VINH  HỒ
 



 

Rắn Thiêng, Gậy Thần Và
    Ngành Y Dược
 

 
Lễ Tạ Ơn Ở Hoa Kỳ 

  Thể Thơ Đường Luật Thất
     Ngôn Bát Cú  

  Cưới Gả Theo Tục Lệ
     Cổ Truyền

  Phần 1  |  Phần 2  |  Phần 3  |

  Phần 4  |  Phần 5   Phần 6  |

Tang Ma Theo Tục Lệ
    Cổ Truyền

  Phần 1  |  Phần 2  |  Phần 3

  Phần 4  |  Phần 5  | Phần 6  |

  Phần 7:  Kết Luận 

Những Thi Sĩ Cố Đô và Phong
   Trào Thơ Mới Thời Tiền Chiến
   - Vinh Hồ

Tấm Lòng Son Trong "Hình
    Như Là Tình Yêu", Tập
    Truyện Của Ái Khanh -
    Vinh Hồ

  Vài Nét Chân Dung
     Hàn Mặc Tử -  Nhà Thơ
     Thiên Tài của Việt Nam

Chúa Nguyễn Hoàng

Lịch Sử và Triết Lý  Bonsai

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 



 

 


C Ư Ớ I   G Ả   T H E O  T Ụ C   L   C   TR U Y Ề N
 



 

PHẦN 3:
 

6. Lễ cưới (còn gọi là lễ thân nghinh, hay nghênh hôn): gồm rước dâu và đưa dâu (vu quy):

- Rước dâu hay đón dâu: Ngày xưa gọi là tiểu đăng khoa (để phân biệt với đại đăng khoa là việc thi đỗ) được tổ chức vào ban tối, khởi hành chọn giờ hoàng đạo, có 1 người đàn ông dễ tính hiền hậu đứng đón trước ngõ để cầu mọi việc được mau mắn dễ dàng. Trong đám cưới, ông mai mặc áo dài hay áo thụng xanh, đội khăn đóng, cầm bó hương đi trước, kế đến là ông sui trai, tiếp theo là các người dẫn lễ kẻ khiêng lợn, rượu, người đội mâm trầu cau... rồi đến họ hàng, chú rể đi sau cùng. Bà sui trai không đi rước dâu, ở nhà chờ cô dâu về ra đón vào nhà. Chú rễ mặc quần trắng áo the, đội khăn đóng. Lễ cưới gồm 1 cặp đèn, 1 khay trầu rượu gồm 6 miếng trầu, 6 miếng cau tượng trưng cho 6 lễ, 1 mâm trầu cau, 1 chóe rượu... Đến nhà gái, họ trai đốt pháo báo hiệu đã đến, họ gái đốt pháo đáp lễ, ông mai vào trước trình thiếp xong ra dẫn họ trai vào. Ông mai rót rượu xin phép mở quả trình bày lễ vật, và ngỏ lời đã chọn ngày lành tháng tốt xin phép làm lễ cưới, vị trưởng tộc chủ hôn nhà gái nhận lễ vật, tuyên bố đã nhận đầy đủ lễ vật và đáp lời chào mừng, chấp thuận. Trong lúc cô dâu nhận quả nữ trang vào buồng thay quần áo cưới, đeo bông, xuyến... thì ngoài này, ông mai, hoặc vị trưởng tộc bên gái làm lễ lên đèn, và lễ gia tiên.

Lễ lên đèn rất quan trọng và thiêng liêng. Ông mai, hay vị trưởng tộc bên gái 2 tay cầm 2 cây nến cùng châm lửa 1 lần, rồi tréo tay đưa 2 cây nến ra 2 bên, cây bên tả tượng trưng cho chàng rể, cây bên hữu tượng trưng cho cô dâu, theo câu "nam tả nữ hữu" khi tréo tay, tay trái nằm trên tay phải, có nghĩa người chồng là chủ gia đình phải ở trên người vợ. Hai bên có 2 người đón 2 cây nến để cắm lên bàn thờ. Chú rể và cô dâu bước vào làm lễ gia tiên cùng lạy 4 lạy 3 vái, chú rể đeo nhẫn cưới cho cô dâu.

Cô dâu chú rể sang làm lễ tại nhà từ đường họ gái (ngày xưa ở gần nhau)

Xong về làm lễ tơ hồng tại bàn Tơ Hồng có bày lễ vật: gà, xôi, trầu, rượu...

Tục tế tơ hồng xuất phát từ điển tích Vi Cố bên Tàu ngày xưa, 1 hôm đi chơi gặp 1 ông già ngồi dưới trăng xe những sợi dây đỏ, lấy làm lạ hỏi, ông già bảo rằng ông là Nguyệt Lão coi việc xe duyên, hễ ông buộc sợi dây tơ hồng vào chân 2 người nào thì 2 người đó phải lấy nhau. Lập ra lễ tế tơ hồng để cầu xin Nguyệt Lão ban cho cuộc hôn nhân được bách niên giai lão, hạnh phúc tràn trề.

