Nguyễn Văn Thành
 

 

Sự Giáo Dục và Thi Cử Qua
    Các Thời Đại  Ở Việt Nam
:
 

 Phần 1  |   Phần 2  |  Phần 3  |

Phần 4   |   Phần 5  Phần 6  |

Phần 7   |   Phần 8  |  Phần 9  |

Phần 10 |  Phần 11 Phần 12 |

Phần 13 |  Phần 14 Phần 15 |

Phần 16 |  Phần 17 Phần 18 |

Phần 19 | Phần 20  |  Phần 21 |

Phần 22 | Phần 23  | Phần 24

 

 

 

 

 

 

 

 

 


S
  GiÁO  DỤC  VÀ THI C  QUA cÁC THỜI  ĐẠI
  V I Ệ T   N A M

Nguyễn Văn Thành


Phần 9:

  

 

D- GIÁO DỤC VÀ THI CỬ TỪ NĂM 1954 ĐẾN NĂM 1975

I-Chính Phủ Việt Nam Cộng Ḥa (Chính Phủ Sài G̣n):

H) Trường Cao Đẳng Sư Phạm:

Muốn nhập học vào trường Cao Đẳng Sư Phạm, sinh viên phải có văn bằng Tú Tài II, và nộp đơn theo học.
Học tŕnh là 2 năm, học bằng tiếng Việt và có hai ban: Khoa Học và Văn Chương.

Ban Khoa Học gồm có Toán, Lư, Hóa và Vạn Vật để đào tạo Giáo sư Trung Học Đệ Nhất Cấp và sau khi tốt nghiệp ra trường, có thể dạy được Toán, Lư, Hóa hay Vạn Vật.

Ban Văn Chương gồm có Anh, Pháp, Việt, Sử, Địa.
Tốt nghiệp dạy các môn đó.

I) Trường Đại Học Sư Phạm:

Trường Đại Học Sư Phạm có học kỳ là 3 năm và điều kiện nhập học cần văn bằng Tú Tài II, nộp đơn thi nhập học. Khóa đầu tiên khai giảng khoảng tháng 10 năm 1958.

a- Ban Toán:

3 năm học bên Khoa Học gồm Toán Đại Cương, Vi Tích Phân Toán Học và Cơ Học Thuần Lư.

Trường Sư Phạm chỉ dạy môn Sư Phạm Học nhưng đưa Sinh viên đi thực tập ở các trường Trung Học. Nhắc lại là văn bằng Cử Nhân Toán đỏi hỏi sinh viên hoàn tất 4 chứng chỉ gồm Toán Đại Cương, Cơ Học Thuần Lư, Vi Tích Phân Toán và Vật Lư Đại Cương. Muốn đậu các chứng chỉ của trường Đại Học Khoa Học, tổng số điểm phải ít nhất là 10/20 trong khi trường Sư Phạm gửi sinh viên sang học bên trường Khoa Học; thi xong, trường Khoa Học gửi điểm trả về trường Sư Phạm và trường Sư Phạm chỉ cần số điểm 7/20 là cho phép sinh viên lên lớp, và v́ vậy tŕnh độ của sinh viên tốt nghiệp Sư Phạm không cao bằng tŕnh độ của người tốt nghiệp Cử Nhân Toán.

Trường Đại Học Sư Phạm quyết định cắt điểm xuống c̣n 7/20 v́ nếu lấy đúng điểm số như trường Đại Học Khoa Học 10/20 th́ chắc chắn Sinh viên Sư phạm không đậu được 10 tới 20%, do đó không cung cấp đủ nhu cầu giáo sư Trung Học.

b- Ban Lư Hóa:

Học kỳ 3 năm và tổng số điểm cuối năm chỉ cần 7/20 là đậu.

Năm đầu tiên học chứng chỉ Toán Lư Hóa tại trường
   Khoa Học
Năm thứ hai học Vật Lư Đại Cương
Năm thứ ba học Hóa Học Đại Cương

Ngoài ra, các sinh viên phải học môn Sư Phạm Học tại trường Sư Phạm và phải đi thực tập tại các trường Trung Học.

