CHÙA
BỬU
PHONG
Góp Ý Về
Bài Viết Của
Ông Trần
Đình Khôi

Trong
một tình cờ,
tôi đã đọc
trên trang www.ninh-hoa.com
bài “Chùa Bửu
Phong” của
ông Trần Đình Khôi, người
làng Phong
Ấp,
viết. Đọc
qua bài này, ta thấy tác giả
đã cố
gắng nêu lên sự
uyên bác về
Phật học,
kiến
trúc, xã hội, chính trị,
và khoa học
để minh chứng
Tổ
khai sơn
chùa Bửu
Phong là Hòa Thượng Minh Lượng.
Đồng
thời, tác giả
cũng đã huyền
thoại hóa hai vị
cao tăng của
Thiền Phái Lâm Tế
như
những
nhân vật
thần thông mà ít ai nghe nói đến.
Thật khó mà xác định
được
đây là bài phóng tác, tham khảo,
hay bài viết
về lịch
sử
Chùa Bửu Phong. Tuy nhiên, ông đã viết
rằng: “chúng ta có dễ
dàng với
nhau về nhiều
vấn
đề nhưng
về lịch
sử
thì chúng ta không thể vô bằng
cớ.”
Qua đây, ta có thể xác định
được
đây là bài viết về
lịch
sử Chùa Bửu
Phong của
ông Trần Đình Khôi.
Với
bài viết này, tác giả
đã kết
luận rằng:
Hòa Thượng Minh Lượng
đã đến
làng Phong
Ấp và lập
ra chùa Phổ
Bửu,
ở
núi sau.
Hòa Thượng Thiệt
Địa
đã học Phật
với
Hòa Thượng Minh Lượng
ở
chùa Phổ Bửu.
Sau đó, ngài đã dời chùa Phổ
Bửu
từ núi chùa sau ra núi chùa trước,
đổi tên thành chùa Bửu
Phong.
Tháp cổ
ở núi chùa trước
mà dân làng vẫn
gọi là tháp Hời
là tháp của
tổ Minh Lượng.
Tuy nhiên, tác giả chỉ
nêu ra được
một vật
chứng
duy nhất còn lại
trong chùa là bài vị của
Hòa Thượng
Minh Lượng; những
dẫn
chứng khác chỉ
là thêu dệt
vô căn cứ và hoàn toàn trái với
ý kiến
của những
bô lão từ
xưa trong làng. Vì vậy,
tôi viết
bài này chỉ mong góp ý cho sự
việc
được sáng tỏ
thêm và trả
lại nguyên trang sử
cho chùa.
Tôi cũng là một
con dân làng Phong
Ấp, được sinh ra và lớn
lên tại chân núi Chùa. Ông bà nội
và ba mẹ tôi đều đã quy y với thầy Chơn
Tâm, pháp danh Nhơn Ứng, trụ trì chùa từ những năm 1940.
Thời
ấy, giếng nước nhà tôi là
nguồn nước duy nhất cung cấp cho chùa từ những sinh hoạt, ăn uống, cho đến những xây dựng nhỏ. Chính vì
thế, gia đình chúng tôi đã luôn có mặt trong tất cả những sinh hoạt của chùa. Nhờ vậy, từ nhỏ tôi đã được nghe rất nhiều chuyện kể về nguồn gốc của chùa cũng như
chứng kiến được những việc tu bổ trong chùa.
Trước
khi bàn về
những nhầm
lẫn
của tác giả,
tôi xin kể
về ba lần
sửa
chữa trong chùa mà tôi thấu
hiểu
và đã chứng kiến
để
làm sáng tỏ thêm về
lịch
sử chùa Bửu
Phong.
I. Sự thật
về chùa
A. Xây dựng
lại
chùa lần
thứ
nhất,
năm 1953.
Thật
ra năm 1953, làng Phong
Ấp đã triệt
hạ
toàn bộ chùa cũ để
xây chùa mới
chứ không phải
trùng tu. Trong chùa có một tấm
bảng
đỏ dài khoảng
hai mét cao sáu tấc, khắc
ba chữ
Bửu Phong Tự.
Bên dòng lạc
khoẳn ghi: “Tự
Đức Nhị Thập
Tam Niên Tuế
Thứ Canh Ngũ Trọng Xuân Sang.”
Tuy bảng
chùa được khắc
vào năm 1870, nhưng
các cụ
không biết
tấm bảng
này được
khắc vào diệp
nào, lúc chùa mới
khai sơn,
trùng tu, hay một
lý do nào khác mà có bảng chùa, vì trong chùa không có tài
liệu.
Vì thế, các cụ
đã không thể
kết luận
được
chùa đã được xây vào năm nào.
Chùa trước năm 1953 được
xây theo kiểu
“mái chái” như
đình và miễu
làng. Chùa chỉ khác
ở
chỗ
mặt tiền
của
chùa từ vách đến
các khung cửa
đều làm bằng
gỗ
chạm trỗ
rất
đẹp. Phía Đông và Tây được
nối
thêm hai vách để làm nhà Đông và nhà Tây. Mặt
hậu được
nối
thêm một vách để
làm hậu
liêu cho các sư
ở.
Đến năm 1953, chùa bị
dột.
