VINH  HỒ
 



 

Rắn Thiêng, Gậy Thần Và
    Ngành Y Dược
 

 
Lễ Tạ Ơn Ở Hoa Kỳ 

  Thể Thơ Đường Luật Thất
     Ngôn Bát Cú  

  Cưới Gả Theo Tục Lệ
     Cổ Truyền

  Phần 1  |  Phần 2  |  Phần 3  |

  Phần 4  |  Phần 5   Phần 6  |

Tang Ma Theo Tục Lệ
    Cổ Truyền

  Phần 1  |  Phần 2  |  Phần 3

  Phần 4  |  Phần 5  | Phần 6  |

  Phần 7:  Kết Luận 

Những Thi Sĩ Cố Đô và Phong
   Trào Thơ Mới Thời Tiền Chiến
   - Vinh Hồ

Tấm Ḷng Son Trong "H́nh
    Như Là T́nh Yêu", Tập
    Truyện Của Ái Khanh -
    Vinh Hồ

  Vài Nét Chân Dung
     Hàn Mặc Tử -  Nhà Thơ
     Thiên Tài của Việt Nam

Chúa Nguyễn Hoàng

Lịch Sử và Triết Lư  Bonsai

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


 


 

 


C Ư Ớ I   G Ả   T H E O  T Ụ C   L   C   TR U Y Ề N
 



 

PHẦN 4:
 

ÔNG MAI

Có vai tṛ rất quan trọng trong việc cưới gả, có 2 hạng: mai trong và mai ngoài.

Mai trong hay mai dong (đàn ông hay đàn bà) là người có tài ngoại giao, kín đáo dùng lời hay ư đẹp, nói vô giùm cho bên trai theo tôn chỉ: "giục hiệp chứ không ai giục ly". Mai dong làm việc cốt để làm phước chứ không nghĩ đến quà cáp lợi lộc:

Nghe lời ông Thánh dạy rằng
Đốt chùa không tội cho bằng rẽ đôi

Mai ngoài (bắt buộc phải là đàn ông) là người hiền đức, uy tín, cao tuổi, vợ chồng song toàn, gia đ́nh ḥa thuận, đông con cháu, có tài ăn nói, có nhiều kinh nghiệm trong việc dựng vợ gả chồng. Người ta rất kỹ lưỡng khi chọn ông Mai v́ sự vụng về của ông mai có thể làm tan vỡ cuộc lương duyên:

Xấu tre nên chẳng được cần
Xấu mai nên chẳng được gần với em

 

COI TUỔI CHỌN NGÀY

Mỗi làng mỗi xă thường có một vài ông thầy tử vi lư số chuyên coi tuổi tác chọn ngày trong việc cưới gả. Theo sách vở, đôi trai gái phải "tốt tuổi" mới được lấy nhau. Tuy nhiên, có nhiều ông thầy v́ ḷng nhân từ không muốn làm "rẽ thúy chia uyên" nên đă t́m ra những "lạch" để đôi trẻ được lấy nhau, nếu họ đă trót yêu nhau. Ông bảo:

"Được 1 nửa mất 1 nửa là tốt, ăn ở có đức th́ trăm việc xấu cũng thành tốt, v́ đức trọng quỷ thần kinh, có đức khổng sức mà ăn". Nếu 2 tuổi bị "tứ hành xung" th́ "ghi bộ", nghĩa là làm đơn giản không đưa dâu rước họ, không lễ vật, không lên đèn, không lễ gia tiên, họ trai chỉ vài người đến nhà gái hợp thực hóa... đến chiều xế cô dâu chú rể đưa nhau về bằng cửa hậu. Nếu 2 bên muốn đưa dâu rước họ th́ cũng không lên đèn, không làm lễ gia tiên, cô dâu chú rể nán lại về sau 1 chút và cũng vào nhà bằng cửa hậu.

Nếu gặp tang, th́ hoăn ngày chôn cất lại để lo cưới, gọi là "cưới chạy tang".

Tất cả 6 lễ đều phải chọn ngày lành tháng tốt. Các thầy coi tuổi trong các sách chữ Hán như Ngọc Hạp, Thông Thơ... tra ngày giờ trong lịch Đại Bản... Trước 1975 có sách tiếng Việt của các ông Viên Tài, Thái Kim Oanh, Huỳnh Liên... Các sách căn cứ vào thiên can, địa chi, cung, mạng... để tính tuổi tác của đôi nam nữ có lấy nhau được không? Đôi khi các sách viết không giống nhau (như ở phần "cung" mỗi sách viết mỗi khác), do đó, các ông thầy coi cũng không giống nhau. Cùng 1 đôi nam nữ, ông thầy thứ nhất nói tốt, ông thầy thứ hai nói xấu, ông thầy thứ ba nói được 1 nửa mất 1 nửa, chính v́ thế mà người ta thường phải đi coi nhiều ông thầy:

