Ảnh: Dương Tấn Long

CHÙA BỬU PHONG
Trần-Đình-Khôi

Chùa Bửu Phong  - Phần 1  - Phần 2  - Phần 3  -  Bài Góp Ý    |   Các chùa khác   |   www.ninh-hoa.com

 


CHÙA BU PHONG
Góp Ý V
Bài Viết Ca Ông Trn Đình Khôi

 

 

Trong mt tình c, tôi đã đc trên trang www.ninh-hoa.com bài “Chùa Bu Phong” ca ông Trn Đình Khôi, người làng Phong p, viết. Đc qua bài này, ta thy tác gi đã c gng nêu lên s uyên bác v Pht hc, kiến trúc, xã hi, chính tr, và khoa hc đ minh chng T khai sơn chùa Bửu Phong là Hòa Thượng Minh Lượng. Đng thi, tác gi cũng đã huyn thoi hóa hai v cao tăng ca Thin Phái Lâm Tế như những nhân vt thn thông mà ít ai nghe nói đến. Tht khó mà xác đnh được đây là bài phóng tác, tham kho, hay bài viết v lch s Chùa Bu Phong. Tuy nhiên, ông đã viết rng: “chúng ta có d dàng vi nhau v nhiu vn đ nhưng về lch s thì chúng ta không th vô bng c.” Qua đây, ta có th xác đnh được đây là bài viết v lch s Chùa Bu Phong ca ông Trn Đình Khôi.

 

Vi bài viết này, tác gi đã kết lun rng:

Hòa Thượng Minh Lượng đã đến làng Phong p và lp ra chùa Ph Bu, núi sau.

Hòa Thượng Thit Đa đã hc Pht vi Hòa Thượng Minh Lượng chùa Ph Bu. Sau đó, ngài đã di chùa Ph Bu t núi chùa sau ra núi chùa trước, đi tên thành chùa Bu Phong.

Tháp c núi chùa trước mà dân làng vn gi là tháp Hi là tháp ca t Minh Lượng.

Tuy nhiên, tác gi ch nêu ra được mt vt chng duy nht còn li trong chùa là bài v ca Hòa Thượng Minh Lượng; nhng dn chng khác ch là thêu dt vô căn c và hoàn toàn trái vi ý kiến ca nhng bô lão t xưa trong làng. Vì vy, tôi viết bài này ch mong góp ý cho s vic được sáng t thêm và tr li nguyên trang s cho chùa.

 

Tôi cũng là mt con dân làng Phong p, được sinh ra và ln lên ti chân núi Chùa. Ông bà ni và ba m tôi đu đã quy y vi thy Chơn Tâm, pháp danh Nhơn Ứng, tr trì chùa t nhng năm 1940. Thi y, giếng nước nhà tôi là ngun nước duy nht cung cp cho chùa t nhng sinh hot, ăn ung, cho đến nhng xây dng nh. Chính vì thế, gia đình chúng tôi đã luôn có mt trong tt c nhng sinh hot ca chùa. Nh vy, t nh tôi đã được nghe rt nhiu chuyn k v ngun gc ca chùa cũng như chứng kiến được nhng vic tu b trong chùa. Trước khi bàn v nhng nhm ln ca tác gi, tôi xin k v ba ln sa cha trong chùa mà tôi thu hiu và đã chng kiến đ làm sáng t thêm v lch s chùa Bu Phong.

 

I. S tht v chùa

 

A. Xây dựng li chùa ln thứ nhất, năm 1953.

Tht ra năm 1953, làng Phong p đã trit h toàn b chùa cũ đ xây chùa mi ch không phi trùng tu. Trong chùa có mt tm bng đ dài khong hai mét cao sáu tc, khc ba ch Bu Phong T. Bên dòng lc khon ghi: “T Đc Nh Thp Tam Niên Tuế Th Canh Ngũ Trng Xuân Sang.” Tuy bng chùa được khc vào năm 1870, nhưng các cụ không biết tm bng này được khc vào dip nào, lúc chùa mi khai sơn, trùng tu, hay một lý do nào khác mà có bng chùa, vì trong chùa không có tài liu. Vì thế, các c đã không th kết lun được chùa đã được xây vào năm nào.