Gạch các vách của
nhà Đông, nhà Tây, và cả hậu
liêu đều
bị mục
nát. Vì thế,
các cụ trong làng mới
quyết
định triệt
hạ
toàn bộ ngôi chùa cũ và xây lại
chùa mới.
Để giữ
lại
di tích của ngôi chùa cũ, các cụ
đã dùng lại
“bộ lồng
cu,” và ngói âm dương
để
xây và lợp lại
chánh điện
cho ngôi chùa mới. Các cụ
đã xây chùa theo kiểu “tam quan” và kiểu
này vẫn
tồn tại
đến
nay.
Lý do tôi nói về việc
xây dựng
chùa vào năm 1953 của các cụ
trong làng là vì tôi chỉ muốn
nêu lên sự
nhầm lẫn
của
tác giả Trần
Đình Khôi. Theo ông, “chùa đã được trùng tu nhiều
lần
và lần trùng tu cuối
cùng vào năm 1953. Lần trùng tu này, các cụ
đã cho thay ngói âm dương
bằng
ngói mốc. Qua nghiên cứu,
chùa đã có rất
xưa
từ
năm 1688 đến 1705, chùa xây theo kiểu
tam quan.” Sự
hiểu lầm
này của
tác giả đã sinh ra nhiều
bất
hòa trong làng, đồng thời
cũng đã gây khó khăn cho việc sư
cô
Chơn Hiển
xin giấy
phép để xây cất
chùa đầu
năm 2007.
B. Trùng tu thứ hai, năm 1957:
nguyên nhân xây lại tháp của
thầy
Từ Mẫn
và không xây lại
tháp Hời
ở
núi chùa trước.
Khoảng
đầu thập
niên 1950, khi thầy
Chơn
Tâm về
Hà Thanh, các cụ trong làng đến
Phú Hòa mời
ni cô Như
Đạo
về hương
khói cho chùa. Lúc ấy,
ni cô Như
Đạo
và các cụ
lão trong làng đã đề cử
một
số cụ
biết
chữ Nho và đã quy y Tam Bảo
như
các cụ
Võ Đồng,
Võ Văn, Trần Đạt,
Nguyễn
Đệ, và Huỳnh Cương
vào Ban Hộ Niệm
và Hộ
Trì Tam Bảo, bây giờ
gọi
là Ban Hộ Tự.
Cụ
Võ Đồng là trưởng
ban. Sau chiến
tranh Việt Pháp chấm
dứt,
Phật Giáo lại
phát triển.
Ni cô Như
Đạo
và Ban Hộ Trì Tam Bảo
đã kêu gọi
dân làng đóng góp một số
tiền
để tu bổ
một
số việc
nhỏ
trong chùa như
thay ngói âm dương bằng
ngói mốc,
và lần xây lại
chùa năm 1953 đã dùng lại loại
ngói mốc
này, nhưng nay chánh điện
đã bị
dột.
Sau đó, vì muốn tu bổ
và xây dựng
lại các tháp của
các bậc
tiền nhân đã có công và tu tại
chùa Bửu
Phong, ni cô Như
Đạo
và Ban hộ Trì Tam Bảo
mới
nghĩ tới việc
nếu
như
chùa sau
là chùa Phổ
Bửu do Hòa Thượng
Minh Lượng
khai sơn,
thì khi viên tịch,
Ngài được an táng
ở
đâu, cần
phải tìm ra và trùng tu lại
cho đàng hoàng, nếu
không sẽ mang tội
đối
với tiền
nhân.
Với
khả năng có hạn,
ni cô và Ban Hộ
trì Tam Bảo đã mời
thêm các bậc
thức giả
trong làng như
các cụ
Cửu
Tư,
Cửu
Tám, Phùng Tấn, Giáo Mười,
và cụ
Trần Liên về
chùa Bửu
Phong để cùng nhau nghiên cứu
sự
việc trên. Họ
cũng đã mời
luôn cụ Trần
Kiến
Long là Trưởng ban Hộ
Trì Tam Bảo
của chùa Sắc
Tứ
Kim Sơn
làng Ngọc
Hội, Nha Trang vì chùa Sắc
Tứ
Kim Sơn
và chùa Bửu
Phong có cùng Tổ Khai Sơn
là thầy Thiệt
Địa.
Vào thời đó, khoảng
năm 1957,
ở
hướng Nam của
chùa có hai cái mả vôi song song với nhau, xung quanh được
chất
bằng đá cuội
lớn.
Sau khi xem xét, các cụ mới
biết
rằng một
trong hai cái mả vôi là của thầy
Từ
Mẫn, một
dân làng Phong
Ấp
đã tu tại chùa Bửu
Phong. Các cụ
đã cho xây lại một
cái tháp ba tầng
cho thầy Từ
Mẫn.
Tuy nhiên, các cụ đã không thể
tìm được
chứng tích gì trên cái mả vôi thứ
hai. Vì thế, các cụ
đã cho rằng
có lẽ mả này là của
một
vị sư
cùng tu tại chùa. Các cụ
cũng cho xây một
cái tháp giống như
tháp của thầy
Từ
Mẫn, nhưng
nhỏ hơn,
bia tháp đề: “Hướng
về hương
linh có công với chùa.” Hai cái mả vôi
này không có cái nào là của Hòa thượng
Minh Lượng.