Bói khoa năm bảy ông thầy
Tuổi tôi chẳng đặng sum vầy cùng anh
Tiền buộc dải yếm bo bo
Trao cho thầy bói đâm lo vào ḿnh


THEO ĐÚNG NGHI LỄ, GIỜ GIẤC, KIÊNG CỬ

Giờ giấc trong các lễ cưới, là do ông thầy coi tuổi chọn, nên phải chấp hành nghiêm chỉnh, nếu nhà trai đến sớm th́ phải đợi, đến trễ th́ nhà gái có khi làm khó đóng cổng không cho vào.

Lễ vật phải đầy đủ, lễ nghi phải nghiêm trang.
Từng lời ăn tiếng nói, từng cử chỉ đi đứng, phải cân nhắc giữ ǵn.

Người xưa quan niệm: "Đám cưới là đám ăn đám nói" nên cha mẹ khuyên con cái lúc nhỏ phải "học ăn, học nói, học gói, học xách" để lớn lên có đi đám cưới th́ biết ăn nói đối đáp với người ta, nhất là khi ra đời không bị người ta bắt nạt ăn hiếp. Mỗi làng thường có 1 vài người ăn nói lịch lăm, không thể thiếu trong các đám cưới. Mỗi lần đi họ là dịp để nghe các tay ăn nói của 2 họ tranh tài, t́m đủ mọi lư lẽ để tấn công nhau, gài nhau, đố nhau, bắt bí nhau, tranh nhau từng lời, căi nhau từng chữ... đến khi ông mai tuyên bố hết giờ đứng dậy... th́ nhiều người trong bụng vẫn c̣n... đói meo.

Chàng rể mặc áo rộng xanh, đầu đội khăn đóng màu đen, có lộng che. Cô dâu mặc áo rộng, đội nón thúng, cũng có lộng che:

C̣n duyên nón thúng quai thao khảm vàng

Lễ cưới phải có 1 cặp đèn cầy màu đỏ, 1 khay trầu rượu: 6 miếng trầu, 6 miếng cau tượng trưng cho lục lễ, 4 cái ly tượng trưng cho tứ thân phụ mẫu. Trước khi thưa, tŕnh, phải đặt 6 miếng trầu, 6 miếng cau, rót 4 ly rượu, rồi mới thưa, tŕnh, v́:

-Miếng trầu là đầu câu chuyện
-Đi thưa về tŕnh
-Thiếu trầu thiếu rượu là thiếu lễ

Trong đám cưới, tôn ti trật tự gia tộc được thể hiện rơ ràng nghiêm chỉnh, người cao tuổi, người có vai vế lớn trong tộc họ phải được tôn trọng, khi giới thiệu phải giới thiệu trước, khi mời ngồi phải mời ngồi ở hàng ghế trên.

Khi ở rể, chú rể không được bước qua cửa mạch, tức là cửa thông xuống nhà bếp hay nhà dưới.

Trước khi làm lễ gia tiên, phải làm lễ lên đèn. Lễ lên đèn rất quan trọng và linh thiêng, v́ ánh sáng của 2 ngọn nến tượng trưng cho sinh mệnh và hạnh phúc của đôi tân hôn. Nếu cây nến bị ngă, ánh nến bị tắt, là điềm chẳng lành, nên người phụ trách đốt đèn, cắm đèn phải hết sức thận trọng.

Trong tiệc cưới, đừng làm găy đũa, rơi chén, bể ly:

Ai làm chén bể cơm rơi
Dĩa nghiêng đũa găy ră rời đôi ta.

Cưới hỏi tránh tháng Sáu Âm lịch, tránh tháng Bảy (tháng Ngâu)

Tháng Bảy trời đổ mưa ngâu
Yêu nhau xin hăy nhớ nhau một vài
Mưa ngâu ướt đẫm bờ vai
Tơ duyên chẳng trọn thương hoài nhớ lâu

 

  


VINH HỒ
 
1/2005
(C̣n Tiếp)
 


Tài liệu tham khảo:

Việt Nam Phong Tục của Phan Kế Bính
Non Nước Khánh Ḥa của Nguyễn Đ́nh Tư
Hôn Lễ của Viên Mai
Thơ trích dẫn trong bài là Ca dao Tục ngữ
Tục lệ cưới gả, tang ma của người Việt xưa,
   của Phan Thuận Thảo. Nhà xuất bản Thận Hóa, 1999
Phong Tục Hôn Nhân của Dân Việt, Khải Chính
   Phạm Kim Thư,  đăng trên mạng lưới:
  
http://e-cadao.com/phongtuc/index.htm