Chùa trước năm 1953 được xây theo kiu “mái chái” như đình và miễu làng. Chùa ch khác ch mt tin ca chùa t vách đến các khung ca đu làm bng g chm tr rt đp. Phía Đông và Tây được ni thêm hai vách đ làm nhà Đông và nhà Tây. Mt hu được ni thêm mt vách đ làm hu liêu cho các sư ở. Đến năm 1953, chùa b dt. Gch các vách ca nhà Đông, nhà Tây, và c hu liêu đu b mc nát. Vì thế, các c trong làng mi quyết đnh trit h toàn b ngôi chùa cũ và xây li chùa mi. Đ gi li di tích ca ngôi chùa cũ, các c đã dùng li “b lng cu,” và ngói âm dương để xây và lp li chánh đin cho ngôi chùa mi. Các c đã xây chùa theo kiu “tam quan” và kiu này vn tn ti đến nay.

 

Lý do tôi nói v vic xây dng chùa vào năm 1953 ca các c trong làng là vì tôi ch mun nêu lên s nhm ln ca tác gi Trn Đình Khôi. Theo ông, “chùa đã được trùng tu nhiu ln và ln trùng tu cui cùng vào năm 1953. Ln trùng tu này, các c đã cho thay ngói âm dương bằng ngói mc. Qua nghiên cu, chùa đã có rt xưa từ năm 1688 đến 1705, chùa xây theo kiu tam quan.” S hiu lm này ca tác gi đã sinh ra nhiu bt hòa trong làng, đng thi cũng đã gây khó khăn cho vic sư cô Chơn Hin xin giy phép đ xây ct chùa đu năm 2007.

 

B. Trùng tu thứ hai, năm 1957: nguyên nhân xây li tháp ca thy T Mn và không xây li tháp Hi núi chùa trước.

Khong đu thp niên 1950, khi thy Chơn Tâm về Hà Thanh, các c trong làng đến Phú Hòa mi ni cô Như Đạo v hương khói cho chùa. Lúc ấy, ni cô Như Đạo và các c lão trong làng đã đ c mt s c biết ch Nho và đã quy y Tam Bo như các cụ Võ Đng, Võ Văn, Trn Đt, Nguyn Đ, và Huỳnh Cương vào Ban Hộ Nim và H Trì Tam Bo, bây gi gi là Ban H T. C Võ Đng là trưởng ban. Sau chiến tranh Vit Pháp chm dt, Pht Giáo li phát trin. Ni cô Như Đạo và Ban H Trì Tam Bo đã kêu gi dân làng đóng góp mt s tin đ tu b mt s vic nh trong chùa như thay ngói âm dương bằng ngói mc, và ln xây li chùa năm 1953 đã dùng li loi ngói mc này, nhưng nay chánh đin đã b dt.

Sau đó, vì mun tu b và xây dng li các tháp ca các bc tin nhân đã có công và tu ti chùa Bu Phong, ni cô Như Đạo và Ban h Trì Tam Bo mi nghĩ ti vic nếu như chùa sau là chùa Ph Bu do Hòa Thượng Minh Lượng khai sơn, thì khi viên tịch, Ngài được an táng đâu, cn phi tìm ra và trùng tu li cho đàng hoàng, nếu không s mang ti đi vi tin nhân.

Vi kh năng có hn, ni cô và Ban H trì Tam Bo đã mi thêm các bc thc gi trong làng như các cụ Cu Tư, Cửu Tám, Phùng Tn, Giáo Mười, và c Trn Liên v chùa Bu Phong đ cùng nhau nghiên cu s vic trên. H cũng đã mi luôn c Trn Kiến Long là Trưởng ban H Trì Tam Bo ca chùa Sc T Kim Sơn làng Ngọc Hi, Nha Trang vì chùa Sc T Kim Sơn và chùa Bửu Phong có cùng T Khai Sơn là thầy Thit Đa.

 

Vào thi đó, khong năm 1957, hướng Nam ca chùa có hai cái mả vôi song song vi nhau, xung quanh được cht bng đá cui ln. Sau khi xem xét, các c mi biết rng mt trong hai cái mả vôi là ca thy T Mn, mt dân làng Phong p đã tu ti chùa Bu Phong. Các c đã cho xây li mt cái tháp ba tng cho thy T Mn.

Tuy nhiên, các c đã không th tìm được chng tích gì trên cái mả vôi th hai. Vì thế, các c đã cho rng có l mả này là ca mt v sư cùng tu tại chùa. Các c cũng cho xây mt cái tháp ging như tháp của thy T Mn, nhưng nhỏ hơn, bia tháp đề: “Hướng v hương linh có công với chùa.” Hai cái mả vôi này không có cái nào là ca Hòa thượng Minh Lượng.