Ngoài hai mả vôi trên còn một cái tháp nữa
ở
núi chùa trước cũng nằm
ở
hướng Nam cách chùa khoảng
hai trăm mét trong đám gai quít chằng chịt.
Tháp này người
dân gọi là “tháp Hời.”
Xung quanh tháp có xây lan can tạo thành một
sân vuông bao bọc
tháp. Bốn góc có bốn
trụ.
Cửa vào sân tháp quay về
hướng
Đông Nam, được xây từ
đất
lên, cao khoảng hai mét rưỡi.
Tháp cao ba tầng.
Trên đầu tháp và trên bốn
trụ
xung quanh không có tượng, hoa sen, hoặc
một
dấu vết
gì biểu
hiện của
Phật
Giáo cả. Phần
dưới
cùng, mặt hướng
ra cửa
đi vào tháp, là một mặt
phẳng
hình chữ nhật,
trơn
láng, màu trắng
sữa,
không sần sùi như
toàn bộ tháp và lan can. Trên mặt
hình chữ
nhật
ấy
không có khắc
một loại
chữ
gì cả. Sau này, dân tìm vàng đã đục
mặt trơn
láng đó để tìm vàng. Tuy tháp này không giống
tháp của ngài Thiệt
Địa,
nhưng
kích thước
và vật liệu
xây dựng
lại rất
giống
hai cái tháp khác
ở hai bên mà tôi sẽ
trình bày sau đây.
Tháp thứ nhất
cách “tháp Hời”
khoảng năm trăm mét về
hướng
Tây Bắc, tọa
lạc
trên ruộng Mả Tháp, thôn Phong
Ấp.
Tháp hiện
nay vẫn còn. Tháp thứ
hai cách “tháp Hời”
khoảng năm trăm mét về
hướng
Đông Nam, tọa lạc
trên ruộng
Chùa, thôn Mỹ Hiệp.
Năm 1990, tháp vẫn
tồn tại,
nhưng
đến
nay thì tôi không rõ. Điều thú vị
hơn
là vị
trí của
hai cái tháp này cùng “tháp Hời”
ở
núi chùa tạo thành một
đường
thẳng Tây Bắc
Đông Nam. Vì thế,
các cụ mới
chắc
chắn “tháp Hời”
ở
núi chùa là một trong ba cái tháp mà người
Hời
đã xây.
Để
củng cố
ý kiến
của mình là đúng, các cụ
đã chứng
minh rằng:
1. Từ xưa
đến nay, các cụ
chưa
thấy
một
vị tiền
nhân nào của
làng hay của chùa ra cúng lễ
hay đốt
nhang cho tháp trong những ngày giỗ
hay lễ
Tết. Nếu
đây là một
tháp của tiền
nhân có công, thì chắc chắn
đã phải
có hậu duệ
dâng hương
đèn kính bái.
2. Làng Phong
Ấp có hai di tích của
người
dân Chiêm Thành. Di tích thứ
nhất
giờ là nền
của
Đình làng Phong
Ấp. Di tích thứ
hai là nền
của Miễu
làng Phong
Ấp.
Các cụ đã nghĩ rằng
có thể
ba cái tháp này nằm trong quần
thể
của hai di tích trên. Từ
đó, các cụ
mới cho rằng
tháp
ở
núi chùa trước là tháp của
người
Hời như
dân chúng thường gọi.
Vì thế,
các cụ cũng đã bác bỏ
ý kiến
cho rằng tháp đó là tháp của
ngài Minh Lượng.
Sau
kết luận
này, các cụ
đã chuyển sang nghiên cứu
về
việc Hòa Thượng
Minh Lượng
có phải đã tới
làng Phong
Ấp
và lập ra chùa Phổ
Bửu
hay không. Theo các cụ, “chùa cũ” hay “chùa sau” không phải
là chùa Phổ Bửu
do Hòa Thượng
Minh Lượng lập
ra, vì những
lập luận
sau đây:
1. Thiền sư
Minh Lượng là một
cao tăng do các Chúa Nguyễn mời
từ
Trung Hoa sang Việt Nam để
truyền
bá Phật Pháp, lập
chùa đúc chuông trấn an lòng người
những
nơi vừa
lập
ấp an dân. Như
vậy, tại
sao
ở
đây không còn một vết
tích gì của
thiền sư
và dân chúng trong vùng đều
không biết
người có công lập
chùa cũ đó tên gì.
2. Theo sử sách mà các cụ
đã biết
thì thiền sư
Minh Lượng từ
Trung Hoa sang Việt
Nam, đã qua ngã Hội An, cùng với
thiền
sư
Minh Hải.
Phạm vi hoằng
pháp của
các ngài chỉ từ
Quảng
Nam đến Bình Định.
Còn Phú Yên và Khánh Hòa thì không thấy nhắc
đến.
3. Thiền sư
Minh Lượng là người
đã truyền
tâm
ấn cho Hòa Thượng
Thiệt
Địa, không một
lý do gì một
cao đồ, một
minh sư
như Hòa Thượng Thiệt
Địa
lại dời
chùa của
thầy mình đã lập
đi nơi
khác và đặt
tên chùa trở
lại là Bửu
Phong.