Xong vào nhà làm lễ ra mắt ông bà cha mẹ và họ hàng, lạy mỗi người 2 lạy 3 vái, được cho tiền, vàng hay quà cùng những lời chúc tốt lành.

Lạy cha hai lạy một quỳ
Lạy mẹ hai lạy con đi lấy chồng

Làm lễ cưới xong, đốt pháo, ăn uống vui vẻ, rồi họ nhà trai rót rượu xin phép ra về.

- Vu quy (còn gọi là lễ đưa dâu, tức là đưa cô dâu về nhà chồng): Sáng hôm sau, đến giờ hoàng đạo, nhà gái làm lễ đưa dâu về nhà chồng, cô dâu mặc quần lĩnh áo dài, đội khăn vành hay nón thúng quai thao, mang dép nhung cong. Trước khi đi, cô dâu lạy tạ cha mẹ 2 lạy 3 vái, được mẹ trao cho 1 gói quà trong đó có 1 cây trâm, 7 cây kim.

Rượu lưu ly chân quỳ tay rót
Cha mẹ uống rồi dời gót theo anh

Tiếng pháo vu quy nổ vang... họ nhà gái khởi hành, cô dâu khóc thút thít trên đường vu quy. Vị trưởng tộc chủ hôn nhà gái cầm bó hương đi trước, họ hàng, cô dâu theo sau. Cha mẹ cô dâu không đưa dâu, có 2 người phù dâu nhiều kinh nghiệm đi theo bên cạnh để an ủi chỉ vẽ cho cô dâu tất cả mọi việc.

Đến ngõ, nhà trai đốt pháo đón mừng. Tại cửa ngõ có đặt sẵn 1 nồi đồng trong đựng nước và 1 quan tiền, 1 cái gáo, cô dâu dùng gáo múc nước rửa mặt mũi chân tay, rồi tay cầm quạt che mặt, tay cầm quan tiền, được mẹ chồng ra đón dẫn vào nhà bằng cửa hông, đặt tiền, quạt lên bàn thờ lạy 4 lạy 3 vái, rồi theo mẹ chồng vào buồng, sau đó khăn yếm chỉnh tề bưng hộp trầu ra chào họ hàng nhà trai. Nếu mẹ chồng mất thì cô hay dì thay. Có nơi khi cô dâu đến, bà mẹ chồng cầm bình vôi tạm lánh sang nhà hàng xóm trong giây lát rồi trở về trao bình vôi cho cô dâu, dẫn cô dâu vào nhà.

Lễ lên đèn do ông mai hay người trưởng tộc bên họ trai phụ trách. Cô dâu theo chú rể đến làm lễ gia tiên lạy 4 lạy 3 vái, vị chủ hôn 2 bên đeo nhẫn cưới cho cô dâu chú rể hoặc cô dâu chú rể đeo cho nhau.

Sau đó đôi tân hôn sang lễ nhà từ đường họ chồng (ngày xưa ở gần bên), xong trở về làm lễ tại bàn Điện Nhạn.

Bàn Điện Nhạn đặt trước cửa, chưng lễ vật gồm bông hoa nhang đèn và 1 mâm ngũ quả (mãng cầu, dừa, đu đủ, xoài, thơm) để cúng Hoàng Thiên Hậu Thổ, và Tơ hồng Nguyệt Lão Thiên Tiên, cầu xin cho đôi vợ chồng bền duyên cầm sắt, con đàn cháu đống, làm ăn thịnh vượng... Cô dâu chú rể đứng ngang hàng trên chiếu thắp hương, lạy 4 lạy 3 vái, rồi quỳ nghe vị chủ hôn đọc Văn Tế Tơ Hồng trước sự chứng kiến của ông bà sui trai, sui gái. Đôi trẻ lễ tạ Nguyệt Lão, cùng uống chung 1 ly rượu, ăn chung 1 miếng trầu để sẵn trên bàn.

Xin trích Bài Văn Tế Tơ Hồng của học giả Triêu Dương Cát Phụng như sau:

"Duy Nguyệt Lão xe duyên, ngày... tháng... năm... nước... tỉnh... huyện... xã... thôn...

