Nguyễn Văn Thành
 

 

Sự Giáo Dục và Thi Cử Qua
    Các Thời Đại  Ở Việt Nam
:
 

 Phần 1  |   Phần 2  |  Phần 3  |

Phần 4   |   Phần 5  Phần 6  |

Phần 7   |   Phần 8  |  Phần 9  |

Phần 10 |  Phần 11 Phần 12 |

Phần 13 |  Phần 14 Phần 15 |

Phần 16 |  Phần 17 Phần 18 |

Phần 19 | Phần 20  |  Phần 21 |

Phần 22 | Phần 23  | Phần 24

 

 

 

 

 

 

 

 

 


S
  GiÁO  DỤC  VÀ THI C  QUA cÁC THỜI  ĐẠI
  V I Ệ T   N A M

Nguyễn Văn Thành


Phần 8:

  

 

D- GIÁO DỤC VÀ THI CỬ TỪ NĂM 1954 ĐẾN NĂM 1975


I-Chính Phủ Việt Nam Cộng Ḥa (Chính Phủ Sài G̣n):

Sau Hiệp Định Genève kư ngày 20 tháng 7 năm 1954, nước Việt Nam chia làm hai miền: miền Bắc và miền Nam lấy sông Bến Hải (hay cầu Hiền Lương hay vĩ tuyến 17) làm ranh giới. Từ sông Bến Hải đi ngược lên phía Bắc thuộc chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa (VNDCCH), và từ sông Bến Hải đi xuôi về miền Nam thuộc chính phủ Quốc Gia Việt Nam. Hiệp định Genève cũng xác định rằng ngày mùng 10 tháng 10 năm 1954, Pháp phải rút ra khỏi Hà Nội, và ngày 28 tháng 5 năm 1955, toàn thể nhân viên chính phủ Quốc Gia Việt Nam phải rút ra khỏi Hải Pḥng và toàn thể miền Bắc.

Trong suốt thời gian làm Quốc Trưởng, Hoàng thân Vĩnh Thụy đều ở bên Pháp, và từ Pháp ông cử các vị Thủ Tướng tại miền Nam Việt Nam. Năm 1934, ông Ngô Đ́nh Diệm có thành tích từ chối không nhận làm chức vụ trong triều tương đương với Thủ Tướng sau khi vua Bảo Đại chính thức cầm quyền năm 1932 sau khi trở về từ bên Pháp (ông lên ngôi năm 1926 nhưng v́ tuổi c̣n nhỏ phải quay trở lại Pháp để hoàn tất việc học) v́ lúc đó chức vụ này không có thực quyền và tất cả đều do Pháp quản lư. Cho đến khoảng tháng 7 năm 1954, ông Ngô Đ́nh Diệm nhận lời của Quốc Trưởng Bảo Đại, đồng thời được sự ủng hộ của Mỹ nên ông về nước chấp chánh ngày 7 tháng 7 năm 1957, làm Thủ Tướng (ông cũng được Hồng Y Giáo Chủ Spellmann của Hoa Kỳ hậu thuẫn). Sở dĩ ông Bảo Đại tin tưởng và đề cử ông Ngô Đ́nh Diệm v́ thân phụ của ông Ngô Đ́nh Diệm là cụ Ngô Đ́nh Khả không chịu theo Pháp kư giấy truất phế vua Thành Thái.

Cũng nên nhắc lại là vua Thành Thái rất yêu nước, nhà vua luôn t́m cách loại bỏ ảnh hưởng của Pháp, do vậy thực dân Pháp quyết tâm truất phế. Thực dân Pháp đă dùng chính sách "ném đá dấu tay" cưỡng ép toàn thể các vị Thượng Thư trong triều đ́nh kư giấy yêu cầu truất phế vua Thành Thái với lư do nhà vua không đủ khả năng. (Thật ra vua chỉ có tư tưởng chống Pháp chứ không phải là không đủ khả năng làm vua). Nhưng chỉ một ḿnh cụ Ngô Đ́nh Khả không chịu kư, bởi lẽ ấy trong dân gian ta có câu:

"Truất vua không Khả".
“Đào mả không Bài"

(Thực dân Pháp đào mả các vua họ Nguyễn để kiếm vàng bạc bị Thân Trọng Bài, một vị Thượng Thư chống về việc Pháp đào mả của các vị vua ta v́ đó là hành động bất kính đối với các vị Hoàng Đế đă quá cố của Việt Nam).

