Những
Thi Sĩ
Cố
Đô
Và Phong
Trào
Thơ
Mới Thời
Tiền
Chiến
Vinh Hồ.

I. PHONG TRÀO THƠ MỚI
THỜI TIỀN CHIẾN:
Mở đầu "Thi Nhân Việt Nam" tác giả Hoài Thanh viết:
"Một xă hội suốt mấy ngàn năm kéo dài một cuộc sống gần như không
thay đổi về h́nh thức cũng như về tinh thần (...). Từ đời này sang đời
khác, đại khái chỉ có bấy nhiêu tập tục, bấy nhiêu ư nghĩ, bấy nhiêu
tin tưởng, cho đến những nỗi yêu, ghét, vui, buồn, cơ hồ cũng nằm yên
trong những khuôn khổ nhất định."
Văn hóa VN bị ảnh hưởng văn hóa Tàu suốt mấy ngàn năm.
Nền thơ ca bác học đă lấy thơ ca Tàu làm mẫu mực. Ông Vua kiêm Thi sĩ
Tự Đức khi phê b́nh văn thơ cũng lấy văn thơ Tàu làm thước đo:
"Văn như Siêu Quát vô Tiền Hán
Thi đáo Tùng Tuy thất Thịnh Đường"
Cả nước trải qua các triều đại, nền thơ ca bác học từ vua quan đến nho
sĩ chỉ sử dụng dăm ba thể thơ mà thể Đường luật là chính. Trong khoa
cử học tṛ vào trường nh́ phải làm một bài thơ Đường luật thất ngôn
bát cú luật tắc c̣n nghiêm hơn cả Đường luật chính gốc bên Tàu, đó là
chưa kể các thứ "phạm húy" phải tuyệt đối tránh. Nếu thí sinh
không tuân theo, hỏng. Thi sĩ Trần Tế Xương là "tú tài hơn cử nhân"
(theo nhận xét của Nguyễn Khuyến) thế mà đến chết vẫn không lấy được
mảnh bằng cử nhân để ra làm quan trả ơn người vợ hiền suốt đời khó
nhọc "quanh năm buôn bán ở mom sông, nuôi lấy năm con với một chồng":
"Ngày mai tớ hỏng tớ đi ngay.
Cúng giỗ từ đây nhớ lấy ngày.
Học đă sôi cơm nhưng chửa chín.
Thi không ngậm ớt thế mà cay."
Đó là trường thi, c̣n ngoài đời th́ đa số trí thức làm thơ Đường luật
dường như để phô diễn tài văn hay chữ tốt của ḿnh (về văn hóa Tàu)...
đó là chưa kể những loại thơ chén tạc chén thù nhầm tâng bốc ca tụng
lẫn nhau... Do đó tự thân thơ không c̣n mang ư nghĩa là đẹp là thơ là
sáng tạo nữa. Chính v́ thế mà người ta ví thơ Đường luật là cái khung
vô hồn, sáo rỗng, và xem thơ Đường luật là thơ của cung đ́nh quư tộc
đài các phong lưu thích xài từ Hán, ưa dùng điễn tích, quy ước của Tàu
rắc rối, tối tăm, xa rời thực tại... Đến cuối thời Nhà Nguyễn th́ lối
học từ chương khoa cử càng thêm nặng nề , tệ quan liêu quyền quư và
tinh thần vọng ngoại càng thêm phổ biến, nhất là quan niệm sai lầm về
sáng tác, cộng với đầu óc tự cao tự đại, bảo thủ, hẹp ḥi... đă làm xơ
cứng một thể thơ ưu việt từng tạo ra những tên tuổi lớn trong thơ ca
thế giới như Lư Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị...