4. Trong chùa có linh vị của
Hòa Thượng
Minh Lượng vì Hòa Thượng
Thiệt
Địa đã đi học
Phật
với Hòa Thượng
Minh Lượng
tại chùa Phổ
Bửu
ở một
nơi
xa xôi nào đó. Sau khi chứng
đắc, Hòa Thượng
Thiệt
Địa đã được
Hòa Thượng
Minh Lượng truyền
tâm
ấn
và cho đi khai sơn chùa mới.
Sau khi lập
ra chùa Sắc Tứ
Kim Sơn
ở Ngọc
Hội,
Nha Trang, Hòa Thượng Thiệt
Địa
đã được mời
đến
Phong
Ấp. Ngài đã dời
chùa sau ra trước,
xây chùa mới đặt
tên là Bửu
Phong. Trong lúc
ở tu tại
chùa Bửu
Phong, Hòa Thượng Thiệt
Địa
đã làm linh vị của
thầy
Tổ Minh Lượng
để
thờ nơi
Hòa Thượng Thiệt
Địa
đang hoằng pháp. Do đó, trong chùa mới
có linh vị của
Hòa Thượng
Minh Lượng.
5. Sở dĩ ngày nay chùa cúng giỗ
Hòa Thượng
Minh Lượng là vì làm theo lúc Hòa Thượng
Thiệt Địa
còn sống.
Từ
những lý do trên, các cụ
mới
kết luận
rằng
Hòa Thượng Minh Lượng
chưa
từng
đặt
chân đến làng Phong
Ấp.
Hòa Thượng
cũng đã không thể xây ra ngôi chùa, hay
ở
đó đến
khi viên tịch để
có một
cái tháp. Điều
ấy
suy ra tháp Hời
mà dân làng thường gọi
không thể
nào là tháp của thầy
Minh Lượng.
Vì thế, các cụ
đã quyết
định chỉ
trùng tu lại
tháp của thầy
Từ
Mẫn và tháp vô danh như
đã nêu. Tháp Hời còn lại,
các cụ
chỉ để
như
cũ.
C. Trùng tu lần
thứ ba:
một
Phật
tử đã sai lầm
xây lại
Tháp Hời và cho là của
ngài Minh Lượng
Đến
cuối thập
niên 80 của
thế kỷ
20, thầy
Đạt Bổn,
trụ
trì lúc bấy giờ,
đã bỏ
chùa ra đi. Không ai hương
khói cho trời
Phật, làng đã nhờ
ông Huỳnh Miễn,
một giáo viên nghỉ
hưu
về
chùa để
lo hương
khói. Một
vài năm sau, vào một buổi
trưa,
một
phóng viên báo Giác Ngộ đã đến
thăm chùa. Ông Huỳnh Miễn đã nhờ
một
cụ trong làng đọc
các linh vị
của Tổ,
các câu đối
trong chùa, và những bài thơ
trên bảo tháp của
ngài Thiệt
Địa cho phóng viên ghi chép. Sau đó,
bài viết
về chùa Bửu
Phong được
đăng trên báo Giác Ngộ. Phóng viên cũng đã nêu một
ý
ước muốn
chùa Bửu
Phong có được một
tượng
Quan Âm lộ thiên để
cảnh
sắc lại
càng đẹp
hơn.
Và ý kiến
này đã được thầy
Thiện
Trì
ở Sài Gòn đáp
ứng.
Thầy
đã cúng dường một
tượng
Quan Thế Âm cho chùa Bửu
Phong.
Cùng vào thời điểm
này, có một
gia đình
ở thị
trấn
Ninh Hòa đang đưa
chín bài vị
của gia đình họ
đến
chùa để ký linh. Sau khi nghe tin, họ
đã cho rằng: trong lúc đang cúng ký linh mà
tin Phật
Quan Âm về chùa, thì những
vong linh đó sẽ
được thành Phật.
Con rể
của gia đình này là ông Châm đã về
Phong
Ấp vận
động
một số
nông dân thành lập
Ban Hộ Tự
cho chùa. Trong số
ấy, có người
chưa
bao giờ
bước
chân tới chùa. Nắm
Ban Hộ
Tự, ông Châm đã bất
chấp
những ý kiến
đóng góp của
các bô lão trong làng. Ông đã phá rào trước
của
chùa để dựng
tượng
Quan Âm bên ngoài viên gia chùa. Nếu
nới
viên gia ra, chùa cần phải
làm đường
đi mới. Các cụ
đã phản
đối vì đường
đi mới
này sẽ đạp
trên đầu
bảo tháp của
Hòa Thượng
Thiệt Địa.
Sau khi khánh thành tượng Quan Thế
Âm, với
số tiền
còn dư
của
khách hành hương
cúng dường,
ông Châm đã tự
ý sửa chữa
một
số việc
khác trong chùa. Một lần
nữa,
bất chấp
mọi
sự phản
đối
của các bô lão, ông đã đơn
phương cho xây lại
tháp Hời, vì tháp đã bị
dân đào phá để
tìm vàng. Sau đó, ông đã rước
một
người Hoa
ở
chợ
Ninh Hòa lên để khắc
những
biểu hiện
Phật
Giáo và tên của Hòa Thượng
Minh Lượng
lên tháp
ấy. Với
những
hành động vô ý thức,
ông Châm đã biến
tháp cổ hoang phế
thành tháp của
tổ Minh Lượng.