Các sinh viên trường Sư Phạm được gửi sang học bên trường Khoa Học. Cuối năm, trường Khoa Học gửi điểm thi của sinh viên liên hệ về lại trường Sư Phạm.

Tốt nghiệp Cử Nhân Giáo Khoa Lư Hóa, phải hoàn tất 4 chứng chỉ:

Toán Lư Hóa, Vật Lư Đại Cương, Hóa Học Đại Cương và Cơ Học Thuần Lư.

Kỳ thi tốt nghiệp của trường Khoa Học có tổng số điểm tối thiểu 10/20 được chấm đậu. Như vậy, trường Sư Phạm học ngắn hạn hơn và điểm tốt nghiệp (7/20) thấp hơn trường Khoa Học (10/20). Thêm vào đó, sinh viên tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm được chính phủ cử làm Giáo sư Đệ Nhị Cấp chính ngạch, trong khi sinh viện tốt nghiệp Cử Nhân Khoa Học, nếu đi dạy học Trung học chỉ được làm Giáo sư Khế ước.

Mặc dù điều kiện làm việc không tốt như trường Sư Phạm nhưng các sinh viên tốt nghiệp trường Khoa Học có cơ hội làm Giảng Nghiệm viên ở Đại Học và nếu đi du học cũng dễ được các trường ở ngoại quốc như Mỹ và Pháp chấp nhận để học Cao Học hoặc Tiến Sĩ v́ rằng khả năng của sinh viên trường Khoa Học tốt nghiệp với điểm số 10/20.

c- Ban Vạn Vật:

Thời gian 3 năm.

Năm thứ nhất học chứng chỉ Lư Hóa Vạn Vật.
Năm thứ hai học về Sinh Vật Học bên trường Khoa Học.
Năm thứ ba, học Thực vật Học cũng học bên Khoa Học
Điểm tốt nghiệp 7/20.

Muốn có bằng Cử Nhân Vạn Vật Học phải có 4 chứng chỉ gồm có Lư Hóa Vạn Vật (SPCN), Sinh Học, Thực Vật Học và Địa Chất Học. Tất cả điểm tốt nghiệp từ 10/20.

d- Ban Việt Hán:

Gửi sinh viên đến trường Văn Khoa và điểm số cũng khoảng 7/20 tốt nghiệp và ít năm học hơn so với Văn Khoa là 4 năm và Sư Phạm chỉ 3 năm.

e- Ban Sử Địa:

Cũng gửi Sinh viên đến trường Văn Khoa học và điểm số 7/20 là tốt nghiệp, học 3 năm.

f- Ban Anh và Pháp Văn:

Cũng gửi Sinh viên đến trường Văn Khoa học và điểm số 7/20 là tốt nghiệp, học 3 năm.

Nhắc lại là tất cả sinh viên ban Văn Khoa cũng như ban Khoa Học đều phải học thêm Sư Phạm Học và thực tập giảng dạy tại các trường Trung Học.

Kể từ năm 1954 về sau, tổ chức của các trường Văn Khoa và Khoa Học cũng tương tự như năm 1954, và ta không nhắc lại ở đây v́ đă nói rơ trong phần trước năm 1954.


J) Trường Đại Học Khoa Học:

Mặc dù Trung học học bằng tiếng Việt nhưng tổ chức Đại học vẫn giống như trước năm 1954, nghĩa là vẫn học bằng tiếng Pháp làm cho các sinh viên gốc chương tŕnh Việt rất lúng túng khi theo học Đại Học Khoa Học và tham khảo các sách Giáo Khoa bằng tiếng Pháp. V́ vậy ta không nên lấy làm lạ, tỷ số của thí sinh đậu tại trường Khoa Học rất thấp khoảng từ 5-30% mà thôi. Tốt nghiệp Cử Nhân Khoa Học đ̣i hỏi sinh viên phải hoàn tất 4 chứng chỉ.