Tinh thần vong thân vọng ngoại đă ăn sâu vào máu của giới hủ Nho như
một căn bệnh đến nỗi hễ mở miệng ra là xổ Nho, hễ đặt bút xuống là kê
Nho. Thậm chí nhà thơ hùng tráng Nguyễn Công Trứ có cuộc sống khá
phóng khoáng "nhạc ngựa ḅ vàng đeo lung lẳng" vậy mà cũng xen
kẽ răi rác trong thơ những câu chữ Hán như : "Tước hữu ngủ sĩ cư kỳ
liệt, Dân hữu tứ sĩ vi chi tiên" hay "
Nhân sinh tự cổ thùy vô
tử, Lưu thủ đan tâm chiếu hăn thanh." Bài thơ đầy hào khí "Ṿng
trời đất dọc ngang ngang doc, Nợ tang bồng vay trả trả vay, Chí làm
trai Nam Bắc Đông Tây, Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể..." mạch thơ
đang trôi chảy ngon lành, bỗng tự dưng "chuyển gam" dùng 2 câu chữ Hán
"Nhân sinh tự cổ..." xen vào 1 cách tức rực chẳng khác ǵ chiếc xe
đang xổ dốc gặp phải 1 cái ổ gà. Ngay cả đại thi hào Nguyễn Du, thời
ông chữ Nôm đă thịnh rồi, vậy mà ông vẫn cứ loay hoay làm thơ chữ Hán,
có một dịp đi ngang qua Bắc Thành ghé Cổ Nguyệt Đường thăm người bạn
t́nh cũng là bạn thơ, Nữ sĩ Hồ Xuân Hương, ông đưa cho nàng xem quyển
"Bắc Hành Thi Tập" bằng chữ Hán mà ông vừa mới sáng tác, không
ngờ tác giả "Tranh Tố Nữ, Đánh Đu, Đèo Ba Dội" sau khi xem đă
sửa lưng ông bằng 1 câu chí t́nh: "Tiên sinh mà cứ làm thơ chữ Hán
như thế này th́ đời sau mấy ai đọc. Thiếp trộm nghĩ tại sao Tiên sinh
không đổi qua làm thơ chữ Nôm?" Nhờ Bà Chúa Thơ Nôm ngay thẳng góp
ư, nhờ quan Cần Chánh Điện Học Sĩ Nguyễn Hầu thức tỉnh mà ngày nay
chúng ta có Truyện Kiều, áng thơ Nôm bất hủ, niềm tự hào của dân tộc:
"Kiều c̣n, tiếng Việt c̣n".
Qua cả ngàn năm Nho học thịnh hành, nhưng thơ ca bác học chẳng để lại
một bài nào nói về giới Nho sĩ vừa thật vừa hay như 2 câu ca dao trong
kho tàng văn chương b́nh dân sau đây:
"Ưng chi cái lũ hủ nho
Dài lưng tốn vải ăn no lại nằm"
Và phải đợi đến thời tiền chiến, h́nh ảnh Cụ Đồ Nho mới được Vũ Đ́nh
Liên trong Phong trào Thơ Mới khắc họa một cách thấm thía qua bài Ông
Đồ:
"Mỗi năm hoa đào nở
Lại thấy ông Đồ già... "
Ngoài căn bệnh vọng ngoại kinh niên, hầu hết thơ Đường luật đều rơi
vào h́nh thức sáo ṃn, cũ kỷ, rập khuôn, bắt chước. VN là xứ nhiệt đới,
làm ǵ có tuyết có lá ngô đồng vậy mà vẫn có trong thơ... cho nên Tú
Mỡ mới làm thơ châm biếm như sau:
Cây tươi tốt lá c̣n xanh ngắt
Bói đâu ra lác đác lá ngô vàng
Trên đường đi nóng dẫy như rang
Cảnh tuyết phủ mơ màng thêm quái lạ.