Vì việc kết hôn của... (tên chú rể cô dâu)

Nay hôn sự đã thành, kính dâng lễ bạc lòng thành, lên Đức Tơ Hồng Nguyệt Lão Thiên Tiên. Ngài rất công bình ngay thẳng, không vị không thiên, đem kính ngọc xét soi thế sự. Lấy chỉ hồng xe kết nhân duyên. Xui nhạn cá mối manh đưa lại. Nên uyên ương sum họp phỉ nguyền. Bởi nợ trước duyên sau cùng sinh một hôi. Vậy người nam kẻ bắc kết duyên bách niên. Đuốc hoa sáng lạn hai nhà nhờ ơn Nguyệt Lão. Trước ngọc hợp thành một cặp bởi Đức Hoàng Thiên. Gối phượng chăn loan tưng bừng đôi lứa. Chèo lan gối quế êm ấm một thuyền. Mong sớm ứng điềm lành, mộng hổ, mộng hùng, mộng sà, mộng lộc. Được sau nên họ lớn, sinh đào, sinh lý, sinh huệ, sinh liên. Nguyện cùng trăm năm giai lão. Ước rằng hai họ mãn viên. Trông ơn đại đức. Tấc dạ vi kiền. Cẩn cáo."

Lễ Tơ Hồng xong, vào nhà làm lễ ra mắt ông bà cha mẹ cô bác, họ hàng... lạy 2 lạy 3 vái. Chú rể rót rượu, cô dâu nâng ly mời được đáp lại bằng những lời chúc mừng và cho quà, tiền, vàng để làm vốn.

Họ hàng 2 bên ăn uống xong, mỗi người tự lấy 1 phần đem về nhà kỷ niệm, gọi là cỗ cưới, gồm xôi, bánh... gói trong 1 cái khăn mặt màu đỏ. Khi tiệc mãn, ông trưởng tộc họ gái rót rượu xin gởi dâu và xin phép ra về. Cô dâu trải chiếu giữa sân lạy 2 lạy 3 vái để tiễn đưa cha mẹ họ hàng về nhà.

Theo tục lệ, khi cô dâu đi đường, có cài 1 cây kim vào áo để trừ kẻ độc mồm nói gở. Khi cô dâu đến nơi thì đặt 1 hỏa lò giữa cửa cho cô dâu bước qua, hay lấy chày giã vào cối một hồi.

Khi nhà trai đi rước dâu, trên đường trẻ con lấy dây đỏ giăng ngang, muốn qua chú rể phải nộp tiền mải lộ, khi đến nhà gái, trẻ con chơi nghịch đóng cổng lại, muốn vào chú rể phải cho vài đồng chúng mới mở cổng.

Chiều hôm cưới, đôi tân hôn sửa soạn lễ vật đi tạ ông mai, gồm trầu, cau, trà, rượu, bánh, trái, đầu heo, đĩa lòng, mâm xôi, 1 cái áo lụa... và đi tết 3 năm mới thôi:

Làm mai chân thấp chân cao
Muốn ăn thịt mỡ nói vào nói ra

Riêng ông thầy coi tuổi thì tạ lễ 1 cái nọng heo...

Đêm cưới, là lễ Động Phòng hay Giao Duyên, nhờ 1 bà già có chồng đông con đứng ra lo gường chiếu chăn gối cùng mâm rượu cơi trầu cho chú rể cô dâu làm lễ hợp cẩn: người chồng lấy 1 miếng trầu tế tơ hồng trao cho vợ mỗi người ăn 1 nửa, rót 1 chén rượu trao cho vợ mỗi người uống 1 nửa. Xong, vợ trải chiếu lạy chồng 2 lạy 3 vái, chồng đáp lễ vái vợ 2 vái. Trước khi ngủ, cô dâu thường ngồi trên đầu giường, lấy quần áo của mình đặt lên quần áo của chú rể.

Sáng hôm sau ngày cưới, đôi vợ chồng đi về nhà gái làm "lễ nhị hỉ", lễ vật gồm 1 cặp vịt, 1 bình rượu, cùng trà, bánh... mời bà con thân thuộc đến ăn mừng. Mâm trầu cau của ngày cưới, chú rể đích thân bưng mời họ hàng, cô dâu đưa tận tay... cả hai cùng bày tỏ lòng cám ơn bà con đã giúp cho ngày vui của họ được trọn vẹn. Có ông bà sui trai cùng ông mai đến dự.

Đến ngày thứ tư, hai vợ chồng mang chè, xôi... về nhà cha mẹ vợ để lạy gia tiên gọi là lễ lại mặt, tên chữ là "lễ tứ hỉ".

Cặp vợ chồng mới cưới rót rượu làm lễ trình làng, ra mắt các bậc tiền bối trong làng.

Thời xa xưa, hôn lễ tổ chức vào ban tối, lúc rước dâu về nhà trai 2 họ không đi cùng 1 lúc. Dần dần về sau người ta đổi mới, tổ chức vào ban ngày, lúc rước dâu về nhà trai 2 họ đi cùng 1 lúc. Tuy nhiên, có nhiều địa phương vẫn giữ tục lệ cổ, chờ họ trai về trước chừng 15 hay 30 phút thì họ gái mới đưa dâu đi.

