VINH  HỒ
 



 

Rắn Thiêng, Gậy Thần Và
    Ngành Y Dược
 

 
Lễ Tạ Ơn Ở Hoa Kỳ 

  Thể Thơ Đường Luật Thất
     Ngôn Bát Cú  

  Cưới Gả Theo Tục Lệ
     Cổ Truyền

  Phần 1  |  Phần 2  |  Phần 3  |

  Phần 4  |  Phần 5   Phần 6  |

Tang Ma Theo Tục Lệ
    Cổ Truyền

  Phần 1  |  Phần 2  |  Phần 3 |

  Phần 4  |  Phần 5  | Phần 6  |

  Phần 7:  Kết Luận 

Những Thi Sĩ Cố Đô và Phong
   Trào Thơ Mới Thời Tiền Chiến
   - Vinh Hồ

Tấm Ḷng Son Trong "H́nh
    Như Là T́nh Yêu", Tập
    Truyện Của Ái Khanh -
    Vinh Hồ

  Vài Nét Chân Dung
     Hàn Mặc Tử -  Nhà Thơ
     Thiên Tài của Việt Nam

Chúa Nguyễn Hoàng

Lịch Sử và Triết Lư  Bonsai

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


 




 

 


T A N G   M A   T H E O  T Ụ C   L   C  TR U Y Ề N
 



 

PHẦN 1:

KHÁI NIỆM:


T
ang là sự đau buồn khi có người thân mới chết, là lễ chôn cất người chết (an táng, mai táng), là dấu hiệu (áo, mũ, khăn...) để tỏ ḷng thương tiếc người chết.

Tang chế là phép tắc quy định việc đưa đám và để tang.
Tang lễ (lễ tang) là nghi lễ chôn cất người chết.

Từ đó có những từ: tang phục, tang sự, tang gia, tang chủ, đám tang, để tang, bịt khăn tang, đeo băng tang, măn tang, xả tang, tống tang, hộ tang ...

Ma (ma chay) là lễ chôn cất và cúng người chết theo tục lệ cổ truyền. Đám ma c̣n gọi là đám tang.

Như vậy tang ma có nghĩa là lễ chôn cất cúng kính, cùng những quy định về việc để tang và đưa đám người thân mới chết.

Khi có tang ma, người ta đem tiền hay đồ lễ đến viếng để tỏ ḷng thương tiếc người chết và thăm hỏi chia buồn cùng tang quyến, gọi là phúng viếng hay phúng điếu. Điếu ca là bài thơ tỏ ḷng thương tiếc người chết. Điếu văn là bài văn tỏ ḷng thương tiếc người chết đọc khi làm lễ tang.

Con người sinh ra, lớn lên, học hành, thi cử, dựng vợ gả chồng, sinh con đẻ cái, tạo lập công danh sự nghiệp, dù có hiển hách đến đâu, cuối cùng cũng theo quy luật sinh lăo bệnh tử trở về cát bụi, để lại bao niềm tiếc thương vô hạn cho người ở lại.

Tục lệ tang ma của người xưa nhầm thể hiện một phần nào sự tiếc thương vô hạn đó, bởi lẽ:

- Con người có tổ có tông
Như cây có cội như sông có nguồn

- Chim xa rừng c̣n thương cây nhớ cội
Người xa người tội lắm người ơi

Cũng giống như tục lệ cưới gả, tục lệ tang ma của người Việt xưa ảnh hưởng sâu đậm văn hóa Tàu, nhưng vẫn giữ được nét đặc thù văn hóa Việt Nam.

Thọ Mai Gia Lễ là bộ sách Việt Nam dựa vào sách Chu Công Gia Lễ của Trung Quốc. Tác giả Thọ Mai, tên thật là Hồ Sỹ Tân (1690-1760) thời vua Lê chúa Trịnh, người làng Hoàn Hậu, huyện Quỳnh Lưu, đậu Tiến sĩ năm 1721. Thọ Mai Gia Lễ của ông có trích dẫn 1 phần của Hồ Thượng Thư Gia Lễ, Hồ Thượng Thư tức Hồ Sỹ Dương (1652- ?) người cùng làng Hoàn Hậu đậu Tiến sĩ năm 1652 làm Thượng thư Bộ H́nh, tước Duệ Quận Công, làm quan đến chức Hàn Lâm Thị Chế.