Suốt 5 thế kỷ từ thi hào Nguyễn Trăi đến thời tiền chiến, ngoài những
nhà thơ Đường luật có thực tài đă lưu lại những vần thơ Đường luật
thất ngôn bát cú tuyệt tác như Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Nguyễn
Công Trứ, Cao Bá Quát, Bà Huyện Thanh Quan, Hồ Xuân Hương, Nguyễn
Khuyến, Chu Mạnh Trinh, Trần Tế Xương, Tản Đà, Phan Bội Châu, Phan Chu
Trinh, Quách Tấn, v.v... hỏi c̣n được mấy người? Trước hoàn cảnh "cùng
tắc biến" đó, thơ ca VN cần thay đổi, cần cách tân để sống c̣n.
Khi đặt xong nền đô hộ lên nước ta, chính phủ Bảo hộ lần lượt băi bỏ
chế độ khoa cử cũ ở Nam kỳ 1864 (?), Bắc kỳ 1915, Trung kỳ 1918. Khoa
cử bỏ, thể thơ Đường luật mất địa vị độc tôn. Năm 1917, Phạm Quỳnh
viết bài phê phán thể thơ có khuôn khổ chật hẹp, Đường luật. Năm 1928,
Phan Khôi viết bài công kích thể thơ "bó buộc mất cả sinh thú",
Đường luật và năm 1932 bài thơ "T́nh Già" của ông xuất hiện
trên báo... Nhà thơ tiên phong có tài và hết sức nhiệt t́nh xông xáo,
đó là Lưu Trọng Lư, được sự tiếp tay của Nguyễn Thị Kiêm, Đỗ Đ́nh
Vượng, Vũ Đ́nh Liên, Trương Tửu, Lê Tràng Kiều... đă liên tục đăng đàn
diễn thuyết từ Bắc chí Nam, kể cả viết báo chỉ trích Thơ Cũ đề cao Thơ
Mới. Làng thơ cũ cũng xông ra nghênh chiến bằng những cuộc diễn thuyết,
bằng những bài bút chiến trên cả chục lần, trong đó có Tản Đà, Huỳnh
Thúc Kháng... Đó là cuộc bút chiến đầu tiên xảy ra trong lịch sử thơ
ca VN kéo dài 10 năm để giành quyền sống và cuối cùng thơ mới đă toàn
thắng. Thắng lợi vẻ vang đó nhờ công lao của những người trí thức tiến
bộ nh́n xa thấy rộng, những người tiên phong năng nổ tả đột hữu xông,
những nhà thơ mới có tài đă dùng tác phẩm đầy sáng tạo của ḿnh để
chinh phục như: Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Vũ Đ́nh Liên, Huy Thông, Nguyễn
Nhược Pháp, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Bích Khê,
Nguyễn Bính, Thanh Tịnh, v.v... kể cả những nhiệt t́nh ủng hộ của đông
đảo độc giả tiến bộ thời ấy.
Chỉ trong ṿng có 10 năm mà phong trào Thơ Mới đă có một đội ngũ những
người cầm bút lên tới hàng ngàn người, thật chẳng khác ǵ một làn gió
Xuân thổi qua mảnh đất cằn khô làm mát mẻ tâm hồn, làm trong sáng
Tiếng Việt, làm mới mẻ thơ ca, tạo ra một thời đại thơ ca kỳ diệu có
một không hai trong lịch sử thơ ca VN.
II. NHỮNG THI SĨ CỐ ĐÔ:
Nhà phê b́nh Hoài Thanh đă đọc khoảng 4000 nhà thơ mới và đă tuyển
chọn được trên 40 thi sĩ xuất sắc tiêu biểu cho thời tiền chiến mà ông
gọi là "Một thời đại trong thơ ca" để đưa vào quyển Thi Nhân
Việt Nam của ông (người viết rất tiếc là ông đă bỏ sót thi sĩ thiên
tài Hồ Dzuếnh mới 19 tuổi đă xuất bản thi tập Quê Ngoại nổi tiếng,
trong đó có bài "Chiều" được Dương Thiệu Tước phổ nhạc). Riêng
Cố Đô Huế đă có tới sáu nhà thơ thời danh đă từng đóng góp công sức
tài năng và tác phẩm của ḿnh vào sự thắng lợi của phong trào Thơ Mới.