Thật
ông đã mang tội bất
kính đối
với các tiền
nhân trong làng và người đã khai sơn
chùa Bửu Phong.
II. Phân tích về bài viết
Chùa Bửu
Phong
của
tác giả Trần
Đình Khôi và những
nhầm lần
của
tác giả về
thiền
sư
Minh Lượng
và tháp của ngài.
1. Tác giả đã kết
luận
thiền sư
Minh Lượng
đến Phong
Ấp
lập
ra chùa Phổ Bửu
và cho rằng
chùa Phổ Bửu
là chùa sau hay tiền thân của
chùa Bửu
Phong.
Tuy tác giả đã dùng nhiều
tư
liệu để
tìm ra lý lịch
của thiền
sư
Minh Lượng,
nhưng
ông chỉ
nêu ra được
hai điều sau. “Năm 1665, thiền
sư
Nguyên Thiều
Siêu Bạch
từ Trung Hoa đến
Bình Định
Đại Việt.
Có thể
thiền sư
Minh Lượng Nguyệt
Ân cùng đi theo. Năm 1687, Hòa
Thượng
Thạch
Liêm mời các cao tăng
ở
Trung Hoa sang Đại
Việt cùng chủ
trì Đại
giới đàn
ở
chùa Thiên Mụ
- Huế, theo yêu cầu
của
chúa Nguyễn Phúc Tần.
Có Thể
Hòa Thượng Minh Lượng
Nguyệt
Ân qua Đại Việt
trong đợt
này. Sau đại giới
đàng mãn, chư
sư một số
về
lại Tàu, một
số
tỏa ra vấn
du và lập
chùa hành đạo dưới
sự
bảo trợ
của
chúa Nguyễn. Như
vậy, chùa Phổ
Bửu
(tiền thân của
chùa Bửu
Phong) do vị thiền
sư
hàng chữ
Minh khai sơn,
có lẽ
được
xây dựng sớm
nhất
là vào năm 1688 tức sau đại
giới
đàn một năm.” Những
mốc
lịch sử
ông nêu ra đều
là những suy luận
“có thể,”
không thể xác thực.
Do đó, ta không thể nào chứng
minh được
Hòa Thượng Minh Lượng
có thật
sự đã qua Đại
Việt
hay đã dựng lên ngôi chùa Phổ
Bửu
tại Phong
Ấp.
Khi viết về
“Linh Vị
Tổ Khai Sơn
chùa Phổ Bửu,”
tác giả
đã khẳng định:
“Phổ
Bửu là tiền
thân của
Chùa Bửu Phong” mà không đưa
ra một chứng
cứ
nào về lịch
sử
để khẳng
định
điều đó, ngoại
trừ
câu được ghi trên linh vị:
“Tự
Tam Thập Tứ Thế Phổ Bửu Đường Thượng, Húy Thượng Minh Hạ Lượng, Nguyệt Ân Hòa Thượng.”
Câu này có nghĩa rằng: Hòa Thượng
Minh Lượng
Nguyệt Ân
ở
chùa Phổ
Bửu là người
nối
tiếp đời
thứ
34 của Thiền
Phái Lâm Tế.
Câu này đã không nói đến việc
chùa Phổ
Bửu
ở
đâu hoặc
chùa có phải là tiền
thân của
chùa Bửu Phong hay không.
Đồng
thời, không biết
căn cứ
vào tư
liệu
nào,
ở mục
“Linh Vị
Tổ Thiệt
Địa”
ông Khôi đã nhất định
rằng:
“Ngài xuất gia
ở
chùa Phổ
Bửu và thọ
giới
với ngài Minh Lượng
Nguyện
Ân,” “đã di chùa Phổ Bửu
ra phía trước
và đổi tên Phổ
Bửu
ra Bửu Phong.” Theo ông viết:
“chùa Phổ
Bửu, tiền
thân của
chùa Bửu Phong, do vị
thiền
sư
hàng chữ
Minh khai sơn,
có lẽ
được xây dựng
sớm
nhất là vào năm 1688 tức
sau đại
giới đàn một
năm.” Sau khi Hòa Thượng Minh Lượng
ra đi, chùa trở
nên khó
ở. Qua bài viết,
“Vì vậy,
làng phải vào Ngọc
Hội
chùa Kim Sơn
thỉnh
thầy Thiệt
Địa
trở lại
chùa.” “Năm 1740, ngài 30 tuổi, đang trụ
trì
ở
chùa Kim Sơn
và được
chúa Nguyễn sắc
tứ.
Có thể năm mười
năm sau đó ngài lại
được thỉnh
về
lại Phổ
Bửu.”
“Theo tác giả xứ
Trầm
Hương
thì chùa Kim Sơn là chùa xưa nhất Tỉnh,
ông phỏng
định năm xây dựng
chùa này là năm 1735.”
Dựa
vào những câu trích từ
bài viết
trên, ta có thể tóm tắc
ý của
tác giả như
sau. Hòa Thượng Minh Lượng
đến
Phong
Ấp và lập
ra Phổ
Bửu năm 1688. Năm 1710, Hòa Thượng
Thiệt Địa
ra đời,
theo học Phật
với
Hòa Thượng Minh Lượng.
