Phần
2:
5.Cổ
tháp:
a-Tháp
của Ḥa Thượng Minh Lượng - Nguyệt Ân
Trước
năm 1992 dáng tháp bị nghiêng một bên, chung quanh tháp có xây lan
can, tạo thành một sân vuông, bốn gốc có bốn trụ, cửa vào sân tháp
h́nh như quay về hướng Đông Nam. Thân tháp và thành tháp rêu phong
mọc đầy. Ốc Sên bám lên ăn rêu, chúng bào ṃn luôn lớp vôi hồ ô -
dước làm cho tháp loang lổ trông hoang phế lắm! Tuy vậy, tháp vẫn
c̣n giữ được những cạnh, góc và đường nét giống với tháp của Ḥa
Thượng Thiệt Địa. Vào khoảng thập niên 60 của thế kỷ thứ 20 bỗng
rộ lên "phong trào" t́m vàng Hời, người t́m vàng tưởng tháp này là
tháp Hời, họ đào bên dưới tháp làm cho tháp nghiêng về phía Tây.
Tôi có hỏi một người …, họ bảo: "tro không hà!".
Sau 1992, tháp được sửa lại - Đến năm 2000 ni
cô Chơn Tâm cho làm một bia đá xanh, trên bia ghi:
Tự Lâm Tế Chánh
Tông tam thập tứ thế, khai sơn Bảo Phong tự". Ḍng thứ
hai ghi: "Huy
Thành Đẳng thượng Minh hạ Lượng hiệu Nguyệt Ân Ḥa Thượng".
Ḍng lạc khoản bên phải ghi:
" Sinh Bính Dần
niên, tứ ngoạt thập lục nhật, ngọ thời - 1686" Ḍng lạc
khoản bên trái ghi:
"Tịch kỷ Sửu niên, tứ ngoạt, nhị thập tứ nhất – 1769".
Ni cô căn cứ vào quyển sách các ngôi chùa Việt Nam (đă quên tác
giả) để khắc bia như trên, trong khi linh vị của Ḥa Thượng thờ
trong chùa chỉ ghi:"
Tự tam thập tứ thế Phổ Bửu đường thượng, húy thượng Minh hạ Lượng
Nguyệt Ân Ḥa Thượng - Tứ nguyệt, nhị thập tứ nhất hóa”.
Tôi có đọc cuốn sách vừa nêu trên, tôi nhớ h́nh như ngày tịch ghi
trong sách và ngày hóa khắc trên linh vị của Thiền sư là không
giống nhau. Một điều nữa, xin ghi ra luôn: Trong hai quyển Sử Phật
Giáo Việt Nam là Việt Nam Phật Giáo sử luận và Việt Nam Phật Giáo
sử lược cũng không thống nhất với nhau, khi th́ ghi: Minh Lương (không
có dấu nặng) Nguyệt Ân, khi th́ ghi: Minh Lượng - Nguyệt An (chữ
A) …, cũng không thấy ghi rơ Minh Lượng là người Trung Hoa hay
người Việt Nam … chúng ta có dễ dàng với nhau trên nhiều vấn đề,
nhưng đối với lịch sử th́ không thể vô bằng cớ.
Một
ư nữa, nhằm giải quyết thắc mắc ngôi tháp đang đề cập đây là tháp
Hời (Chiêm Thành) hay tháp của chùa Việt, thú thật tôi cũng có sự
nghi ngờ nên t́m hỏi một cụ lăo người làng Thạch Thành xă Ninh
Quang là một đạo hữu rất gắn bó với chùa
Bửu Phong, ông lớn hơn
tôi gần 40 tuổi. Ông kể: "Tôi từ B́nh Định bỏ quê lên Lâm Đồng rồi
xuống đây, lúc đó tôi mới hai mưới mấy tuổi. Tôi quy y ở chùa này
v́ ở quê tôi cũng có chùa Bảo Phong"… Ông tiếp:’ Tháp này (tức
tháp Minh Lượng) không phải tháp Hời đâu! Lúc trước tôi có theo
thầy Hải Tràng (chùa Sắc Tứ Thiên Bửu) và các thầy khác đến xem
tháp này, lúc ấy bia tháp c̣n sót vài chữ Nho. Nếu tháp người Chàm
sao ghi chữ Nho," Trong kư ức mù mờ của vài cụ già làng Phong Ấp
th́: "H́nh như tôi có nghe tháp đó là tháp của ông thầy chùa sau!".