Tôi xin mạn phép trích đăng vài nét tiểu sử cùng thơ ca tiêu biểu của
họ như sau:
1. MỘNG HUYỀN:
Sinh năm 1919 ở Huế, học Ban Tú Tài ở Hà Nội, đă đăng thơ trên các báo
Tràng An, Sông Hương.
VƯỜN HOANG
Hôm nay trở lại vườn xưa
Nén tim rộn ră ngăn ngừa nhớ thương
Cỏ lan mặt đất bên đường
Cành cây nghiêng gửi mùi hương bay rồi
H́nh em c̣n ở hồn tôi
Sầu em lẩn quất bồi hồi đâu đây...
Rào xiêu, hoa héo, cây gầy,
Em từ trần vội một ngày năm xưa
Vườn hoang, nhà vắng, cây thưa,
Ḷng tôi sầu tủi đă vừa mấy xuân!
Ngày kia tôi sẽ từ trần,
Vườn hoang liêu lại mấy lần hoang liêu...
(Trích thi tập Rung Động)
2. NGUYỄN Đ̀NH THƯ:
Sinh năm 1917 tại Thừa Thiên. Học trường Queignec, Quốc Học. Có bằng
thành chung.
THIỆT THÀ
Phụ phàng chi lắm thế anh ơi,
Em gởi thư sao chẳng trả lời?
- Dẫu chẳng ra chi duyên phận ấy,
Cực ḷng em chịu dám hơn ai
Nhớ bữa ra đi anh dặn ḍ,
Những là chờ đợi chớ buồn lo
- Đừng đau em nhá! Thư luôn nhá!
Không có phương trời anh héo khô.
Nghe nói, chao ôi! Xiết thảm sầu,
Trăm ngh́n những muốn chết theo nhau,
Lệ không cầm nữa, tơ duyên tưởng,
Vấn vít đôi ta đến bạc đầu.
Cui cút ra vào em với em,
Lời kia căn dặn dám sai quên,
Ai dè anh bỏ em đành đoạn,
Ôi lá hoa cùng trăng gió quen!
Em có hay đâu cơ sự này,
Nửa chừng nửa đổi chịu chua cay.
T́nh anh như nắng thu đông ấy,
Lưu luyến nhân gian chả mấy ngày...
Chắc hẳn anh chừ đă lửng nhau,
Vui bề gia thất ấm êm sao!
T́nh cờ nếu gặp em đâu đó,
Không biết ḷng anh nghĩ thế nào?
(Trích thi tập Hương Màu)
3. PHAN VĂN DẬT:
Sinh năm 1909, tại Thừa Thiên. học Quốc Học, đậu Thành chung. Viết văn
từ năm 1927, có thơ đăng trên báo Nam Phong, Thần Kinh, Rạng Đông. Đă
xuất bản thi tập Bâng Khuâng (1935).
TIỄN ĐƯA
(Lời một người đàn bà xưa đưa chồng đi lính)
Ngày mai chàng lên đường,
Thân gió bụi tuyết sương,
Tối nay c̣n với thiếp,
Xin cạn chén quỳnh tương.
Chàng mặc áo nhung này,
Thiếp v́ chàng mới may,
Thiếp dù xa chân ngựa,
Tơ ḷng theo chàng bay.
Đừng nghĩ đến ngày mai!
Hôm nay biết hôm nay,
Thiếp đây mà chàng đó,
Chừng ấy là đủ rồi.
Ngày mai chàng ruổi xa,
Mặc kẻ nước mắt sa,
Yên ngựa rong đường thẳng,
Thức dậy lúc canh gà.
Ngày sau khi chàng về,
Thiếp dù chống gậy lê,
Xin v́ chàng dâng rượu,
T́nh xưa cạn chén thề.