Cụ Ngô Đ́nh Khả sinh ra các vị Ngô Đ́nh Thục, Ngô Đ́nh Diệm, Ngô Đ́nh Nhu, Ngô Đ́nh Cẩn, Ngô Đ́nh Luyện,… và con gái của cụ Khả sinh ra đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận, từng là phụ tá Đức Giáo Hoàng John Paul II tại ṭa thánh Vatican La Mă. Sau khi ông Ngô Đ́nh Diệm lên làm Thủ Tướng, chính phủ Mỹ giữ lời hứa và hết ḷng hậu thuẫn cho chính sách di dân từ Bắc vào Nam trong thời hạn 300 ngày ấn định bởi Hiệp Định Genève và chấm dứt vào ngày 28 tháng 5 năm 1955. Các tàu chuyên chở của Không quân và Hải quân Mỹ đă vận chuyển khoảng 1 triệu người di cư từ Bắc vào Nam lập nghiệp, trong số ấy gồm hầu hết các nhà trí thức tại Hà Nội cũng như các tỉnh miền Bắc, các nhà buôn, các nhà kinh doanh, và các dân thuộc Bùi Chu, Phát Diệm, Thái B́nh, Nam Định, Hải Dương, Hải Pḥng,….

V́ Quốc Trưởng Bảo Đại ở bên Pháp cho nên mọi mệnh lệnh cho chính phủ Ngô Đ́nh Diệm đều có ảnh hưởng của Pháp, do vậy Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm muốn dành toàn quyền giải quyết việc điều hành quốc gia tại Việt Nam; nên ông lập ra cuộc Trưng Cầu Dân Ư vào ngày 26 tháng 10 năm 1955 để toàn dân có cơ hội đưa ư kiến. Kết quả, Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm được đại đa số tín nhiệm bầu làm Tổng Thống và nền Đệ Nhất Việt Nam Cộng Ḥa ra đời . Tiếp theo đó, miền Nam tự do đổi thành Việt Nam Cộng Ḥa, và ảnh hưởng của Pháp coi như hoàn toàn chấm dứt.

Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm là một nhà yêu nước nên cố công thiết lập chính phủ và cố gắng ban hành nền giáo dục bằng tiếng Việt từ Tiểu học, Trung học và Đại học. Sau khi, quân đội Pháp hoàn toàn rút khỏi miền Nam Việt Nam khoảng cuối năm 1955, ông Viện trưởng Viện Đại Học De Lassus cũng trở về Pháp. Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm cử ông Nguyễn Quang Tŕnh, Tiến Sĩ Hóa Học tại Paris, thay thế ông De Lassus làm Viện Trưởng đầu tiên của trường Đại Học dưới quyền quản trị của chính phủ Quốc Gia Việt Nam.

Lúc đầu trường Đại Học cũng c̣n tiếp tục giảng dạy bằng tiếng Pháp v́ chưa đủ giáo sư người Việt. Cho đến khi đủ số Giáo sư người Việt, tất cả các Giáo sư người Pháp rút lui vào khoảng năm 1964 và cũng kể từ năm này, toàn thể các Giáo sư người Việt lănh trách nhiệm giảng dạy cho toàn thể các trường Đại Học Việt Nam.