Việc tang ma xưa nay dựa vào sách Thọ Mai Gia Lễ, nhưng xuống đến làng xă, người b́nh dân tổ chức linh động đơn giản, chú trọng ở ḷng thành cùng cách ăn ở đối xử sao cho phải đạo làm người:

Lễ bạc ḷng thành
Đức trọng quỷ thần kinh
Chẳng ai khen đám cưới, chẳng ai cười đám ma

Tuy nhiên, đối với nhà phú quư, hay triều đ́nh, th́ có vô số những nghi lễ nhiêu khê, rườm rà, phức tạp, tốn kém. Thí dụ khi vua băng hà, các quan, các hoàng thân, các bà nội cung luân phiên dâng lễ tế, các cuộc vui chơi, hội hè, cưới gả trong nước bị cấm, từ quan lại đến cung đ́nh đều phải để tang từ ba tháng 10 ngày đến ba năm, Bộ Lễ lo việc tang lễ, Khâm Thiên Giám lo chọn ngày giờ, thi hài nhà vua được chôn theo với vô số vàng bạc châu báu, lăng tẩm được xây dựng nguy nga tráng lệ, có khi phải tiến hành từ vài ba chục năm về trước lúc nhà vua vừa mới lên ngôi, hao tốn không biết bao nhiêu tiền bạc và có cả xương máu nữa.

  

Sau đây là những tục lệ tang ma phổ biến của người Việt xưa tại các làng xă:
 

LÚC LÂM CHUNG

Là lúc hấp hối, sắp tắt thở, sắp chết.

Trong nhà có người thân (ông, bà, cha, mẹ) sắp mất, con cái vực đến nằm ở gian chính tẩm (gian chính để làm việc sinh hoạt trong nhà) hay gian bên cạnh, hỏi han có trăn trối ǵ không? Lấy 1 tấm lụa trắng dài gấp thành những khổ ngắn đắp lên ngực để khi hồn ĺa khỏi xác th́ hồn sẽ nhập vào đó, tấm lụa này được dùng để thắt hồn bạch.

Thường các nhà đại phú không để tới lúc lâm chung mới trăn trối, mà đă lo viết di chúc, tức chúc thư, từ lúc c̣n mạnh khỏe. Chúc thư, tức di chúc (chúc: là lời dặn ḍ phó thác) là lời dặn ḍ phó thác của người chủ gia đ́nh, chủ đất nước, được viết thành văn bản có giá trị hành chánh, pháp lư. Nếu không viết được th́ nói cho người khác ghi, đọc lại cho nghe rồi kư tên hay lăn tay. Di chúc của vua gọi là di chiếu. Ngày xưa, sau 3 năm tang chồng, người vợ nếu tái giá th́ ra đi tay không, nếu ở lại thủ tiết thờ chồng nuôi con, th́ cũng không được toàn quyền mà phải bị lệ thuộc vào các ông chú ông bác trong họ chồng.
 

TẮT HƠI

Treo bông g̣n trước lổ mũi không thấy động đậy là khí tuyệt, tức là đă tắt hơi rồi.

Báo tin cho bà con ḍng họ, làng xóm biết đă từ trần, gọi là cáo phó.

Nhờ thư lại (viên chức nhỏ coi việc văn thư ở phủ, huyện) đặt tên hiệu, dùng nước trầm hương lau sạch sẽ, thay quần áo tươm tất, lấy 1 chiếc đủa để ngang giữa 2 hàm, lấy 1 tờ giấy bản (loại giấy trắng) phủ lên mặt, trải chiếu dưới đất đặt người chết xuống 1 phút rồi đưa lên chỗ cũ.

Nhờ thầy lễ lo việc tang lễ coi ngày giờ khâm liệm mai táng; nhờ thầy chùa đến tụng kinh (nếu theo Phật); nhờ thầy địa coi huyệt mả...

Lập tang chủ là trưởng tử, nếu không có trưởng tử th́ cháu đích tôn.

Lập ty thơ coi sổ phúng điếu, ty hóa coi sổ chi tiêu.

Mua quan tài, đèn cầy, hương hoa trầm trà, rượu... mua mạt cưa, tro, vôi... (để liệm) mua khăn, lược... (để tắm, cha th́ con trai tắm, mẹ th́ con gái tắm) may quần áo tang, khăn tang, băng tang ...
 

LỄ PHẠN HÀM

Lấy 1 nắm gạo và 3 đồng tiền kẽm mài sạch bỏ vào miệng người chết (nhà phú quư dùng 3 miếng vàng sống, 9 hạt châu) gọi là lễ phạn hàm. Người xưa nói:

"Đấng thiên tử th́ dùng trân châu, vua và chư hầu th́ dùng ngọc, quan đại phu th́ dùng ngọc bích, kẻ sĩ th́ dùng bối, dân dă th́ dùng cơm gạo, tiền kẽm..."
 

