu hơn v́ lư do trong suốt năm học, họ thường bỏ nhiều th́ giờ để học môn H́nh Học Phẳng và dường như cả thầy lẫn tṛ không c̣n đủ th́ giờ làm các môn khác như Thiên Văn, Số Học và Lượng Giác chỉ v́ rằng 7 môn Toán học chỉ được dạy 8 giờ một tuần. Dù giảng dạy bằng tiếng Việt và bài vở được dịch từ tiếng Pháp ra tiếng Việt nhưng cách học trong thời gian này hoàn toàn theo Pháp, mang tính chất nhồi sọ và không giúp học tṛ Tú Tài II phát triển tính luận lư diễn dịch của Toán Học.

Học sinh Tú Tài II ban B sau khi đậu thường tiếp tục việc học ở Đại Học Khoa Học và các trường Kỹ Sư hoặc đi du học ngoại quốc.

Tú Tài II ban C thi viết gồm có môn Triết Học hệ số 4, môn Sinh Ngữ 1 hệ số 3 và Sinh Ngữ 2 hệ số 2. Sinh Ngữ mà các thí sinh ưa chọn là Anh Văn và Pháp văn. Tuy nhiên, tŕnh độ sinh ngữ của ban C lớp 12 (đệ nhất) dù là ban Pháp văn (sinh ngữ 1) vẫn thua xa tŕnh độ học sinh trường Pháp lớp tốt nghiệp Trung học Đệ Nhất Cấp (Brevet). Bởi vậy, rất nhiều học tṛ trường Tây sau thi rớt Tú Tài Pháp nếu chuyển sang thi Tú Tài Việt Nam, họ đậu một cách dễ dàng.

Phần Triết Học của Tú Tài II ban C gồm có Luận Lư Học, Đạo Đức Học, Tâm Lư Học và Siêu H́nh Học (Métaphysique). Riêng môn Siêu H́nh được dạy về những vấn đề không tưởng ngả về tôn giáo nhiều hơn, thí dụ học về Thượng Đế. Như vậy, học sinh theo học ban C có khuynh hướng lên Đại Học Văn Khoa hoặc là học làm Linh Mục.

Thời gian này, Chính phủ Quốc gia lựa những người đi du học tại Mỹ chỉ cần thi đủ điểm Anh Văn, cho nên các sinh viên Việt Nam Tú Tài II ban C thi đậu dễ hơn các sinh viên ban khác nhưng thường thất bại khi đi du học v́ không có căn bản về Toán Lư Hóa. Trong khi đó bất cứ trường Đại học nào ở Mỹ dù học về Kinh Tế, Tài Chánh hay Quản Trị Xí Nghiệp cũng đ̣i hỏi một số lớp Toán căn bản trong 2 năm đầu tiên.

Tú Tài II ban D, sinh ngữ 1 là Hán Văn, đề thi gồm có Triết Học hệ số 4, Hán Văn hệ số 3 và một sinh ngữ hoặc Anh hoặc Pháp có hệ số 2. Phần Triết Học cũng giống như ban C chỉ có phần Hán Văn th́ chỉ những người nào có căn bản Hán Học chẳng hạn con cái của các cụ đồ Nho cũ hay người Việt gốc Hoa mới thi nổi ban Hán Văn. Cũng như ban C, học sinh tốt nghiệp Tú Tài II ban D thường tiếp tục việc học của họ ở Đại Học Văn Khoa học ban Việt Hán, và sau khi tốt nghiệp họ trở thành Giáo Sư Trung học dạy Việt Văn và Hán Văn tại những trường Trung Học nào có tổ chức ban D. Sinh viên Việt gốc Hoa, sau khi tốt nghiệp Tú Tài II ban D thường sang du học ở Hồng Kông hoặc Đài Loan để tiếp tục bậc Đại Học.

Sau khi đậu các môn thi Viết, tất cả các thí sinh Tú Tài II đều được vào Vấn Đáp từ 1 đến 3 ngày để thi tất cả các môn có trong chương tŕnh khảo thí. Thí dụ như ban khoa học B phải thi lại Triết, Toán, Lư, Hóa, Vạn Vật, Sử, Địa, Anh Văn, Pháp Văn.

Mặc dầu thi cử bằng tiếng Việt nhưng tỷ số thi đậu Tú Tài I thường rất thấp, độ khoảng từ 15 đến 30% trong mỗi kỳ thi, trong khi Tú Tài II đậu khoảng từ 30 đến 45%.