 

A) Trường Đại Học Luật Khoa:

Từ năm 1955 trở đi, trường Đại Học Luật Khoa bắt đầu giảng dạy bằng tiếng Việt v́ trong giai đoạn này, trường Luật Khoa có rất nhiều Giáo sư Việt Nam với đầy đủ các cấp bằng Thạc Sĩ, Tiến Sĩ tốt nghiệp tại Pháp như:

Giáo sư Vũ Văn Mẫu,
Giáo sư Vũ Quốc Thúc,
Giáo sư Vũ Quốc Thông,
Giáo sư Nguyễn Cao Hách, …

Giáo sư Vũ Văn Mẫu từng làm Ngoại Trưởng trong chính phủ Việt Nam Cộng Ḥa, và
Giáo sư Nguyễn Cao Hách cũng có thời làm Khoa Trưởng trường Đại Học Luật Khoa Sài G̣n, v.v…

Trường Đại Học Luật Khoa lúc đầu chỉ có 3 năm giống như chương tŕnh Cử Nhân Luật của Pháp nhưng chỉ khác là bài vở dịch sang tiếng Việt. V́ nước nhà đă độc lập nên chương tŕnh học loại bỏ Dân Luật của Pháp, được thay bằng Dân Luật Việt Nam và trong khi giảng dạy giáo sư cũng có đôi khi so sánh với bộ luật Hồng Đức thời nhà Lê. Thời gian học vẫn là 3 năm thi tốt nghiệp Cử Nhân Luật và tỉ số đậu cũng chỉ 20-30%. Trường Luật tương đối dễ học hơn những trường khác nên rất đông sinh viên ghi danh nhưng tiếc rằng khuôn khổ của trường tọa lạc trên đường Duy Tân quá chật hẹp nên chỉ độ 20-30% sinh viên ghi danh được nghe giảng c̣n phần c̣n lại chỉ mua những bài in Ronéo của Giáo sư đem về nhà học.

Măi đến năm 1961 trường Luật theo học tŕnh của trường Đại Học Khoa Học và Văn Khoa, đổi thời gian học lên đến 4 năm thay v́ 3 năm. Sau đó, trường này cũng cấp phát một số bằng Cao Học Luật Khoa ban Kinh Tế hoặc ban Dân Luật nhưng tuyệt đối không cấp phát được một bằng Tiến Sĩ nào, không rơ phải lả do Giáo sư muốn giữ độc quyền cấp bằng Tiến Sĩ hoặc Thạc Sĩ hoặc các nghiên cứu sinh không đủ khà năng. Việc này chúng tôi miễn phê b́nh.

Chương tŕnh tiêu biểu của năm thứ nhất truờng Luật, niên khóa 1968-1972 gồm có 7 môn như sau:

Dân Luật, Cổ Luật, Luật Đối Chiếu, Quốc Tế Công Pháp, Luật Hiến Pháp, Pháp Chế Sử, và Kinh Tế Học. Môn Luật Hiến Pháp có sách học dày nhất trong tất cả 7 môn.

Dân Luật, Cổ Luật: Giáo sư Vũ Văn Mẫu phụ trách giảng dạy
Pháp Chế Sử: Giáo sư Vũ Quốc Thông phụ trách giảng dạy
Kinh Tế Học: Giáo sư Phan Tấn Chức phụ trách giảng dạy
Luật Đối Chiếu: Giáo sư Nguyễn Cao Hách phụ trách giảng dạy,
…........

Mỗi cuối năm sinh viên đều phải thi lên lớp, chẳng hạn cuối năm thứ nhất sinh viên có 2 lần thi, nếu đậu được lên năm thứ hai. Tổ chức thi bao gồm hai phần: thi Viết và thi Bút Vấn.

Thi Viết: Trước ngày thi, giáo sư bốc thăm 2 môn trong số 7 môn đă kể ở trên. Hai môn này sẽ được chọn làm đề thi Viết với bài Văn dài.

Muốn vào thi Bút Vấn, thí sinh phải đậu phần thi Viết.

Thi Bút Vấn: 5 môn c̣n lại sẽ vào đề thi Bút Vấn.

Nếu rớt Bút Vấn, thí sinh sẽ đuợc giữ điểm thi Viết cho kỳ 2 cùng năm và chỉ thi Bút Vấn mà thôi.