Trong hồ sơ xin xếp hạng di tích cho chùa tôi
có ghi Ḥa Thượng Minh Lượng Nguyệt Ân là người Trung Hoa và tháp
đang nêu là tháp Minh Lượng, đến giờ tôi vẫn không phủ nhận điều
đó v́ tôi chỉ kể lại chứ không sáng tác. Vấn đề vừa nêu vẫn đang
tồn nghi, rất mong được gặp tài liệu xác thực!
b-Tháp của Ḥa Thượng
Thiệt Địa:
Ngôi
tháp xinh xắn có 3 tầng, cao hơn 4 m, h́nh bát giác, đỉnh tháp trổ
h́nh búp sen chớm nở. Tầng tháp dưới cùng cao lớn hơn hết h́nh
lăng trụ thẳng, tám góc tháp đắp nổi tám chân h́nh giống như chân
rùa. Tất cả khối kiến trúc đặt trên bệ vuông cao, khoảng 0,6m xây
bằng gạch, Nh́n toàn bộ kiến trúc của tháp khiến chúng ta liên
tưởng đến toàn bộ tư tưởng Phật Giáo được xây dựng trên nền móng
vững chắc là Tứ Diệu Đế và bát chánh đạo ! Bia là một trong tám
mặt của tháp xoay về phía Đông Nam. Trên bia khắc ḍng chữ Hán
theo chiều thẳng đứng, chữ khắc ép cho lùn lại cho vừa với than
bia: " Tự lâm tế
chánh tông, tam thập ngũ thế, húy Thiệt Địa hiệu Pháp Ấn Ḥa
thượng bảo pháp. Bên ḍng lạc khoản ghi: Canh tuất niên,
tam nguyệt nhị thập tứ nhật tạ hóa. Các mặt khác chung quanh tháp
có khắc ba bài thi thập ngôn tứ tuyệt, khắc theo lối nhứt cách
nhứt chiếu, nghĩa là một mặt tháp khắc thi th́ một mặt để trống.
Ba bài thi này nhà văn Hải Thiêu có đăng trên báo Giác Ngộ (xin
xem phần nguyên văn chữ Nho ở sau).
Về vị trí, tháp ở trước chùa và nằm dưới chân
núi, cách chùa khoảng 30m cạnh dốc đá, đi lên chùa. Bên cạnh tháp
ở phía tây có nhiều cổ thụ che ánh nắng chiều. Hiện nay c̣n gốc
thị già tương truyền do chính Tổ trồng. Với ḷng tôn kính và mến
mộ vị thiền sư có nhiều công đức với làng, cho nên từ xưa tới giờ,
bà con nhân dân cứ cách năm lại quét vôi cho tháp và cách năm bảy
năm lại gia cố một lần, v́ vậy cách đây đă 215 năm kể từ ngày xây
tháp mà cổ tháp vẫn giữ y dáng cũ.
c-Tháp của đại sư
Từ Mẫn:
Tháp
ở gần chùa nằm về phía Tây, đại sư họ Phùng người thôn Phong Ấp.
Trước 1975 tháp sạt lở, người họ Phùng và bà con góp công xây lại,
tháp ba tầng, ngang ngang sở thẳng nên không có ǵ đặc biệt lắm,
Đại sư viên tịch đến nay đă quá 100 năm.
