VINH  HỒ
 



 

Rắn Thiêng, Gậy Thần Và
    Ngành Y Dược
 

 
Lễ Tạ Ơn Ở Hoa Kỳ 

  Thể Thơ Đường Luật Thất
     Ngôn Bát Cú  

  Cưới Gả Theo Tục Lệ
     Cổ Truyền

  Phần 1  |  Phần 2  |  Phần 3  |

  Phần 4  |  Phần 5   Phần 6  |

Tang Ma Theo Tục Lệ
    Cổ Truyền

  Phần 1  |  Phần 2  |  Phần 3

  Phần 4  |  Phần 5  | Phần 6  |

  Phần 7:  Kết Luận 

Những Thi Sĩ Cố Đô và Phong
   Trào Thơ Mới Thời Tiền Chiến
   - Vinh Hồ

Tấm Ḷng Son Trong "H́nh
    Như Là T́nh Yêu", Tập
    Truyện Của Ái Khanh -
    Vinh Hồ

  Vài Nét Chân Dung
     Hàn Mặc Tử -  Nhà Thơ
     Thiên Tài của Việt Nam

Chúa Nguyễn Hoàng

Lịch Sử và Triết Lư  Bonsai

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 



 

 


C Ư Ớ I   G Ả   T H E O  T Ụ C   L   C   TR U Y Ề N
 



 

PHẦN 2:
 

4. Lễ hỏi (c̣n gọi là lễ ăn hỏi, hay lễ đính hôn):

Người xưa cho quan trọng hơn lễ cưới, nhà trai mang lễ vật (sính lễ) gồm 1 đôi bông tai (ví như cái hoa con gái) 1 chiếc nhẫn đính hôn, 1 mâm trầu cau, 1 cặp đèn cầy, 1 con heo quay, 1 mâm xôi màu, trà, bánh... đến nhà gái lễ gia tiên. Nhà trai gồm có ông mai, ông bà sui trai cùng một số bà con thân tộc. Người phù rể bưng 1 khay trầu rượu gồm 6 miếng trầu, 6 miếng cau, 1 chai rượu củ tỏi, 4 cái chung miệng tṛn (có ư nghĩa "thủy chung như nhất") để ông mai bưng vào trước rót rượu tŕnh thiếp với nhà gái. Tŕnh xong, ông mai ra ngơ dẫn họ đàng trai vào. Chú rể bưng cái quả đỏ đựng đôi bông tai, nhẫn đính hôn và cặp đèn cầy, mặc áo thụng, đội khăn đóng vào sau cùng cúi đầu chào họ hàng nhà gái.

Trước bà con hai họ, ông mai tŕnh lễ vật. Vị trưởng tộc nhà gái nhận lễ vật, mở quả, lấy đôi bông tai đưa vào cho cô dâu, lấy cặp đèn cầy cắm lên bàn thờ làm lễ lên đèn và lễ gia tiên. Chú rể thắp hương cúng từ đường, chào họ hàng nhà gái rồi mới được ngồi xuống bên cạnh họ nhà trai. Cô dâu bước ra nhận lễ, và nhận họ hàng bên nhà chồng. Trong lễ này chú rể đeo nhẫn đính hôn cho cô dâu, tức là nhẫn đính ước, giao ước sẽ lấy nhau làm vợ chồng, do đó lễ hỏi được gọi là lễ đính hôn. Dù chú rể chưa được chính thức làm lễ gia tiên với cô dâu, nhưng kể từ giờ phút này, chú rể được phép xưng con và gọi song thân cô dâu là ba má.

Lễ này, nhà gái mời bà con thân tộc đến dự, nhà trai lo khoản tiệc ăn uống này.

Xong lễ, họ trai về trước, chú rể ở lại về sau, nhà gái cho cô dâu tiễn chú rể đi một đoạn đường. Nhà gái mang trầu cau bánh... đi biếu họ hàng mỗi thứ 1 hay 3 (không biếu 2) kèm theo 1 tấm thiệp báo hỉ (báo tin mừng).

Sau 3 ngày, cô dâu phải qua nhà trai đáp lễ bằng cách mời trầu cau bánh... họ hàng bên nhà trai.