Sau năm 1964, một số giáo sư người Việt Nam tốt nghiệp từ Pháp hay Mỹ về giảng dạy để thay thế các giáo sư người Pháp, Đại Học Khoa Học bắt đầu giảng dạy hoàn toàn bằng tiếng Việt. Tuy rằng một số sách tham khảo cũng c̣n bằng tiếng Pháp và lúc này trường Khoa Học theo trường bên Pháp tách những chứng chỉ dài.

Vật Lư Đại Cương thành những Chứng chỉ nhỏ như :

Chứng chỉ Điện, Điện Tử, Từ và Điện Từ
Chứng chỉ Tuần Hoàn, Quang,
Chứng chỉ Cơ, Nhiệt.
Chứng chỉ Hóa được tách ra Hóa Đại Cương, Hoá Vô cơ
  và Hóa Hữu cơ.

Tốt nghiệp Cử Nhân Khoa Học đ̣i hỏi 7 chứng chỉ kể luôn chứng chỉ Dự Bị.

Trong giai đoạn này, nhà trường cũng cho tốt nghiệp một vài Tiến Sĩ Khoa Học Quốc Gia và Tiến Sĩ Khoa Học Đệ Tam Cấp nhưng chỉ có trong ban Lư Hóa mà không có trong ban Toán Học và chỉ có một vài vị mà thôi.

Một số Giáo sư ban Toán:

Giáo Sư Phạm Tinh Quát, ông này là người Việt nhưng không biết nói tiếng Việt cho nên người trở về Pháp sau một thời gian dạy ở Sài G̣n,

Giáo Sư Phạm Mậu Quân, Tiến Sĩ Toán tại Đại Học Paris, dạy tại Đại Học Sài G̣n trong khoảng năm 1955-1957 rồi cũng trở về Pháp,

Giáo Sư Từ Ngọc Tỉnh, Tiến Sĩ Toán Đại Học Sorbonne,

Giáo Sư Đặng Đ́nh Áng, Tiến Sĩ Toán tại Viện Đại Học Kỹ Thuật California, thành phố Pasadena, năm 1958,

Giáo Sư Nguyễn Đ́nh Ngọc, tốt nghiệp Cử Nhân tại Đại Học Sài G̣n năm 1955, sinh viên của Giáo Sư Phạm Tinh Quát (học Chứng chỉ CDI - Calcul Différentiel et Intégral) Tiến Sĩ Toán tại Đại Học Paris. Ông là Giáo sư tại Đại Học Paris từ năm 1964-1966, và dạy tại Đại Học Sài G̣n từ năm 1966,

Giáo Sư Vơ Thế Hào Tiến Sĩ Toán tại Đại Học Louvain, Bỉ Quốc. Giáo sư Hào c̣n là Giám Đốc Trung Tâm Khoa Học Cơ Bàn tại Đại Học Kỹ Sư Phú Thọ,
………..

Một số Giáo sư ban Hóa Học:

Giáo Sư Nguyễn Quang Tŕnh, Tiến Sĩ Hóa Học tại Paris,
Giáo Sư Trần Hữu Thế, Tiến Sĩ Hóa Học tại Paris,
Giáo Sư Lê Văn Thới, tốt nghiệp Tiến Sĩ tại Đại Học
  Pháp,
Giáo Sư Nguyễn Thanh Khuyến, Cử Nhân tại Đại Học
  Paris, Tiến Sĩ tại Sài G̣n,
Giáo Sư Chu Phạm Ngọc Sơn, PhD, Tiến Sĩ Hóa Học tại
  Đại Học Michigan,
………..

Giáo Sư Nguyễn Quang Tŕnh và Trần Hữu Thế giảng dạy bằng tiếng Pháp cho đến khi trường chuyển dạy tiếng Việt năm 1965, các vị này không c̣n giảng dạy nữa. Cũng nên nhắc lại là ông Trần Hữu Thế thay thế ông Nguyễn Quang Tŕnh từ chức, và giữ chức vụ Bộ trưởng Bộ Quốc Gia Giáo Dục đến năm 1963.