Tuy tác giả
không nêu rõ Hòa Thượng Thiệt
Địa
đi theo học với
Tổ
từ năm nào, nhưng
ông đã xác định rằng
ngài đã xuất
sư
ở
chùa Phổ Bửu
và xây chùa Kim Sơn
năm 1735. Điều
này có nghĩa Hòa Thượng Thiệt
Địa
đã được Hòa Thượng
Minh Lượng
truyền tâm
ấn
và cho đi khai sơn
trước
khi Hòa Thượng
Thiệt Địa
được
25 tuổi. Được
thầy
truyền tâm
ấn
trước
khi được 25 tuổi
là một
chuyện ít nghe thấy
trong lịch
sử các vị
tổ
của Phật
giáo. Nếu
có, chắc chắc
dân trong vùng đã phải nghe được
và truyền
tụng cho nhau về
vị
thầy tài giỏi
đã có công sáng lập
chùa Phổ Bửu,
và chùa Phổ
Bửu cũng phải
là một
địa danh nổi
tiếng
trong vùng. Nhưng
tuyệt
nhiên không có, tác giả đã viết:
“Chùa cũ cất
xong chưa
được
lâu lắm thì đã dời
đi.” “Đối
với chùa Phổ
Bửu
và ngài Minh Lượng, truyền
thuyết
không nhiều lời
bởi
lẽ đã quá xưa
nên ít người nhớ
được.”
“Thỉnh thoảng
vào ngày giỗ
Tổ còn có bà con vui miệng
nhắc
lại câu nói: ‘Hồi
xưa,
nghe nói vị
thầy
ở chùa sau tài giỏi
lắm,
ông đi không ai hay biết, lúc về
cũng chẳng
ai hay!’ đại để
ăn cổ
thì nhắc lại
cái ý thán phục
người được
cúng, thực
tế họ
cũng chẳng
biết vị
thầy
xưa
là ông nào!"
Một
vị sư
trụ trì được
Chúa thỉnh
về lập
chùa để
trấn an lòng dân, có công truyền
tâm
ấn cho một
cao đồ,
và chính cao đồ đó lại
được
Chúa Nguyễn sắc
phong. Thật
là vô lý nếu Hòa Thượng
Minh Lượng
tài năng
ấy lại
đi về
không ai biết. Từ
những
lập luận
mơ
hồ
của
tác giả, nhất
là yếu
tố thời
gian, ta chỉ
có thể suy luận
rằng
Hòa Thượng Thiệt
Địa
có thể đã học
Phật
từ thầy
Minh Lượng
ở chùa Phổ
Bửu
từ một
nơi
nào đó, nhưng không thể nào kết
luận
được chùa Phổ
Bửu
chính là chùa sau hay tiền thân của
chùa Bửu
Phong.
Ý nghĩ sai lầm về
cổ
tháp.
Suy luận mông lung của
tác giả
Khi so sánh tháp Hời “vẫn
còn giữ
được những
cạnh
góc và đường nét giống
với
tháp của Hòa Thượng
Thiệt
Địa,” ông Khôi đã cho tháp Hời
đó là tháp của thầy
Minh Lượng.
Tuy nhiên, qua sự miêu tả
của
tác giả, ta thấy
hai tháp không có gì giống nhau. Chung quanh tháp Hời
“có xây lan can, tạo thành một
sân vuông, bốn
gốc có bốn
trụ,
cửa vào sân tháp hình như
quay về hướng
Đông Nam.” Trong khi đó, tháp của thầy
thiệt
Địa “hình bát giác, đỉnh
tháp trổ
hình búp sen chớm nở.
Tầng
tháp dưới cùng cao lớn
hơn
hết
hình lăng trụ
thẳng, tám góc tháp đắp
nổi
tám chân hình giống như
chân rùa. Tất cả
khối
kiến trúc đặt
trên bệ
vuông cao, khoảng 0,6m xây bằng
gạch.”
Ta không thể vô căn cứ
gọi
tháp mà người dân hay gọi
là tháp Hời
là tháp của ngài Minh Lượng.
Nếu
tháp
ấy là tháp Tổ
của
mình, thì tại sao lúc còn tại
thế,
Hòa Thượng Thiệt
Địa
không cho trùng tu hoặc khắc
bia. Hơn
nữa
trong mấy
mươi
năm trụ
trì
ở chùa Bửu
Phong, năm nào Hòa Thượng cũng giỗ
Tổ,
mà không ai nghe thấy Hòa Thượng
đi nhiễu
tháp Tổ.
Sai lầm của
các nhân chứng
Để
chứng minh tháp Hời
là tháp của
Hòa Thượng Minh Lượng,
ông Khôi đã nêu ra một vài nhân chứng.
Người
đầu tiên là một
cụ
lão người làng Thạch
Thành, lớn
hơn
tác giả
gần 40 tuổi.
Theo lời
ông kể: “Tháp này (tức
tháp Minh Lượng)
không phải tháp Hời
đâu! Lúc trước
tôi có theo thầy Hải
Tràng (chùa Sắc
Tứ Thiên Bửu)
và các thầy
khác đến xem tháp này, lúc
ấy
bia tháp còn sót vài chữ Nho. Nếu
tháp người
Chàm sao ghi chữ Nho."