Sau lễ hỏi, chú rể phải qua nhà gái "ở rể" làm rể 3 năm, lao động vất vả nhọc nhằn:

Trời mưa cho ướt lá khoai

Công anh làm rể đă hai năm ṛng

Nhà em lắm ruộng ngoài đồng

Bắt anh tát nước nhọc ḷng anh thay

Tháng Chín mưa bụi gió may

Cất lấy gàu nước chân tay rụng rời
 

Ăn hỏi rồi mới xêu, mùa nào thức nấy, mùa vải th́ xêu vải, mùa dưa th́ xêu dưa. Có nơi 1 năm xêu 4 mùa: tháng Ba xêu vải, tháng Năm xêu đường, mắm, chim, ngỗng, tháng Chín xêu hồng, cốm, chim ngói, tháng Chạp xêu cam, mứt. Đồ xêu, nhà gái nhận 1 nửa, 1 nửa gởi lại gọi là "đồ lại mặt". Xêu 1 năm, có khi đến 3 năm mới được xin cưới. Không xêu mà xin cưới là thiếu lễ:

Anh về thưa với mẹ cha

Bắt lợn sang cưới bắt gà sang xêu

 

 

 

Sau 3 năm làm rể, nếu cả hai nhà không mắc tang chế th́ nhà trai viết thư nhờ ông mai mang đến nhà gái trao thư xin cưới và hỏi nhà gái đ̣i bao nhiêu tiền nong lễ vật? Nhà gái ghi trong thư những điều kiện đ̣i hỏi về sính lễ gởi cho nhà trai, gọi là "thách cưới". Nếu nhà gái thách cưới cao quá th́ nhà trai sẽ xin giảm bớt, nếu không đủ sức lo th́ xin hoăn lại, nếu đủ sức lo th́ chọn ngày lành tháng tốt đính ước ngày nạp tài, ngày cưới, nếu nhà gái chấp thuận th́ nhà trai xúc tiến lễ nạp tài và lễ cưới. Đồ thách cưới đại để là bao nhiêu trâu, ḅ, lợn, xôi, rượu, ṿng, xuyến, nhẫn, hoa, hột xoàn, vàng bạc, gấm lụa, quần áo, tiền nong...

Em là con gái nhà giàu

Mẹ cha thách cưới ra màu xinh sao

Cưới em trăm tấm gấm đào

Một trăm ḥn ngọc hăm tám ông sao trên trời

 

5. Lễ nạp tài:

Thường tổ chức trước lễ cưới chừng vài ba tuần. Theo ngày giờ đă định, nhà trai mang lễ vật tiền nong đến giao cho nhà gái, nhiều ít tùy theo thư thách cưới của nhà gái.

Ngày xưa có những nhà gái v́ đ̣i hỏi lễ vật tiền bạc cao quá nên đă làm cho t́nh sui gia sứt mẻ, đi đến chỗ oán ghét nhau, làm cho đôi vợ chồng trẻ mới cưới chưa được bao ngày đă đi đến đổ vỡ chia ĺa, hay sống trong cảnh bần cùng đầu tắt mặt tối để lo trả khoản nợ chồng chất:

Nhà gái ăn chín ngh́n cau

Tiền cheo tiền cưới chừng đâu mười ngh́n

( thơ Nguyễn Bính)

Mẹ tôi tham thúng xôi rền

Tham con lợn béo tham tiền Cảnh Hưng

Mẹ tôi tham thúng bánh chưng

Tham con lợn đẻ em nai lưng chịu đ̣n

 

  


VINH HỒ
 
 
1/2005
(C̣n Tiếp)
 


Tài liệu tham khảo:

Việt Nam Phong Tục của Phan Kế Bính
Non Nước Khánh Ḥa của Nguyễn Đ́nh Tư
Hôn Lễ của Viên Mai
Thơ trích dẫn trong bài là Ca dao Tục ngữ
Tục lệ cưới gả, tang ma của người Việt xưa,
   của Phan Thuận Thảo. Nhà xuất bản Thận Hóa, 1999
Phong Tục Hôn Nhân của Dân Việt, Khải Chính
   Phạm Kim Thư,  đăng trên mạng lưới:
  
http://e-cadao.com/phongtuc/index.htm