Một số Giáo sư ban Vật Lư:

Giáo sư Nguyễn Chung Tú, Tiến Sĩ Vật Lư tại Đại Học
  Rennes, Pháp,
Giáo sư Nguyễn Doăn Phi, Tiến sĩ Đại Học Sorbonne,
  Paris,
…………

Giáo Sư Lê Văn Thới và Giáo Sư Nguyễn Chung Tú là
   hai trong số các Khoa Trưởng của trường Đại Học Khoa
   Học.

Cách giảng dạy ở trường Khoa Học rập theo khuôn khổ ở bên Pháp nghĩa là chỉ giảng dạy bằng Lư Thuyết nhưng tới khi thi lại cho Toán mà không cho Giáo Khoa.

Việc thi cử ở trường Khoa Học rất phức tạp:

a- Ban Toán:

Các môn Toán thí dụ như Toán Đại Cương, Vi Tích Phân Toán, Cơ Học Thuấn Lư th́ thi có hai phần.

Thi Viết hai buổi mỗi buổi 4 giờ. Trong mỗi buổi hoặc ra bài Toán dài từ đầu đến cuối có nhiều câu hỏi liên hệ với nhau, như vậy nếu làm trật câu đầu, toàn thể bài Toán kể như bỏ, hoặc làm nhiều bài Toán độc lập từ 2 bài tới 6 bài.

Phần thứ hai thi Vấn Đáp: Điểm thi viết từ 10/20 trở lên được chấm đậu vào Vấn Đáp và Vấn Đáp ít nhất có 2 thầy hỏi Giáo Khoa hoặc giải bài Toán; nếu tổng số điểm thi Viết và Vấn đáp được 10/20 trở lên, được chấm đậu. Kết quả của các kỳ thi ban Toán của trường Đại Học Khoa Học chiếm từ 0-30% là nhiều.

b- Ban Vật Lư:

Kể từ năm 1965 trở về sau, trường Khoa Học đă gia tăng số chứng chỉ tốt nghiệp. Cụ thể là Vật Lư Đại Cương được phân ra làm các chứng chỉ nhỏ như Chứng chỉ Điện và Điện Tử, Từ và Điện Từ, Chứng chỉ Cơ Nhiệt và Động Lực học và Cơ Học Lượng Tử (mécanique quantic) và Lư Thuyết Tương Đối, Chứng chỉ Tuần Hoàn và Quang Học.

Thi Vật Lư Đại Cương gồm có 3 phần:

Phần Viết: Hai buổi mỗi buổi 4 giờ.
Phần Thực tập: Nếu điểm trung b́nh thi viết từ 10/20 trở lên th́ được vào Thực Tập.

Môn Vật Lư Đại Cương của trường Đại Học Khoa Học có khoảng 40 Thí Nghiệm. Một tuần trong năm học làm 2 cuộc thí nghiệm, mỗi buổi thí nghiệm kéo dài 4 giờ rồi làm bài Báo Cáo nhưng khác với Mỹ và các nước khác dù được điểm số trên 10/20, đậu thi Viết cuối năm vẫn phải thi Thực Tập.

Phần Vấn Đáp: Ai đủ điểm thi Thực Tập được phép vào Vấn Đáp, và phải vào ít nhất là 2 Giáo sư. Nếu đủ điểm 10/20 được đậu. Cũng như ban Toán, Chứng chỉ Vật Lư có rất ít người chiếm Ưu hạng hoặc B́nh hạng, thường chỉ được B́nh Thứ hoặc Thứ hạng và rớt th́ nhiều khoảng 70% hoặc hơn nữa.

Cách thức thi các chứng chỉ nhỏ:

Sau năm 1965, trong khoảng 65-74: Chứng chỉ Vật Lư Đại Cương được chia làm chứng chỉ nhỏ như đă đề cập:

Điện và Điện Tử
Cơ Nhiệt
Tuần Hoàn và Quang


Thi các chứng chỉ nhỏ chỉ có một buổi 4 giờ.