Rồi bên chàng có thiếp,
Giấc ḥe cùng thiêm thiếp,
Yêu nhau đến trăm năm,
Phong trần cho bỏ kiếp.
1927
(Trích thi tập Bâng Khuâng)
4. THANH TỊNH:
Họ Trần, sinh năm 1913 tại Thừa Thiên. học Đông Ba, Pellerin. Có bằng
Thành chung. Đă viết cho các báo Phong Hóa, Ngày Nay, Hà Nội Báo, Tiểu
Thuyết Thứ Năm, Tinh Hoa.
M̉N MỎI
-Em ơi nhẹ cuốn bức rèm tơ,
T́m thử chân mây khói tỏa mờ.
Có bóng t́nh quân muôn dặm ruổi,
Ngựa hồng tuôn bụi cơi xa mơ.
- Xa nh́n bên cơi trời mây,
Chị ơi em thấy một cây liễu buồn.
- Bên rừng em hăy lặng nh́n theo,
Có phải chăng em ngựa xuống đèo?
Chị ngỡ như chàng lên tiếng gọi,
Trên ḿnh ngựa hí, lạc vang reo.
- Bên rừng ngọn gió rung cây,
Chị ơi con nhạn lạc bầy kêu sương.
- Tên chị ai gieo giữa gió chiều,
Phải chăng em hỡi tiếng chàng kêu?
Trên ḍng sông lặng em nh́n thử,
Có phải chăng người của chị yêu.
- Sóng chiều đùa chiếc thuyền lan,
Chị ơi con sáo gọi ngàn bên sông...
Ô ḱa! Bên cơi trời đông,
Ngựa ai c̣n ruổi dặm hồng xa xa.
- Này lặng em ơi, lặng lặng nh́n,
Phải chăng ḿnh ngựa sắc hồng in.
Nhẹ nhàng em sẽ buông rèm xuống,
Chị sợ trong sương bóng ngựa ch́m.
- Ngựa hồng đă đến bên hiên,
Chị ơi trên ngựa chiếc yên... vắng người.
5. THU HỒNG:
Tên thật Tôn Nữ Thu Hồng, sinh 1922 tại Thừa Thiên, học Tourane, Đồng
Khánh. Đă xuất bản thi tập Sóng Thơ (1940).
TƠ L̉NG VỚI ĐẸP
Ḱa trăng vỡ trong hồ khi nước động,
Sóng lao xao lấp loáng, ánh xa ngời.
Và búp hoa nghểnh dậy đón hương trời,
Cây tuôn bóng, lửng lơ, đ̣ chẳng lướt!
Cảnh đẹp cứ dàn thêm bước bước,
Lời ngợi khen mỗi phút lại thay thay.
Tơ ḷng với đẹp đêm nay
Rộn ràng thổn thức v́ say nhiệm màu.
6. THÚC TỀ:
Tên thật Thúc Nhuận, sinh năm 1916 ở Huế, học trường Qui Nhơn, Quốc
Học, đă viết giúp Văn Học tạp chí, Mai, Dân Quyền. Chủ bút tuần báo
Đông Dương.
TRĂNG MƠ
Một đêm mờ lạnh ánh gương phai,
Suốt giải sông Hương nước thở dài.
Xào xạc sóng buồn khua băi sậy,
Bập bềnh bên mạn chiếc thuyền ai.
Mây xám xây thành trên núi Bắc
Nhạc mềm chới với giữa sương êm,
Trăng mờ mơ ngủ lim dim gật,
Eûo lả nằm trên ngọn trúc mềm.
Dịp cầu Bạch Hổ mấy bóng ma,
Biến mất v́ nghe giục tiếng gà.
Trăng tỉnh giấc mơ, lười biếng dậy,
Động ḷng lệ liễu, giọt sương sa.
Lai láng niềm trăng tuôn dạ nước,
Ngập tràn sông trắng gợn bâng khuâng.