Ngoài hai mả vôi trên còn mt cái tháp na núi chùa trước cũng nm hướng Nam cách chùa khong hai trăm mét trong đám gai quít chng cht. Tháp này người dân gi là “tháp Hi.” Xung quanh tháp có xây lan can to thành mt sân vuông bao bc tháp. Bn góc có bn tr. Ca vào sân tháp quay v hướng Đông Nam, được xây t đt lên, cao khong hai mét rưỡi. Tháp cao ba tng. Trên đu tháp và trên bn tr xung quanh không có tượng, hoa sen, hoc mt du vết gì biu hin ca Pht Giáo c. Phn dưới cùng, mt hướng ra ca đi vào tháp, là mt mt phng hình ch nht, trơn láng, màu trắng sa, không sn sùi như toàn bộ tháp và lan can. Trên mt hình ch nht y không có khc mt loi ch gì c. Sau này, dân tìm vàng đã đc mt trơn láng đó để tìm vàng. Tuy tháp này không ging tháp ca ngài Thit Đa, nhưng kích thước và vt liu xây dng li rt ging hai cái tháp khác hai bên mà tôi s trình bày sau đây.

 

Tháp th nht cách “tháp Hi” khong năm trăm mét v hướng Tây Bc, ta lc trên rung Mả Tháp, thôn Phong p. Tháp hin nay vn còn. Tháp th hai cách “tháp Hi” khong năm trăm mét v hướng Đông Nam, ta lc trên rung Chùa, thôn M Hip. Năm 1990, tháp vn tn ti, nhưng đến nay thì tôi không rõ. Điu thú v hơn là vị trí ca hai cái tháp này cùng “tháp Hi” núi chùa to thành mt đường thng Tây Bc Đông Nam. Vì thế, các c mi chc chn “tháp Hi” núi chùa là mt trong ba cái tháp mà người Hi đã xây.

Đ cng c ý kiến ca mình là đúng, các c đã chng minh rng:

 

1. T xưa đến nay, các c chưa thấy mt v tin nhân nào ca làng hay ca chùa ra cúng l hay đt nhang cho tháp trong nhng ngày gi hay l Tết. Nếu đây là mt tháp ca tin nhân có công, thì chc chn đã phi có hu du dâng hương đèn kính bái.

2. Làng Phong p có hai di tích ca người dân Chiêm Thành. Di tích th nht gi là nn ca Đình làng Phong p. Di tích th hai là nn ca Miu làng Phong p. Các c đã nghĩ rng có th ba cái tháp này nm trong qun th ca hai di tích trên. T đó, các c mi cho rng tháp núi chùa trước là tháp ca người Hi như dân chúng thường gi. Vì thế, các c cũng đã bác b ý kiến cho rng tháp đó là tháp ca ngài Minh Lượng.

 

Sau kết lun này, các c đã chuyn sang nghiên cu v vic Hòa Thượng Minh Lượng có phi đã ti làng Phong p và lp ra chùa Ph Bu hay không. Theo các c, “chùa cũ” hay “chùa sau” không phi là chùa Ph Bu do Hòa Thượng Minh Lượng lp ra, vì nhng lp lun sau đây:

 

1. Thin sư Minh Lượng là mt cao tăng do các Chúa Nguyn mi t Trung Hoa sang Vit Nam đ truyn bá Pht Pháp, lp chùa đúc chuông trn an lòng người nhng nơi va lp p an dân. Như vậy, ti sao đây không còn mt vết tích gì ca thin sư và dân chúng trong vùng đều không biết người có công lp chùa cũ đó tên gì.

2. Theo s sách mà các c đã biết thì thin sư Minh Lượng t Trung Hoa sang Vit Nam, đã qua ngã Hi An, cùng vi thin sư Minh Hải. Phm vi hong pháp ca các ngài ch t Qung Nam đến Bình Đnh. Còn Phú Yên và Khánh Hòa thì không thy nhc đến.

3. Thin sư Minh Lượng là người đã truyn tâm n cho Hòa Thượng Thit Đa, không mt lý do gì mt cao đ, mt minh sư như Hòa Thượng Thit Đa li di chùa ca thy mình đã lp đi nơi khác và đặt tên chùa tr li là Bu Phong.