Thi Viết một buổi
Thi Thí Nghiệm 4 giờ
Thi Vấn Đáp

Phải đậu thi viết mới được vào thi Thực Tập và đậu Thực Tập mới được vào Vấn Đáp và điểm cuối cùng của 3 môn từ 10/20 trở lên, được chấm đậu. Tỷ số đậu khoảng 5-30%.

c- Ban Hóa Học:

Thi Viết: Chứng Chỉ Hóa Đại Cương cũng được thi phần Viết hai buổi mỗi buổi 4 giờ như môn Vật Lư Đại Cương nhưng khác với môn Vật Lư là thi Viết môn Vật Lư toàn là Toán c̣n môn Hóa Học th́ vừa có câu hỏi Giáo Khoa vừa làm Toán. Câu hỏi Giáo Khoa có thể một đề dài hoặc nhiều đề độc lập với nhau.

Thi Thực tập: Điểm trung b́nh thi Viết từ 10/20 được phép thi Thực Tập. Thi Thực tập 4 giờ thường có 2 phần là Định Tính và Định Lượng.

Định Tính nghĩa là t́m ra các Cation và Anion:

Cation là gốc Kim loại,
Anion là gốc Acid.

Thường phải phân tích 4 chất muối tức là phải t́m ra 4 Cation và 4 Anion, sau đó phải làm phần định lượng tức là t́m ra được số Mole của Acid trong một lít dung dịch.

Thí sinh làm được điểm số từ 10/20 th́ được vào phần Vấn Đáp.

Phần Vấn Đáp. Ai đủ điểm 10/20 th́ được vào Vấn Đáp, thường có 2 hay 3 thầy hỏi, nếu điểm số trung b́nh từ 10/20 trở lên thỉ được chấm đậu.

Tỷ số đậu của môn Hóa Học này từ 10-40% và rất ít người đậu hạng Ưu hay B́nh.

d- Chứng chỉ Dự Bị Toán Đại Cương (MG):

Chứng chỉ ban Toán Đại Cương (MG): Thi viết 2 buổi mỗi buổi 4 giờ, nếu đủ điểm 10/20 th́ được vào Vấn Đáp, có từ 2 đến 3 thấy hỏi, nếu đủ điểm 10/20 được chấm đậu.

e- Chứng chỉ Dự Bị Toán Đại Cương và Vật Lư (MGP):

Sau năm 1963, chứng chỉ Toán Đại Cương (MG) đổi thành chứng chỉ Toán Đại Cương và Vật Lư (MGP) như vậy thi viết gồm có 2 buổi:

Buổi thứ nhất thi Toán,
Buổi thứ hai thi Vật Lư.

Sau đó, phải thi môn thực tập môn Vật Lư, nếu đủ điểm 10/20 th́ được vào Vấn Đáp và điểm trung b́nh sau cùng 10/20 th́ đậu. Chứng chỉ này rất ít người đậu chỉ đậu từ 5-20%.

f- Cử Nhân Khoa Học Vạn vật:

Gồm có 4 chứng chỉ:

Lư Hóa Nhiên (SPCN)
Thực Vật Đại Cương
Địa Chất Học Đại Cương
Sinh Vật Học Đại Cương

Cách thi cử tương tự ban Vật Lư và Hóa Học nghĩa là phải thi Viết, Thực Tập và vấn Đáp. Tuy nhiên ta nhắc là, dù thi Viết cũng không phảo hoàn chỉ hỏi Giáo Khoa nhưng c̣n phải làm Toán Vạn Vật thí dụ làm Toán về Thuyết Mendel (Gregor Mendel) hay làm Toán định thời gian của đá hiện hữu bao lâu.

g- Chứng chỉ Dự Bị Lư Hóa Nhiên (SPCN):

Trong các chứng chỉ của môn Vạn Vật th́ cách thi cử phức tạp nhất lại là chứng chỉ dự bị SPCN lư do thi Viết thi 4 buổi:

Buổi 1 môn Vạn Vật
Buổi 2 môn Vật Lư
Buổi 3 môn Hóa Học
Buổi 4 môn Toán Học.

Muốn vào thi Thực Tập cần đủ điểm 10/20 thi Viết, Thực tập có 3 phẩn:

Thực Tập Vạn Vật
Thực Tập Vật Lư
Thực Tập Hóa Học.