IV.Theo
ḍng lịch sử đất nước và sử Phật Giáo để phỏng định thời gian xây
dựng chùa
Đi t́m năm xây dựng chùa Phổ Bửu (chùa núi sau)
cũng như năm dời chùa ra núi trước và đổi tên thành Bửu Phong,
cùng hoạt động hoằng pháp của các vị thiền sư thời trước là một
việc làm rất khó. Ở đây chúng tôi chỉ căn cứ vào các linh vị, bia
tháp, cộng với sự tham quan thực tế của nhiều người đem so sánh,
đối chiếu với các sử liệu mà các học giả, nhà văn, nhà sư đă đúc
kết từ nhiều sử sách cũ để khẳng định hoặc phỏng đoán các sự kiện
đă diễn ra ở Bửu Phong.
Các sách tham khảo:
Việt Nam Phật Giáo sử
luận của Nguyễn Lang
Việt Nam Phật Giáo sử
lược của Thích Mật Thể
Xứ trầm hương của
Quách Tấn
Đặc san Giác Ngộ số
100 ra ngày 15-2-1995
Các sử liệu liên quan đến chùa Bửu Phong vốn
không nhiều lại rải rác mỗi chỗ một ít. Trong khi tập hợp c̣n có
chỗ nghi ngờ v́ không liên kết được, chúng tôi có tham cứu thêm
những lời truyền miệng trong làng giữa các bô lăo với nhau hoặc bô
lăo với người hậu sinh. Dù sao sự việc này cũng là bước khởi đầu.
Xin được tóm lược như sau để tiện theo dơi:
Phật giáo dưới thời Hậu Lê trở lại hưng thịnh, bởi trong sự việc
tranh bá đồ vương của hai họ Trịnh, Nguyễn các chúa đều xem Phật
Giáo như chỗ dựa tinh thần và linh thiêng. Riêng trong cuộc Nam
tiến của các chúa Nguyễn th́ việc xây chùa, đúc chuông cũng là một
phần trong kế sách định quốc, an dân, tiếng chuông dễ dàng an ủy
ḷng người xa xứ vốn đă mang sẳn một phần tâm linh Phật giáo làm
hành trang.
Các mốc lịch sử:
Năm 1653, Hùng Lộc hầu ổn định việc cai trị di dân, lấp ấp ở xứ
Kanthara (Khánh Ḥa)
Năm 1665, Thiền Sư Nguyên Thiều Siêu Bạch từ Trung Hoa đến B́nh
Định Đại Việt. Có thể thiền sư Minh Lượng Nguyệt Ân cùng đi theo.
Năm 1683, Thiền Sư Nguyên Thiều Siêu Bạch hoàn tất việc xây chùa
Thập Tháp Di Đà ở B́nh Định.
Năm 1687, Ḥa Thượng Thạch Liêm mời các cao tăng ở Trung Hoa sang
Đại Việt cùng chủ tŕ Đại giới đàn ở chùa Thiên Mụ - Huế theo yêu
cầu của chúa Nguyễn Phúc Tần. Có Thể Ḥa Thượng Minh Lượng Nguyệt
Ân qua Đại việt trong đợt này.
Sau đại giới đàng măn, chư sư một số về lại Tàu,
một số tỏa ra vấn du và lập chùa hành đạo dưới sự bảo trợ của chúa
Nguyễn. Như vậy, chùa Phổ Bửu (tiền thân của chùa Bửu Phong) do vị
thiền sư hàng chữ Minh khai sơn, có lẽ được xây dựng sớm nhất là
vào năm 1688 tức sau đại giới đàn một năm.
Có hai khả năng xảy ra:
1. Có thể
xây xong Phổ Bửu vài ba năm th́ Minh Lượng trở lại Hội An xây chùa
Vạn Đức và ngài vẫn đi lại giữa hai chùa này chứ chưa giao hẳn cho
đệ tử nào. Điều này cũng phù hợp truyền thuyết trong làng rằng:
"Xưa, vị thầy ở chùa
sau tài năng lắm! ông đi không ai hay biết, lúc về cung chẳng ai
hay!"
2. Có thể
sau đại giới đàn, thiền sư Minh Lượng đến Hội An (Quảng Nam) là
nơi dân cư đông đúc, buôn bán sầm uất thời bấy giờ để lập chùa
hành đạo và khoảng năm mười năm sau chúa Nguyễn với thỉnh cầu ngài
vào dinh Thái Khang để lập chùa an dân.