4. Trong chùa có linh v ca Hòa Thượng Minh Lượng vì Hòa Thượng Thit Đa đã đi hc Pht vi Hòa Thượng Minh Lượng ti chùa Ph Bu mt nơi xa xôi nào đó. Sau khi chứng đc, Hòa Thượng Thit Đa đã được Hòa Thượng Minh Lượng truyn tâm n và cho đi khai sơn chùa mi. Sau khi lp ra chùa Sc T Kim Sơn Ngc Hi, Nha Trang, Hòa Thượng Thit Đa đã được mi đến Phong p. Ngài đã di chùa sau ra trước, xây chùa mi đt tên là Bu Phong. Trong lúc tu ti chùa Bu Phong, Hòa Thượng Thit Đa đã làm linh v ca thy T Minh Lượng đ th nơi Hòa Thượng Thit Đa đang hong pháp. Do đó, trong chùa mi có linh v ca Hòa Thượng Minh Lượng.

5. S dĩ ngày nay chùa cúng gi Hòa Thượng Minh Lượng là vì làm theo lúc Hòa Thượng Thit Đa còn sng.

 

T nhng lý do trên, các c mi kết lun rng Hòa Thượng Minh Lượng chưa từng đt chân đến làng Phong p. Hòa Thượng cũng đã không th xây ra ngôi chùa, hay đó đến khi viên tch đ có mt cái tháp. Điu y suy ra tháp Hi mà dân làng thường gi không th nào là tháp ca thy Minh Lượng. Vì thế, các c đã quyết đnh ch trùng tu li tháp ca thy T Mn và tháp vô danh như đã nêu. Tháp Hời còn li, các c ch đ như cũ.

 

C. Trùng tu lần thứ ba: mt Pht t đã sai lm xây li Tháp Hi và cho là ca ngài Minh Lượng

Đến cui thp niên 80 ca thế k 20, thy Đt Bn, tr trì lúc by gi, đã b chùa ra đi. Không ai hương khói cho trời Pht, làng đã nh ông Huỳnh Min, mt giáo viên ngh hưu về chùa đ lo hương khói. Một vài năm sau, vào mt bui trưa, một phóng viên báo Giác Ng đã đến thăm chùa. Ông Huỳnh Min đã nh mt c trong làng đc các linh v ca T, các câu đi trong chùa, và nhng bài thơ trên bảo tháp ca ngài Thit Đa cho phóng viên ghi chép. Sau đó, bài viết v chùa Bu Phong được đăng trên báo Giác Ng. Phóng viên cũng đã nêu mt ý ước mun chùa Bu Phong có được mt tượng Quan Âm l thiên đ cnh sc li càng đp hơn. Và ý kiến này đã được thy Thin Trì Sài Gòn đáp ng. Thy đã cúng dường mt tượng Quan Thế Âm cho chùa Bu Phong.

Cùng vào thi đim này, có mt gia đình th trn Ninh Hòa đang đưa chín bài vị ca gia đình h đến chùa đ ký linh. Sau khi nghe tin, h đã cho rng: trong lúc đang cúng ký linh mà tin Pht Quan Âm v chùa, thì nhng vong linh đó s được thành Pht. Con r ca gia đình này là ông Châm đã v Phong p vn đng mt s nông dân thành lp Ban H T cho chùa. Trong s y, có người chưa bao giờ bước chân ti chùa. Nm Ban H T, ông Châm đã bt chp nhng ý kiến đóng góp ca các bô lão trong làng. Ông đã phá rào trước ca chùa đ dng tượng Quan Âm bên ngoài viên gia chùa. Nếu ni viên gia ra, chùa cn phi làm đường đi mi. Các c đã phn đi vì đường đi mi này s đp trên đu bo tháp ca Hòa Thượng Thit Đa.

 

Sau khi khánh thành tượng Quan Thế Âm, vi s tin còn dư của khách hành hương cúng dường, ông Châm đã t ý sa cha mt s vic khác trong chùa. Mt ln na, bt chp mi s phn đi ca các bô lão, ông đã đơn phương cho xây lại tháp Hi, vì tháp đã b dân đào phá đ tìm vàng. Sau đó, ông đã rước mt người Hoa ch Ninh Hòa lên đ khc nhng biu hin Pht Giáo và tên ca Hòa Thượng Minh Lượng lên tháp y. Vi nhng hành đng vô ý thc, ông Châm đã biến tháp c hoang phế thành tháp ca t Minh Lượng. Tht ông đã mang ti bt kính đi vi các tin nhân trong làng và người đã khai sơn chùa Bửu Phong.