Nếu đủ điểm thí sinh được vào vấn Đáp. Vấn Đáp chỉ thi môn Lư Hóa và Vạn Vật, không phải thi Toán, tổng số điểm trung b́nh từ 10/20 th́ đậu. Chứng chỉ này có tỷ số đậu 10 – 40%.

h- Chứng chỉ Dự Bị Toán Lư Hóa (MPC):

Thi Viết có 3 buổi:

Buổi 1 thi Toán,
Buổi 2 thi Vật Lư gồm Giáo Khoa và Toán Vật Lư,
Buổi 3 thi Hóa Học gồm Giáo Khoa và Toán Hóa Học.

Thi Thực Tập (TP): Khi đủ điểm thi Viết 10/20, được vô Thực Tập (TP)

Thực Tập Môn Vật Lư
Thực Tập môn Hóa Học
Thi Vấn Đáp: Ai đủ điểm 10/20 Thực Tập th́ được vào Vấn Đáp.

Và điểm trung b́nh tất cả 10/20 được chấm đậu. Tổng số tốt nghiệp cho Chứng chỉ này từ 5-30%.
 


 

Các môn tiêu biểu của chứng chỉ Dự Bị Toán Lư Hóa (MPC) năm 1967 và các giáo sư/giảng nghiệm viên/giảng nghiệm trưởng phụ trách giảng dạy như sau:

Giải Tích Học: Lê Kim Đính
H́nh Học Giải Tích: Nguyễn Văn Kỷ Cương hay
                          Đỗ Minh Tiết
Toán Sác Xuất và Thống Kê: Nguyễn Viêm
Vật Lư Học: Nguyễn Thông Minh
Quang Học: Phó Đức Minh
Nhiệt Học: Trần Thế Hiển
Cơ Học: Cao Xuân An
Hóa Học: Nguyễn Hữu Tính
Giờ TP Toán: Đặng Văn Định hay Cù An Hưng
Trưởng pḥng Hóa Học: Nguyễn Thanh Khuyến

Điểm thi viết được giữ cho năm sau nếu bị rớt thực tập TP. (Thi TP Hóa Học, thí nghiệm t́m 2 chất trong 3 chất, được chấm đậu).

  

Trường Đại Học Khoa Học cấp phát được một số bằng Cao Học môn Vật Lư và Hóa Học.

Ban Vật Lư cấp phát được một vài Văn Bằng Tiến Sĩ Đệ Tam Cấp.
Ban Hóa Học cấp phát được một vài bằng Tiến Sĩ Quốc Gia.
Ban Toán Học tuyệt đối không cấp phát được một bằng Tiến Sĩ nào cả.


 

 

Tham khảo:

Trong việc hoàn tất loạt bài này, tác giả dựa theo trí nhớ và đă tham khảo những tài liệu sau đây:

Trước năm 1945: Tham khảo "Việt Nam Sử Lược" của
                           Trần Trọng Kim

Sau năm 1945:  Tham khảo của những người đă
                         sống trong những thời đó thí dụ muốn
                         biết việc thi cử trong khoảng 60-75 th́
                         hỏi những thí sinh và các giáo sư
                         trong khoảng thời gian đó.

Các Websites liên hệ được trích dẫn trong những bài viết.

Tác giả rất cần ư kiến của các chuyên gia về cách học tập và thi cử ở các trường Đại Học qua mọi thời đại thí dụ như về Y Khoa cần ư kiến của các Bác Sĩ đă từng tốt nghiệp ở Đại Học Việt Nam, Nha Khoa cần các Nha Sĩ, Dược Khoa cần Dược Sĩ, Luật Khoa cần các vị tốt nghiệp trường Luật và tất cả các trường khác tại Việt Nam,… Mong toàn thể quư vị góp ư kiến v́ không một ai có thể biết tất cả các bộ môn được. Cám ơn quư vị.

 

Nguyễn Văn Thành
Hạ tuần tháng 4, 2005
(c̣n tiếp)