Tuy nhiên, những lời
lẽ
trên không đúng sự thật.
Ngay trong bài viết của
tác giả,
ông đã nêu tháp Hời không có bia và sự
thật
mọi người
trong làng đều
biết tháp không có bia. Nếu
tháp không có bia, thì chữ Nho ghi vào đâu. Hơn
nữa,
nếu có chữ
nho, thì các cụ
nghiên cứu ngày xưa
chắc
chắn đã có thể
đọc
được những
chữ
Nho
ấy nói gì. Tuy nhiên, như
đã nói trên, sau thời gian dài nghiên cứu,
các cụ
đã không thấy gì cả.
Giả sử
trên tháp Hời có bia và trên bia tháp
ấy
vẫn còn tồn
tại
vài chữ Nho, ta cũng không thể
dựa
vào
ấy mà kết
luận
đó là tháp của ngài Minh Lượng
vì ta không biết
được những
chữ
ấy nói gì.
Tác giả lại
viết
tiếp: “Trong ký
ức
mù mờ
của vài cụ
già làng Phong
Ấp”
thì: "Hình như
tôi có nghe tháp đó là tháp của ông thầy
chùa sau!" Qua những lời
nói trên, ngay cả
nhân chứng ông Khôi đưa
ra vẫn
còn mang nhiều nghi vấn.
Cụ
chỉ nói “hình như”
thôi, chưa
hề xác định.
Vì thế,
ta cũng không thể nào khẳng
định
được đó là tháp của
ngài Minh Lượng.
Đáng buồn thay, khi viết
hồ
sơ
xin xếp
hạng di tích cho chùa, ông Khôi “có
ghi Hòa Thượng
Minh Lượng Nguyệt
Ân là người
Trung Hoa và tháp đang nêu là tháp Minh Lượng,
đến
giờ tôi vẫn
không phủ
nhận điều
đó vì tôi chỉ
kể lại
chứ
không sáng tác. Vấn đề
vừa
nêu vẫn đang tồn
nghi, rất
mong được gặp
tài liệu
xác thực!” Thật
là một
điều nghịch
lý khi ông khẳng
định một
điều
mà nhân chứng chưa
xác định
và ngay chính ông vẫn còn nghi vấn.
Thêm vào đó, ông Khôi còn ghi thêm hai sự
việc
thiếu tỉnh
giác của
những người
trong hàng ngũ xuất
gia. Sự việc
thứ
nhất là của
ni cô Chơn
Tâm. “Đến
năm 2000, ni cô Chơn
Tâm cho làm một
bia đá xanh, trên bia ghi: ‘Tự Lâm Tế Chánh
Tông, Tam Thập Tứ Thế, Khai Sơn
Bảo Phong Tự.”
Dòng thứ hai ghi: “Huy
Thành Đẳng, Thượng Minh Hạ Lượng, Hiệu Nguyệt Ân Hòa
Thượng.”
Không rõ ni cô đã căn cứ vào đâu, cô đã cho khắc
thêm cả
ngày sinh và ngày mất nữa:
“Sinh Bính Dần
Niên, Tứ Ngoạt,
Thập
Lục Nhật,
Ngọ
thời 1868. Tịch
Kỷ
Sửu Niên, Nhị
Thập
Tứ Nhật,
1769.”
Sự
việc thứ
hai là ông đã trích từ tác giả
Vũ Ngọc
Phương
của
“quyển sách Khánh Hòa, Nha Trang một
tiềm năng một
hiện
thực: ‘Chùa Bửu
Phong (Ninh Hòa) do, thiền sư
Minh Lượng Nguyệt
Ân, Trung Quốc
đời 34 tạo
dựng
năm 1683.” Tuy nhiên, chứng cứ
này đã quá sai sự
thật. Linh vị
tại
chùa đã ghi rõ là Hòa Thượng Thiệt
Địa
là tổ khai sơn
của chùa Bửu
Phong, không phải
thiền sư
Minh Lượng Nguyệt
Ân. Hơn
thế
nữa,
sau hơn
5 năm nghiên cứu,
Tỉnh Hội
Phật
Giáo Khánh Hòa đã ghi rõ Tổ
Khai Sơn
của
chùa Bửu
Phong là Hòa Thượng Thiệt
Địa
trong tập “Danh mục
các chùa trong Tỉnh”,
xuất bản
năm 1998.
Cũng từ tác giả
Vũ Ngọc
Phương,
ông Khôi đã nêu ra: “như
vậy
thì chùa Bửu Phong và chùa Thập
Tháp Di Đà xây cùng một năm rồi.
“Xin trưng
bằng
chứng?!
Hèn chi thầy Đạt
Bổn
nói với tôi: "chiếc
trống
sấm
của
chùa Thập
Tháp, chùa Bửu
Phong và chùa làng Phụng
Cang làm cùng một
thân cây; chùa Thập
Tháp phần
gốc,
chùa Bửu
Phong đoạn
giữa,
và trống
ở chùa Phụng
Cang là khúc ngọn!’”
Chỉ
căn cứ
vào truyền thuyết
về
những cái trống
trong chùa, ta không thể khẳng
định
được những
ngôi chùa
ấy
xây vào cùng khoảng thời
gian.