 

II. Phân tích v bài viết Chùa Bu Phong ca tác gi Trn Đình Khôi và nhng nhm ln ca tác gi v thin sư Minh Lượng và tháp ca ngài.

 

1. Tác gi đã kết lun thin sư Minh Lượng đến Phong p lp ra chùa Ph Bu và cho rng chùa Ph Bu là chùa sau hay tin thân ca chùa Bu Phong.

Tuy tác gi đã dùng nhiu tư liu đ tìm ra lý lch ca thin sư Minh Lượng, nhưng ông ch nêu ra được hai điu sau. “Năm 1665, thin sư Nguyên Thiu Siêu Bch t Trung Hoa đến Bình Đnh Đi Vit. Có th thin sư Minh Lượng Nguyt Ân cùng đi theo. Năm 1687, Hòa Thượng Thch Liêm mi các cao tăng Trung Hoa sang Đi Vit cùng ch trì Đi gii đàn chùa Thiên M - Huế, theo yêu cu ca chúa Nguyn Phúc Tn. Có Th Hòa Thượng Minh Lượng Nguyt Ân qua Đi Vit trong đt này. Sau đi gii đàng mãn, chư sư một s v li Tàu, mt s ta ra vn du và lp chùa hành đo dưới s bo tr ca chúa Nguyn. Như vậy, chùa Ph Bu (tin thân ca chùa Bu Phong) do v thin sư hàng chữ Minh khai sơn, có lẽ được xây dng sm nht là vào năm 1688 tc sau đi gii đàn mt năm.” Nhng mc lch s ông nêu ra đu là nhng suy lun “có th,” không th xác thc. Do đó, ta không th nào chng minh được Hòa Thượng Minh Lượng có tht s đã qua Đi Vit hay đã dng lên ngôi chùa Ph Bu ti Phong p.

 

Khi viết v “Linh V T Khai Sơn chùa Phổ Bu,” tác gi đã khng đnh: “Ph Bu là tin thân ca Chùa Bu Phong” mà không đưa ra một chng c nào v lch s đ khng đnh điu đó, ngoi tr câu được ghi trên linh v: “T Tam Thp T Thế Phổ Bu Đường Thượng, Húy Thượng Minh H Lượng, Nguyt Ân Hòa Thượng.” Câu này có nghĩa rng: Hòa Thượng Minh Lượng Nguyt Ân chùa Ph Bu là người ni tiếp đi th 34 ca Thin Phái Lâm Tế. Câu này đã không nói đến vic chùa Ph Bu đâu hoc chùa có phi là tin thân ca chùa Bu Phong hay không.

Đng thi, không biết căn c vào tư liệu nào, mc “Linh V T Thit Đa” ông Khôi đã nht đnh rng: “Ngài xut gia chùa Ph Bu và th gii vi ngài Minh Lượng Nguyn Ân,” “đã di chùa Ph Bu ra phía trước và đi tên Ph Bu ra Bu Phong.” Theo ông viết: “chùa Ph Bu, tin thân ca chùa Bu Phong, do v thin sư hàng chữ Minh khai sơn, có lẽ được xây dng sm nht là vào năm 1688 tc sau đi gii đàn mt năm.” Sau khi Hòa Thượng Minh Lượng ra đi, chùa tr nên khó . Qua bài viết, “Vì vy, làng phi vào Ngc Hi chùa Kim Sơn thỉnh thy Thit Đa tr li chùa.” “Năm 1740, ngài 30 tui, đang tr trì chùa Kim Sơn và được chúa Nguyn sc t. Có th năm mười năm sau đó ngài li được thnh v li Ph Bu.” “Theo tác gi x Trm Hương thì chùa Kim Sơn là chùa xưa nhất Tnh, ông phng đnh năm xây dng chùa này là năm 1735.”