Trong giai đoạn này, việc học Đại học vẫn giống như của Pháp chỉ có sự khác biệt là trường Đại Học Khoa Học trước kia cần 3 chứng chỉ để tốt nghiệp Cử Nhân, bấy giờ thành 4 chứng chỉ và thời gian theo học tối thiểu là 4 năm thay v́ 3 năm như trước. Trường Luật chưa có ǵ thay đổi vẫn 3 năm, trưởng Dược vẫn 5 năm, trường Y vẫn 7 năm, trường Nha vẫn 5 năm, vẫn giống như thời Pháp Thuộc.

Do nền học ở Trung học hoàn toàn bằng tiếng Việt và Đại học th́ hoàn toàn bằng tiếng Pháp cho nên các sinh viên khi lên Đại học rất vất vả, v́ vậy ta thấy tỷ số thi đậu ở bậc Đại Học rất thấp. Trường Dược, Nha và Y khoa dạy nghề chuyên môn có tỷ số tốt nghiệp cao hơn.
 

IV- Chi Tiết Về Sự Phân Ban Nền Trung Học của Chính Phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa:

Ta cũng nên nhắc lại các trường học trong vùng kiểm soát của chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa:

1946-1950: Tổ chức được các kỳ thi Tiểu học, Trung học Phổ thông và Tú Tài, bỏ Tú Tài I từ năm 1946 nên chỉ gọi Tú Tài Toàn Phần.

1950-1954: Các kỷ thi Tú Tài và Trung Học không c̣n tổ chức được nữa v́ lư do chiến sự lan tràn, bởi vậy nền giáo dục ở miền Bắc do chính phủ này kiểm soát, bậc Trung học chỉ tới lớp 9 mà thôi, nghĩa là Trung học không có phân ban và học tŕnh chỉ có 4 năm thay v́ 7 năm.

Đặc điểm của nền Trung Học này là nâng hệ số của môn Toán lên 6, c̣n tất cả các môn khác chỉ là hệ số 1 hay hệ số 2 v́ lư do có một số người lănh đạo giáo dục muốn học sinh chú trọng đến môn Toán để sau này có thể theo học các môn Khoa Học và Kỹ Thuật để phát triển đất nước trong tương lai.

Ngày 10 tháng 10 năm 1954, chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa vào tiếp thu Hà Nội và thiết lập lại trường Đại Học Hà Nội ngày mùng 1 tháng 11 năm 1954. Sinh viên trong những vùng do chính phủ này kiểm soát chỉ cần học bạ lớp 9 là được vào Đại Học. Các sinh viên Việt Nam di tản sang bên Tàu, học Đại Học và trở lại Hà Nội theo các đoàn xe của Quân Đội, cũng hưởng quy chế này. C̣n những người ở vùng Quốc Gia ở lại phải có bằng Tú Tài II mới được phép vào Đại Học, và học cùng với những người có học bạ lớp 9.
 

V- Kết Luận:

Nền giáo dục trong miền do chính phủ Quốc Gia Việt Nam quản lư chỉ tạo được một nền kinh tế tương đối yếu kém nhưng nhờ có vựa lúa ở miền Nam trù phú cho nên người dân không bị chết đói dù rằng lúc bấy giờ viện trợ của Mỹ Quốc chưa đến tay của nhân dân Việt nam. Trong khi đó, những vùng do chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa kiểm soát, nền kinh tế quay lại thời sơ khai nhân dân rất đói khổ ăn độn ngô khoai sắn (bắp, khoai lang, khoai ḿ) và nhờ vào viện trợ của Trung Cộng.


 

 

Tham khảo:

Trong việc hoàn tất loạt bài này, tác giả dựa theo trí nhớ và đă tham khảo những tài liệu sau đây:

Trước năm 1945: Tham khảo "Việt Nam Sử Lược" của
                           Trần Trọng Kim

Sau năm 1945:  Tham khảo của những người đă
                         sống trong những thời đó thí dụ muốn
                         biết việc thi cử trong khoảng 60-75 th́
                         hỏi những thí sinh và các giáo sư
                         trong khoảng thời gian đó.

Các Websites liên hệ được trích dẫn trong những bài viết.

Tác giả rất cần ư kiến của các chuyên gia về cách học tập và thi cử ở các trường Đại Học qua mọi thời đại thí dụ như về Y Khoa cần ư kiến của các Bác Sĩ đă từng tốt nghiệp ở Đại Học Việt Nam, Nha Khoa cần các Nha Sĩ, Dược Khoa cần Dược Sĩ, Luật Khoa cần các vị tốt nghiệp trường Luật và tất cả các trường khác tại Việt Nam,… Mong toàn thể quư vị góp ư kiến v́ không một ai có thể biết tất cả các bộ môn được. Cám ơn quư vị.

 

Nguyễn Văn Thành
Trung tuần tháng 4, 2005
(c̣n tiếp)