Năm thứ ba, sinh viên chọn ngành: Tư Pháp (tốt nghiệp làm Thanh Tra hoặc Luật sư Tập sự), Công Pháp (tốt nghiệp thường làm ở Quốc Hội), Kinh Tế (tốt nghiệp làm ở Ngân Hàng)…và thi tốt nghiệp Cử Nhân Luật của ngành đă chọn vào cuối năm thứ tư.


B) Trường Đại Học Văn Khoa:

Tương tự như trước năm 1954, cách tổ chức và chương tŕnh của trường không có ǵ thay đổi. Một số các Giáo sư phụ trách giảng dạy của trường như sau:

Giáo sư Nghiêm Toản dạy môn Văn Chương Việt Nam. Ông Nghiêm Toản trước kia đă từng theo Nguyễn Thái Học trong Việt Nam Quốc Dân Đảng và đă bị thực dân Pháp bỏ tù một thời gian.

Giáo sư Nguyễn Đăng Thục, Kỹ sư Hóa Học tại Pháp, chuyên về Triết Học Đông Phương. Ông c̣n giảng dạy tại trường Đại Học Vạn Hạnh.

Giáo sư Bùi Xuân Bào, Tiến Sĩ Văn Chương Pháp, dạy Pháp Văn

Giáo sư Lê Trung Nhiên, Tiến Sĩ Văn Chương Pháp tại Đại Học Sorbonne, dạy môn Pháp Văn,

Giáo sư Nguyễn Khắc Hoạch, Tiến Sĩ Văn Chương Pháp tại Đại Học Sorbonne, giảng dạy môn Pháp Văn và môn Văn Minh Việt Nam,

Giáo sư Nguyễn Đ́nh Ḥa, Ph D, dạy môn Anh Văn…

Các Giáo sư phụ trách môn Việt Hán thường là các thầy dạy Việt Văn từ Trung học hoặc là một vài Giáo sư dạy chữ Hán có bằng Tiến Sĩ Hán Học. Các vị Giáo sư Việt Văn và Triết Học, Sử Địa thường không có bằng Tiến Sĩ cho nên họ chỉ là Giảng Sư của trường nhưng sau năm 1972 v́ công lao to lớn của các vị này đào tạo nhiều Giáo sư Trung Học dạy các môn Văn, Sử Địa v..v…cho nên chính phủ đặc cách một số vị không có bằng Tiến Sĩ, làm Giáo Sư Đại Học. Ta cũng nên kể một vài vị có bằng Tiến Sĩ từ Pháp hay Mỹ giảng dạy nhưng không quá 5 vị trong số này. Trường Văn Khoa cấp phát được một số bằng Cao Học môn Địa Lư và Sử Học, Anh và Pháp nhưng không cấp phát được một bằng Tiến Sĩ nào cả.

Các môn Việt Văn, Ngôn Ngữ và Văn Chương, Văn Phạm Việt Nam, Sử Kư, Địa Lư Việt Nam và Quốc Tế (dạy bằng chữ Quốc Ngữ), Hán Văn (dạy bằng tiếng Hán), Anh Văn (dạy bằng tiếng Anh) và Pháp Văn (dạy bằng tiếng Pháp).

Thí dụ:

Cử Nhân Giáo Khoa Việt Hán đ̣i hỏi phải có Chứng chỉ Dự Bị, Chứng chỉ Văn Chương Việt Nam, Chứng chỉ Ngôn Ngữ và Văn Minh Việt Nam, Chứng chỉ Hán văn, Chứng chỉ Sử hoặc Địa.

Cử Nhân Pháp Văn phải có bằng Dự Bị bằng tiếng Pháp, Chứng chỉ Văn Chương Pháp, Chứng chỉ Ngôn Ngữ và Văn Minh Pháp, Chứng Chỉ Việt Văn, Chứng Chỉ Anh Văn, Chứng chỉ Sử (hoặc Địa).

Cừ Nhân Sử Địa phải có Chứng chỉ Dự Bị, Chứng chỉ Văn Chương Việt Nam, Chứng chỉ Ngôn Ngữ và Văn Minh Việt Nam, Chứng chỉ Sử Việt Nam, Chứng chỉ Sử Quốc Tế, Chứng chỉ Địa Việt Nam, Chứng chỉ Địa Quốc Tế.