Da vào nhng câu trích t bài viết trên, ta có th tóm tc ý ca tác gi như sau. Hòa Thượng Minh Lượng đến Phong p và lp ra Ph Bu năm 1688. Năm 1710, Hòa Thượng Thit Đa ra đi, theo hc Pht vi Hòa Thượng Minh Lượng. Tuy tác gi không nêu rõ Hòa Thượng Thit Đa đi theo hc vi T t năm nào, nhưng ông đã xác định rng ngài đã xut sư ở chùa Ph Bu và xây chùa Kim Sơn năm 1735. Điều này có nghĩa Hòa Thượng Thit Đa đã được Hòa Thượng Minh Lượng truyn tâm n và cho đi khai sơn trước khi Hòa Thượng Thit Đa được 25 tui. Được thy truyn tâm n trước khi được 25 tui là mt chuyn ít nghe thy trong lch s các v t ca Pht giáo. Nếu có, chc chc dân trong vùng đã phi nghe được và truyn tng cho nhau v v thy tài gii đã có công sáng lp chùa Ph Bu, và chùa Ph Bu cũng phi là mt đa danh ni tiếng trong vùng. Nhưng tuyệt nhiên không có, tác gi đã viết: “Chùa cũ ct xong chưa được lâu lm thì đã di đi.” “Đi vi chùa Ph Bu và ngài Minh Lượng, truyn thuyết không nhiu li bi l đã quá xưa nên ít người nh được.” “Thnh thong vào ngày gi T còn có bà con vui ming nhc li câu nói: ‘Hi xưa, nghe nói vị thy chùa sau tài gii lm, ông đi không ai hay biết, lúc v cũng chng ai hay!’ đi đ ăn c thì nhc li cái ý thán phc người được cúng, thc tế h cũng chng biết v thy xưa là ông nào!" Mt v sư trụ trì được Chúa thnh v lp chùa đ trn an lòng dân, có công truyn tâm n cho mt cao đ, và chính cao đ đó li được Chúa Nguyn sc phong. Tht là vô lý nếu Hòa Thượng Minh Lượng tài năng y li đi v không ai biết. T nhng lp lun mơ hồ ca tác gi, nht là yếu t thi gian, ta ch có th suy lun rng Hòa Thượng Thit Đa có th đã hc Pht t thy Minh Lượng chùa Ph Bu t mt nơi nào đó, nhưng không thể nào kết lun được chùa Ph Bu chính là chùa sau hay tin thân ca chùa Bu Phong.

 

Ý nghĩ sai lm v c tháp.

Suy lun mông lung ca tác gi

Khi so sánh tháp Hi “vn còn gi được nhng cnh góc và đường nét ging vi tháp ca Hòa Thượng Thit Đa,” ông Khôi đã cho tháp Hi đó là tháp ca thy Minh Lượng. Tuy nhiên, qua s miêu t ca tác gi, ta thy hai tháp không có gì ging nhau. Chung quanh tháp Hi “có xây lan can, to thành mt sân vuông, bn gc có bn tr, ca vào sân tháp hình như quay về hướng Đông Nam.” Trong khi đó, tháp ca thy thit Đa “hình bát giác, đnh tháp tr hình búp sen chm n. Tng tháp dưới cùng cao ln hơn hết hình lăng tr thng, tám góc tháp đp ni tám chân hình ging như chân rùa. Tất c khi kiến trúc đt trên b vuông cao, khong 0,6m xây bng gch.”

Ta không th vô căn c gi tháp mà người dân hay gi là tháp Hi là tháp ca ngài Minh Lượng. Nếu tháp y là tháp T ca mình, thì ti sao lúc còn ti thế, Hòa Thượng Thit Đa không cho trùng tu hoc khc bia. Hơn nữa trong my mươi năm trụ trì chùa Bu Phong, năm nào Hòa Thượng cũng gi T, mà không ai nghe thy Hòa Thượng đi nhiu tháp T.

 

Sai lm ca các nhân chng

Đ chng minh tháp Hi là tháp ca Hòa Thượng Minh Lượng, ông Khôi đã nêu ra mt vài nhân chng. Người đu tiên là mt c lão người làng Thch Thành, ln hơn tác giả gn 40 tui. Theo li ông k: “Tháp này (tc tháp Minh Lượng) không phi tháp Hi đâu! Lúc trước tôi có theo thy Hi Tràng (chùa Sc T Thiên Bu) và các thy khác đến xem tháp này, lúc y bia tháp còn sót vài ch Nho. Nếu tháp người Chàm sao ghi ch Nho."