LỄ CHIÊU HỒN

Làm lễ phạn hàm xong, tới lễ chiêu hồn: con cái lấy cái áo của người chết vừa thay, tay trái cầm cổ áo, tay phải cầm lưng áo trèo lên nóc nhà gọi lớn tên của người chết 3 tiếng (hú hồn) rồi đem phủ lên thi thể.
 

CẦU NGUYỆN

Khi có người chết, con cháu thường khóc lóc kêu gào thảm thiết, riêng các gia đ́nh theo Phật v́ sợ làm kinh động vong linh khó siêu thoát nên thường im lặng cầu nguyện và rước thầy về tụng kinh độ vong.

Từ lúc này trở đi, con cháu trong nhà đều đi chân đất, không được: ḱnh căi, cười đùa, trang điểm, mang nữ trang...
 

KHÂM LIỆM

Là bọc xác người chết cho vào quan tài.

Nhà giàu dùng vóc nhiễu tơ lụa, nhà nghèo dùng vải trắng, may thành đồ tiểu liệm, đại lịệm:

  Đồ tiểu liệm: dọc: 1 mảnh dài 5m; ngang: 3 mảnh dài 3m, ngang dọc (tung hoành) đều có xé đầu 3 mối.
Đồ đại liệm: dọc: 1 mảnh dài 5m; ngang: 5 mảnh dài 3m, không xé.

May các thứ: Gối 1 tấm. Tịch thủ túc 2 tấm. Áp nhỉ 2 tấm. Phúc diện 1 tấm. Phúc trung yên 1 tấm. Tả hữu thốn túc 2 tấm. 1 bao hàm bằng bông.

  Cách liệm: Đem quan tài vào, đổ tro, vôi dày 1 tấc, để tấm thất tinh lên, rồi trải tấm khâm, xong rải 3 tấm ngang, 1 tấm dọc, (tiểu liệm) rồi tiếp 5 tấm ngang, 1 tấm dọc (đại liệm), để tấm tấn thủ trên đầu, tấm túc dưới chân, trải giấy thấm hoặc trà. Đúng giờ hoàng đạo, chủ tang vào cử ai đốt nhang cúng bái (có thầy lễ phụ trách). Những người khâm liệm đưa thi hài vào quan tài, dở khăn úp mặt cũ thay khăn mới, để bao hàm dưới cầm, để 2 tấm áp nhỉ 2 bên tai, để tấm phúc diện lên mặt, để tấm phúc trung từ ngực đến bụng, để 2 tấm tả hữu thốn túc. Khuyết chỗ nào lấy quần áo cũ chêm vào. Xong kéo tấm tung đại lên phủ từ đầu xuống chân, tiếp 5 đoạn hoành xếp ngay ngắn, rồi tiếp đồ tiểu liệm, tấm tung tiểu kéo lên từ trên đưa xuống, cột lại, rồi đến hoành tiểu buộc lại, xong trải tấm khâm. Đậy nắp quan tài, khoan chốt, hay đóng đinh, rồi đặt quan tài lên 2 con ngựa gỗ để an trí.

Theo tục lệ, trong quan tài thường có miếng ván đục h́nh sao Bắc Đẩu thất tinh, hay dán bùa chú. Chết nhầm giờ xấu th́ bỏ vào ḥm 1 cổ bài tổ tôm, hay 1 quyển lịch Tàu, hay 1 tàu lá gồi để trấn áp ma quỷ.

Quan tài đặt ở gian giữa nhà, hay gian cạnh, đầu quay ra sân (muốn để lâu th́ quàn lại để trong nhà hay đem ra vườn phủ cát lên), trên nắp thắp 7 ngọn nến, lập bàn thờ đặt lư hương, 1 chén cơm úp, 1 đôi đũa, 1 trứng gà luộc bóc vỏ. Con cháu đứng thường trực bên linh cửu, để lạy đáp lễ khách phúng điếu.

Mấy ngày mới nhập quan, con cháu c̣n được phép cưới gọi là cưới chạy tang.
 

  


 VINH HỒ
15/3/2005

(C̣n Tiếp)
 


Tài liệu tham khảo:

Việt Nam Phong Tục của Phan Kế Bính
Thọ Mai Gia Lễ
Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim
Tục Lệ Cưới Gả, Tang Ma của Người Việt Xưa, của
   Phan Thuận Thảo, Nhà xuất bản Thuận Hóa, 1999
Lễ Tang của Khải Chính Phạm Kim Thư, đăng trên
   mạng lưới: 
http://e-cadao.com/phongtuc/index.htm