Cử Nhân Anh Văn phải có Chứng chỉ Dự Bị, Chứng chỉ Văn Chương Việt Nam, Chứng chỉ Văn Chương Anh, Chứng chỉ Ngôn Ngữ và Văn Minh Anh và một chứng chỉ nhiệm ư như Pháp văn, Chứng chỉ Sử (hoặc Địa).

…….

C) Trường Đại Học Y Khoa:

Trường Đại Học Y Khoa tọa lạc tại số 28 đường Trần Quư Cáp.  Trường có một số giáo sư Thạc Sĩ rất tài giỏi như:

Giáo sư Phạm Biểu Tâm, chuyên về giải phẫu,
Giáo sư Trần Ngọc Ninh, chuyên về xương,
Giáo sư Ngô Gia Hy, chuyên về nội thương, đặc biệt về thận,
Giáo sư Trần Anh, chuyên về giải phẫu, trưởng khu Cơ Thể Học và từng giữ chức vụ Viện Trưởng Viện Đại Học Sài G̣n,
Giáo sư Nguyễn Hữu, chuyên về giải phẫu,

..v..v....…,

Cách tổ chức của trường Y Khoa vẫn tương tự trước năm 1954. Năm thứ nhât, một vài tháng có một lần thi hoặc thi Cơ Thể học, hoặc thi Mô Học, hoặc thi Sinh Hóa Học.  Năm thứ ba, sinh viên bắt đầu đi thực tập ở các bệnh viện hoặc chia nhau đi canh gác tại các nhà thương chẳng hạn nhà thương chuyên bênh lao Hồng Bàng...

Măi đến sau năm 1970, trường bắt đầu giảng dạy bằng tiếng Việt nhưng đồng thời bắt buộc sinh viên dùng tài liệu Y Khoa bằng tiếng Anh để tham khảo. Có lẽ v́ vậy sau năm 1975, các vị Bác Sĩ này khi di tản sang Hoa Kỳ có đủ khả năng thi lại bằng Bác Sĩ tương đương.


D) Trường Đại Học Dược Khoa:

Trường Đại Học Dược Khoa cũng tọa lạc tại số 28 đường Trần Quư Cáp trong thời gian 1954-1964. V́ nằm chung trên một giải đất với trường Y Khoa nên trường có tên là Y Dược Đại Học Đường. Sau trường dời về địa điểm mới tại góc đường Cường Để và đại lộ Thống Nhất.

Trường Đại Học Dược Khoa có một số giáo sư danh tiếng như:

Giáo sư Đặng Vũ Biền, Tiến Sĩ Dược Khoa tại Đại Học Sorbonne
Giáo sư Tô Đồng, Dược Khoa Tiến Sĩ tại Đại Học Sorbonne.
Giáo sư Nguyễn Vĩnh Niên, Tiến Sĩ Dược Khoa tại Pháp.

Đặc biệt ông Đặng Vũ Biền c̣n có thêm bằng Cử Nhân Lư Hóa và Cử Nhân Toán tại Đại Học Sài G̣n.

Trường Đại Học Dược Khoa cũng giống như trước năm 1954, không có ǵ thay đổi và không cấp phát được một bằng Tiến Sĩ Dược Khoa nào.


E) Trường Nha Khoa:

Đại Học Nha Khoa có các giáo sư tài giỏi như:

Giáo sư Lê Trọng Phong, Tiến Sĩ Nha Khoa Đại Học Paris,
Giáo sư Nguyễn Văn Thơ, Tiến Sĩ Nha Khoa Đại Học Paris….

Trước năm 1975, trường Nha Khoa chỉ học có 5 năm và tốt nghiệp được cấp bằng Nha Sĩ. Sau năm 1954, trường Nha Khoa cũng tiếp tục như vậy. Ai muốn có bằng Tiến Sĩ Nha Khoa th́ phải qua Pháp học. Sau năm 1970, trường Nha Khoa cũng bắt đầu yêu cầu các sinh viên dùng tài liệu bằng tiếng Anh và điều này cũng giúp các Nha Sĩ Việt Nam khi di tản có đủ điều kiện để tiếp tục lấy bằng Tiến Sĩ Nha Khoa tại Hoa Kỳ.
 