Tuy nhiên, nhng li l trên không đúng s tht. Ngay trong bài viết ca tác gi, ông đã nêu tháp Hi không có bia và s tht mi người trong làng đu biết tháp không có bia. Nếu tháp không có bia, thì ch Nho ghi vào đâu. Hơn na, nếu có ch nho, thì các c nghiên cu ngày xưa chc chn đã có th đc được nhng ch Nho y nói gì. Tuy nhiên, như đã nói trên, sau thi gian dài nghiên cu, các c đã không thy gì c. Giả s trên tháp Hi có bia và trên bia tháp y vn còn tn ti vài ch Nho, ta cũng không th da vào y mà kết lun đó là tháp ca ngài Minh Lượng vì ta không biết được nhng ch y nói gì.

 

Tác gi li viết tiếp: “Trong ký c mù m ca vài c già làng Phong p” thì: "Hình như tôi có nghe tháp đó là tháp của ông thy chùa sau!" Qua nhng li nói trên, ngay c nhân chng ông Khôi đưa ra vn còn mang nhiu nghi vn. C ch nói “hình như” thôi, chưa h xác đnh. Vì thế, ta cũng không th nào khng đnh được đó là tháp ca ngài Minh Lượng.

Đáng bun thay, khi viết h sơ xin xếp hng di tích cho chùa, ông Khôi “có ghi Hòa Thượng Minh Lượng Nguyt Ân là người Trung Hoa và tháp đang nêu là tháp Minh Lượng, đến gi tôi vn không ph nhn điu đó vì tôi ch k li ch không sáng tác. Vn đ va nêu vn đang tn nghi, rt mong được gp tài liu xác thc!” Tht là mt điu nghch lý khi ông khng đnh mt điu mà nhân chng chưa xác đnh và ngay chính ông vn còn nghi vn.

 

Thêm vào đó, ông Khôi còn ghi thêm hai s vic thiếu tnh giác ca nhng người trong hàng ngũ xut gia. S vic th nht là ca ni cô Chơn Tâm. “Đến năm 2000, ni cô Chơn Tâm cho làm một bia đá xanh, trên bia ghi: ‘T Lâm Tế Chánh Tông, Tam Thp T Thế, Khai Sơn Bảo Phong T.” Dòng th hai ghi: “Huy Thành Đng, Thượng Minh H Lượng, Hiu Nguyt Ân Hòa Thượng.” Không rõ ni cô đã căn c vào đâu, cô đã cho khc thêm c ngày sinh và ngày mt na: “Sinh Bính Dn Niên, T Ngot, Thp Lc Nht, Ng thi 1868. Tch K Su Niên, Nh Thp T Nht, 1769.”

 

S vic th hai là ông đã trích t tác gi Vũ Ngc Phương của “quyn sách Khánh Hòa, Nha Trang mt tim năng mt hin thc: ‘Chùa Bu Phong (Ninh Hòa) do, thin sư Minh Lượng Nguyt Ân, Trung Quc đi 34 to dng năm 1683.” Tuy nhiên, chng c này đã quá sai s tht. Linh v ti chùa đã ghi rõ là Hòa Thượng Thit Đa là t khai sơn của chùa Bu Phong, không phi thin sư Minh Lượng Nguyt Ân. Hơn thế na, sau hơn 5 năm nghiên cứu, Tnh Hi Pht Giáo Khánh Hòa đã ghi rõ T Khai Sơn của chùa Bu Phong là Hòa Thượng Thit Đa trong tp “Danh mc các chùa trong Tnh”, xut bn năm 1998.

Cũng t tác gi Vũ Ngc Phương, ông Khôi đã nêu ra: “như vậy thì chùa Bu Phong và chùa Thp Tháp Di Đà xây cùng mt năm ri. “Xin trưng bằng chng?! Hèn chi thy Đt Bn nói vi tôi: "chiếc trng sm ca chùa Thp Tháp, chùa Bu Phong và chùa làng Phng Cang làm cùng mt thân cây; chùa Thp Tháp phn gc, chùa Bu Phong đon gia, và trng ở chùa Phụng Cang là khúc ngn!’” Ch căn c vào truyn thuyết v nhng cái trng trong chùa, ta không th khng đnh được nhng ngôi chùa y xây vào cùng khong thi gian.