Thời Pháp thuộc, đám cưới của nhà văn Nhất Linh được tác giả Nguyễn Thị Thế ghi lại như sau:

"Đi đầu là 4 mâm cau xanh phủ khăn nhiễu điều đỏ thắm. 4 quả sơn son trong để chè, 2 chóe rượu 2 người gánh. Sau đến 2 con lợn quay có 2 cái lộng xanh do 2 người phu cầm... Đến cửa nhà gái có 2 bà mang tráp trầu ra mời. Trầu têm thật khéo, vàng tươi cuốn tròn như đoạn tre. Cau, vỏ cắt thành hình hoa, trên có hoa hồng thắm, mấy bông ngọc lan thơm ngát, cánh trong như ngọc, miếng trầu thật đẹp ai không biết ăn cũng phải cầm 1 miếng."

Ngày nay, việc cưới gả không tổ chức rườm rà, nhiêu khê, phiền phức, tốn kém và kéo dài như xưa nữa, tùy theo mỗi gia đình, mỗi tôn giáo mà có những nghi lễ đặc thù khác nhau, tuy nhiên nhìn chung vẫn giữ ít nhiều tục lệ cổ truyền hay đẹp của người xưa rất đáng hoan nghênh.

Từ 6 lễ người ta rút xuống còn 3 lễ gồm: lễ viếng (bao gồm: lễ dạm, lễ sơ vấn, lễ vấn danh) , lễ hỏi (bao gồm: lễ hỏi, lễ nạp tài), lễ cưới (rước dâu, đưa dâu) . Có khi chỉ còn 1 lễ cưới, gọi là "ba chai trút vào một hủ". Đôi khi chỉ làm 1 bữa tiệc nhỏ tại nhà gái để hợp thức hóa, không rước mà cũng không đưa dâu)

Ngày xưa, hỏi vợ xong phải làm rể 3 năm mới được cưới, nếu gặp tang thì phải hoãn lại chờ mãn tang, đó là chưa kể những trường hợp bất trắc xảy ra làm lở dở cả cuộc đời son trẻ, nên có người khuyên:

Hỏi vợ thì cưới liền tay
Chớ để lâu ngày thiên hạ gièm pha

Có nhiều cặp kéo dài đến năm năm... mà vẫn không thành.

Thời tiền chiến, nhóm Tự Lực Văn Đoàn với tờ Phong Hóa, Ngày Nay đã phát động phong trào cải cách, kêu gọi bài trừ hủ tục mê tín dị đoan... Từ đó đến nay, trong dân gian việc tổ chức cưới gả có phần văn minh tiến bộ rất nhiều.

Ngày nay không còn ai thách cưới, đòi hỏi gì, nhưng nhà trai vẫn giữ tục lệ xưa, tự động mang tiền đến nạp tài, nạp trong lễ hỏi, ở Mỹ, tiền nạp tài khoảng một, hai ngàn đô, có khi tới 50.000 đô, gọi là bạc nát, nhà gái nhận chờ đến lễ cưới đem ra cho con.

Ngày nay, đám cưới cũng như đám hỏi, họ đàng trai thường đi từ 2 quả đến 6 quả, do các phù rể bưng, gồm:

Quả hương đèn trà rượu: 2 bó hương, 2 cây đèn cầy đỏ, 2 chai rượu, 2 gói trà.

Quả nữ trang: bông tai, nhẫn, tiền...

Quả trầu cau: trầu lá, 1 buồng cau

Quả xôi màu

Quả trái cây: ngũ quả

Quả bánh: bánh su sê (phu thê)

Ngoài ra, còn có:

1 khay trầu rượu: gồm 1 chai rượu củ tỏi, 4 cái ly, để ông mai trình thiếp.
1 con heo quay 2 phù rể khiêng.

   Quả nữ trang trong đám hỏi, thường có đặt tiền nạp tài
      (bạc nát).
   Quả nữ trang trong đám cưới, thường có đặt tiền bỏ quả.

 

  


VINH HỒ
 
1/2005
(Còn Tiếp)
 


Tài liệu tham khảo:

Việt Nam Phong Tục của Phan Kế Bính
Non Nước Khánh Hòa của Nguyễn Đình Tư
Hôn Lễ của Viên Mai
Thơ trích dẫn trong bài là Ca dao Tục ngữ
Tục lệ cưới gả, tang ma của người Việt xưa,
   của Phan Thuận Thảo. Nhà xuất bản Thận Hóa, 1999
Phong Tục Hôn Nhân của Dân Việt, Khải Chính
   Phạm Kim Thư,  đăng trên mạng lưới:
  
http://e-cadao.com/phongtuc/index.htm