Dù khả năng nào th́ chùa Bảo Phong cũng là một
trong vài chùa được xây dựng sớm nhất ở Khánh Ḥa ngày nay.
Theo quyển sách Khánh Ḥa, Nha Trang một tiềm
năng một hiện thực, tác Vũ Ngọc Phương phán một câu thế này:
"Chùa Bửu Phong (Ninh Ḥa) do, thiền sư Minh
Lượng Nguyệt Ân, Trung Quốc đời 34 tạo dựng năm 1683” (trang 110
ḍng cuối, trang 117 ḍng đầu). Như vậy th́ chùa Bửu Phong và chùa
Thập Tháp Di Đà xây cùng một năm rồi. Xin trưng bằng chứng?! Hèn
chi thầy Đạt Bổn nói với tôi:" chiếc trống sấm của chùa Thập Tháp,
chùa Bửu Phong và chùa làng Phụng Cang làm cùng một thân cây; chùa
Thập Tháp phần gốc, chùa Bửu Phong đoạn giữa, và trống ở chùa
Phụng Cang là khúc ngọn!
C̣n việc thầy Minh Lượng viên tịch ờ chùa nào
xin gát lại, sợ dài ḍng.
Vấn đề tiếp theo là chùa được dời từ núi sau ra núi trước năm nào?
Tương truyền sau đời Ḥa Thượng Minh Lượng th́
chùa trở nên khó ở, làng thỉnh thầy đến ở vài tháng th́ mất, vị
khác th́ đau bệnh phải bỏ đi, không ai trụ quá một năm, sự việc
lập đi lập lại nhiều lần, kể cả các vị bô lăo trong làng. V́ vậy,
làng phải vào Ngọc Hội chùa Kim Sơn thỉnh thầy Thiệt Địa trở lại
chùa (theo lời kể các cụ th́ thầy Thiệt Địa giỏi khoa phong thủy,
thầy giỏi mà thầy nói ra nên ngày nay chùa phải chịu nhiều chuyện
dỡ) Chính thầy chủ trương dời chùa từ lưng rùa ra trước trấn lên
cổ rùa. Ngài đặt tên chùa là Bửu Phong với hàm ư dặn ḍ đời sau
rằng núi chùa là ngọn núi báu.
Công
việc này diễn ra năm nào, cần phải tham cứu sách Trầm Hương của
Quách Tấn để đối chiếu!
Theo tác giả xứ Trầm Hương th́ chùa Kim Sơn là chùa xưa nhất Tỉnh,
ông phỏng định năm xây dựng chùa này là năm 1735.
Năm 1740 chúa Nguyễn Phúc Khoát cải tên Kim Sơn ra Qui Tôn và ban
sắc tứ. Chùa Kim Sơn do Thiền sư Thiệt Địa Pháp Ấn khai sơn.
Năm 1790 Ḥa Thượng Thiệt Địa Pháp Ấn hóa thân tại chùa Bửu Phong,
giả định lúc đó ngài 80 tuổi (xem chân dung tự họa)
Ta thử làm phép tính:
Năm 1790 ngài 80 tuổi, tự hóa
Năm 1740 ngài 30 tuổi, đang trù tŕ ở chùa Kim Sơn và được chúa
Nguyễn sắc tứ. Có thể năm mười năm sau đó ngài lại được thỉnh về
lại Phổ Bửu và ngài ở đây lâu dài hơn v́ thời gian sau đó ngài c̣n
lập ra ba cảnh chùa nữa.
Xem tiếp:
Phần 1 |
Phần 2
| Phần 3

H́nh
Ảnh
Chủa
Bửu
Phong

Chân thành cám ơn:
Chị Hà Thị Thu Thủy đánh máy và chuyển tải tải liệu Chùa
Anh Dương Tấn Long chụp và chuyển tải h́nh ảnh Chùa
|