Ví dụ, năm 2005, chùa Hội
Ninh Hòa có chở
về hai Đại
Hồng
Chung, từ hình dáng, hoa văn, chi tiết
trên hai Đại Hồng
Chung đó đều
giống nhau, vì cùng một
lò đúc. Một
cái đã được để
tại
chùa Hội Ninh Hòa. Cái còn lại
để
tại chùa Ninh Trang. Giả
sử
200 năm về sau, có người
đến
nghiên cứu chùa Ninh Trang và nhận
thấy
cái Đại Hồng
Chung đó rất
giống với
cái
ở
chùa Hội Ninh Hòa. Vậy,
người
ấy có khẳng
định
được chùa Hội
Ninh Hòa và chùa Ninh Trang xây cất cùng một
năm không?
Tóm tắt lại,
tác giả
đã đối chiếu
nhiều
sử liệu,
căn cứ
vào linh vị, bia tháp, cộng
với
sự tham gia thực
tế
của nhiều
người để
đúc kết rằng
chùa Phổ
Bửu do Hòa Thượng
Minh Lượng
lập ra tại
Phong
Ấp
là tiền thân của
chùa Bửu
Phong. Và ngài đã có tháp thờ
ở
chùa Bửu Phong, làng Phong
Ấp.
Nhưng
kết luận
của
ông là từ sự
suy đoán mơ
hồ
qua những
tài liệu, những
ký sự
suy luận mông lung vô căn cứ
của
ông và các nhân chứng. Hơn
thế
nữa, những
điều
ông khẳng định
hoàn toàn mâu thuẫn với
ý kiến
của rất
nhiều
tri thức bô lão từ
xa xưa
trong làng và công trình nghiên cứu
của
Tỉnh Giáo Hội
Phật
Giáo Khánh Hòa như đã nêu.
Với
tấm lòng chân thành của
một
người con làng Phong
Ấp,
viết
bài này, tôi chỉ muốn
trả
lại nguyên trang sử
cho chùa Bửu
Phong. Tôi xin kết luận
theo ý kiến
của các cụ
trong làng cùng tài liệu của
Tỉnh
và Giáo Hội như
sau. Thiền sư
Minh Lượng
không có đến Phong
Ấp
để
xây chùa Phổ Bửu.
Vì vậy,
làng Phong
Ấp không có tháp của
ngài Minh Lượng.
Đồng thời,
chùa Phổ
Bửu không phải
là chùa sau hay tiền thân của
chùa Bửu
Phong. Hòa Thượng Thiệt
Địa
đã theo học Phật
từ
thiền sư
Minh Lượng tại
chùa Phổ
Bửu
ở
một
nơi
xa xôi nào đó.
Sau đó, Hòa Thượng
đã về làng Phong
Ấp,
dời
chùa sau ra trước, đặt
tên là chùa Bửu
Phong. Sự thật
ai đã dựng
nên chùa sau vẫn chưa
được biết.
“Tháp Hời”
ở núi chùa trước
là tháp của
người Chiêm Thành, nhưng
nhất
định không phải
là tháp của
ngài Minh Lượng. Đồng
thời,
qua bài viết này, tôi cũng có ba
ước
nguyện.
1. Tôi chỉ mong mọi
người tỉnh
thức tránh nhầm
lẫn để
trả lại
nguyên trạng cho tháp Hời
ở núi chùa trước.
2. Tôi xin những ai biết
rõ hơn về
thiền sư
Minh Lượng và ngài đã lập
ra chùa Phổ Bửu
ở địa
phương nào giúp chúng tôi để
vấn đề
được sáng tỏ
hơn.
3. Tôi mong những ai viết
về lịch
sử chùa Bửu
Phong hãy nghiên cứu thật
kỹ và viết
cho đúng sự thật
để tránh mang tội
với Tổ
khai sơn và các bậc
tiền nhân.
Viết
tại Portland, tháng 12, năm 2007

Huỳnh
Văn
Định
Sinh năm 1942 tại Phong
Ấp,
Ninh Hòa, Khánh Hòa.
1949 – 1963: học sinh tại
các trường:
Phong
Ấp, Mỹ
Hiệp,
Ninh Hòa,
bán công Ninh Hòa, Lê Quí Đôn, và Võ Tánh, Nha Trang.
1963 – 1967: nhân viên Nha Viễn Thông Bộ
Nội
Vụ
1967: động viên vào Thủ
Đức
1968 – 1974: phục vụ
tại
tiểu đoàn truyền
tin Sư
Đoàn 21 Bộ Binh
1974 – 1975: phục vụ
tại
Tiểu Đoàn 662/KT TTZD
1975 – 1978: học tại
đại
học đổi
đời
tại Bình Long
1979 – 1982: phục vụ
tại
xí nghiệp chế
biến
gỗ Ninh Hòa
1982 – 1996: phục vụ
cho nhà máy làm đường
kết tinh và chế
biến
rượu bia
của
ông HVD tại
Ninh Hòa
03/1996 đến nay: Định
cư
tại Portland, Oregon, Hoa Kỳ
Xem tiếp:
Phần 1 |
Phần 2 | Phần 3 |
Góp Ý Bài Viết

Hình
Ảnh
Chủa
Bửu
Phong

|