Hương trăng quấn quít hơi sương ướt,
Ngân dội lời t́nh điệu hát xuân.
III. KẾT LUẬN
Một thời đại thơ ca được Hoài Thanh cô đọng trong sách Thi Nhân Việt
Nam dày 400 trang, gồm trên 40 nhà thơ, riêng Huế có 6, chiếm tỉ lệ
15% cao nhất nước. Kết quả này khẳng định câu nói "Huế đẹp Huế thơ"
là đúng. Nam Trân, nhà thơ xứ Quảng nhưng lại yêu Huế với tất cả tâm
hồn, đă làm một bài thơ Huế nổi tiếng tên là "Đẹp Và Thơ" có 2
câu đầu như sau:
Thuyền nan đủng đỉnh sau hàng phượng,
Cô gái Kim Luông yểu điệu chèo...
Và cũng chính ông đă viết cả 1 tập thơ Huế nhan đề "Huế đẹp và thơ"
xuất bản năm 1939. Có lẽ từ đó câu nói "Huế đẹp Huế thơ"
trở thành quen thuộc với tất cả mọi người mỗi khi nhắc đến Huế chăng?
Ở phần cuối sách, nhà phê b́nh Hoài Thanh có viết một đoạn rất thú vị
như sau:
"Bạn hỏi tôi: "Thi sĩ đâu mà nhiều thế? Mới mười năm mà trên bốn
mươi người! Thời đại này dầu phong phú cũng không lẽ thế." Nhưng bạn
hăy nghĩ: Báo Đông Pháp vừa mở một cuộc thi thơ, tất cả có 1.500 người
dự. Đó chỉ là thơ cũ, một thứ thơ c̣n ngoi ngóp. 1.500 thi sĩ cùng ra
đời một lần! Trong nước ta có bao nhiêu người biết đọc biết viết là là
có chừng ấy thi sĩ. Có lẽ số thi sĩ lại nhiều hơn cũng nên. Chán chi
người không biết đọc biết viết cũng làm thơ. Mà thơ họ vị tất đă thua
thơ người có học.
Vậy nước ta có bao nhiêu thi sĩ? 40.000 hay 400.000? 4.000 người có
thơ đăng báo in sách, chừng 40 người có trích trong quyển này, và may
mắn ra 4 người sẽ có tên lưu truyền hậu thế!".
Đọc qua đoạn trên chúng ta thấy thời tiền chiến và thời của chúng ta
hiện nay về lănh vực thơ ca sao mà giống nhau quá!
"Thi sĩ đâu mà
nhiều thế?"
Nếu thời tiền chiến có 4.000 người có thơ đăng báo so với dân số 20
triệu (Dân hai mươi triệu ai người lớn. Nước bốn ngh́n năm vẫn trẻ
con) th́ thời chúng ta hiện nay dân số 80 triệu đông gấp 4 lần với
phương tiện truyền thông thông tin hiện đại... th́ phải có ít nhất là
16.000 thi sĩ, con số này nói lên 1 điều là VN có quá nhiều thi sĩ. V́
có quá nhiều thi sĩ, nên trước đây nhà thơ Tô Thùy Yên đă nói "Mỗi
người VN là một thi sĩ" và năm ngoái trên báo Phương Đông (ở MA)
nhà văn Xuân Vũ cũng viết: "Mỗi công dân VN là một thi sĩ". Nếu
đúng như thế, th́ quê hương Việt Nam yêu dấu của chúng ta cũng là quê
hương của những nhà thơ, những người có thể nghèo khổ về vật chất
nhưng lại giàu có về tâm hồn.
Và đây cũng là một cách để cắt nghĩa tại sao chúng ta hănh diện ḿnh
là người Việt Nam.
VINH HỒ

Tài liệu tham khảo:
"Thi Nhân Việt Nam" của Hoài
Thanh, Hoài Chân, (in lần thứ nhất tại Bắc Việt 1942) tái bản tại SG
1967.