F) Trường Kỹ Sư Phú Thọ:

Trường Kỹ Sư thiết lập năm 1958 đào tạo Kỹ Sư Điện, Kỹ Sư Cơ Khí, Kỹ Sư Công Chánh. Kỹ Sư Hóa Học và Kỹ Sư Công Nghệ. Muốn vào trường này phải có bằng Tú Tài II và phải qua kỳ thi tuyển rất khó v́ mỗi ban chỉ tuyển có 20 người và 3 người dự khuyết. Chương tŕnh học là 4 năm, hai năm đầu học về Toán, Vật Lư và Hóa Học. Chương tŕnh cao hơn chương tŕnh của chứng chỉ MPC một chút nhưng thua bằng Cử Nhân Lư Hóa. Sau đó vào chuyên ngành học thêm hai năm nữa như vậy 2 năm đầu tiên học chung với nhau trong trường Khoa Học Cơ Bản của trường Kỹ Sư Phú Thọ, 2 năm sau sinh viên mới sang trường chuyên môn của ḿnh. Tất cả các kỹ sư tốt nghiệp, ra trường đều được chính phủ bổ nhiệm vào làm Tổng Cục Điện, ngành Công Chánh, hoặc trong các hăng xưởng thí dụ làm trong Kỹ Nghệ Dệt tại Thủ Đức, các nhà máy xi-măng…

Khi thi vào trường Kỹ Sư chỉ cần thi Toán, Vật Lư và Hóa Học.

Các ngành cán sự Điện, Công Chánh, Điện tử, Hóa Học  chỉ cần có bằng Trung Học đậu thi tuyển vào và học 2 năm.

Giáo sư Vơ Thế Hào, Tiến Sĩ Toán tại Đại Học Louvain, Bỉ Quốc, đă từng là Giám Đốc Trung Tâm Khoa Học Cơ Bàn tại Đại Học Kỹ Sư Phú Thọ.


G) Trường Đại Học Kiến Trúc:

Muốn vào trường này phải có bằng Tú Tài II và trải qua kỳ thi tuyển gồm có các môn Toán, Lư và Kỹ Nghệ Họa. Sau đó, phải học một chương tŕnh dài 7 năm. Năm chót phải làm một dự án vẽ kiểu nhà hoặc cao ốc (Building) rồi phải tŕnh Hội Đồng Giáo Sư để tốt nghiệp.

Khi tốt nghiệp được cấp bằng Kiến Trúc Sư.


 

 

Tham khảo:

Trong việc hoàn tất loạt bài này, tác giả dựa theo trí nhớ và đă tham khảo những tài liệu sau đây:

Trước năm 1945: Tham khảo "Việt Nam Sử Lược" của
                           Trần Trọng Kim

Sau năm 1945:  Tham khảo của những người đă
                         sống trong những thời đó thí dụ muốn
                         biết việc thi cử trong khoảng 60-75 th́
                         hỏi những thí sinh và các giáo sư
                         trong khoảng thời gian đó.

Các Websites liên hệ được trích dẫn trong những bài viết.

Tác giả rất cần ư kiến của các chuyên gia về cách học tập và thi cử ở các trường Đại Học qua mọi thời đại thí dụ như về Y Khoa cần ư kiến của các Bác Sĩ đă từng tốt nghiệp ở Đại Học Việt Nam, Nha Khoa cần các Nha Sĩ, Dược Khoa cần Dược Sĩ, Luật Khoa cần các vị tốt nghiệp trường Luật và tất cả các trường khác tại Việt Nam,… Mong toàn thể quư vị góp ư kiến v́ không một ai có thể biết tất cả các bộ môn được. Cám ơn quư vị.

 

Nguyễn Văn Thành
Gần hạ tuần tháng 4,
2005
(c̣n tiếp)