Ví d, năm 2005, chùa Hi Ninh Hòa có ch v hai Đi Hng Chung, t hình dáng, hoa văn, chi tiết trên hai Đi Hng Chung đó đu ging nhau, vì cùng mt lò đúc. Mt cái đã được đ ti chùa Hi Ninh Hòa. Cái còn li đ ti chùa Ninh Trang. Gi s 200 năm v sau, có người đến nghiên cu chùa Ninh Trang và nhn thy cái Đi Hng Chung đó rt ging vi cái chùa Hi Ninh Hòa. Vy, người y có khng đnh được chùa Hi Ninh Hòa và chùa Ninh Trang xây ct cùng mt năm không?

 

Tóm tt li, tác gi đã đi chiếu nhiu s liu, căn c vào linh v, bia tháp, cng vi s tham gia thc tế ca nhiu người đ đúc kết rng chùa Ph Bu do Hòa Thượng Minh Lượng lp ra ti Phong p là tin thân ca chùa Bu Phong. Và ngài đã có tháp th chùa Bu Phong, làng Phong p. Nhưng kết lun ca ông là t s suy đoán mơ hồ qua nhng tài liu, nhng ký s suy lun mông lung vô căn c ca ông và các nhân chng. Hơn thế na, nhng điu ông khng đnh hoàn toàn mâu thun vi ý kiến ca rt nhiu tri thc bô lão t xa xưa trong làng và công trình nghiên cu ca Tnh Giáo Hi Pht Giáo Khánh Hòa như đã nêu.

 

Vi tm lòng chân thành ca mt người con làng Phong p, viết bài này, tôi ch mun tr li nguyên trang s cho chùa Bu Phong. Tôi xin kết lun theo ý kiến ca các c trong làng cùng tài liu ca Tnh và Giáo Hi như sau. Thiền sư Minh Lượng không có đến Phong p đ xây chùa Ph Bu. Vì vy, làng Phong p không có tháp ca ngài Minh Lượng. Đng thi, chùa Ph Bu không phi là chùa sau hay tin thân ca chùa Bu Phong. Hòa Thượng Thit Đa đã theo hc Pht t thin sư Minh Lượng ti chùa Ph Bu mt nơi xa xôi nào đó. Sau đó, Hòa Thượng đã v làng Phong p, di chùa sau ra trước, đt tên là chùa Bu Phong. S tht ai đã dng nên chùa sau vn chưa được biết. “Tháp Hi” núi chùa trước là tháp ca người Chiêm Thành, nhưng nht đnh không phi là tháp ca ngài Minh Lượng. Đng thi, qua bài viết này, tôi cũng có ba ước nguyn.

 

1. Tôi ch mong mi người tnh thc tránh nhm ln đ tr li nguyên trng cho tháp Hi núi chùa trước.

2. Tôi xin nhng ai biết rõ hơn v thin sư Minh Lượng và ngài đã lp ra chùa Ph Bu đa phương nào giúp chúng tôi đ vn đ được sáng t hơn.

3. Tôi mong nhng ai viết v lch s chùa Bu Phong hãy nghiên cu tht k và viết cho đúng s tht đ tránh mang ti vi T khai sơn và các bc tin nhân.

 

 

Viết ti Portland, tháng 12, năm 2007

 

Huỳnh Văn Đnh

 

Sinh năm 1942 ti Phong p, Ninh Hòa, Khánh Hòa.

1949 – 1963: hc sinh ti các trường: Phong p, M Hip, Ninh Hòa,
bán công Ninh Hòa, Lê Quí Đôn, và Võ Tánh, Nha Trang.

1963 – 1967: nhân viên Nha Vin Thông B Ni V

1967: đng viên vào Th Đc

1968 – 1974: phc v ti tiu đoàn truyn tin Sư Đoàn 21 B Binh

1974 – 1975: phc v ti Tiu Đoàn 662/KT TTZD

1975 – 1978: hc ti đi hc đi đi ti Bình Long

1979 – 1982: phc v ti xí nghip chế biến g Ninh Hòa

1982 – 1996: phc v cho nhà máy làm đường kết tinh và chế biến rượu bia
c
a ông HVD ti Ninh Hòa

03/1996 đến nay: Đnh cư ti Portland, Oregon, Hoa Kỳ


 

Xem tiếp:   Phần 1  |  Phần 2  |  Phần 3  |  Góp Ý Bài Viết

Hình nh Chủa Bửu Phong

Ảnh: Dương Tấn Long

Ảnh: Dương Tấn Long

Ảnh: Dương Tấn Long