Viết bởi Bác Sĩ Nguyễn Vĩ Liệt – 03/4/1994 & 01/01/2005
Đ
ời sống lành mạnh là câu
nói thường được nhắc nhở đến. Nói dễ, khó làm. Ư nghĩa của nó liên quan
đến mọi lănh vực của y học ngày nay. Cái khó của đề tài này là vấn đề t́m
ra một phương pháp hoàn hảo. Trong y học không có cái hoàn hảo 100%. Nếu
đạt đến 90% hoàn hảo cũng là một thành đạt lớn. Mục đích của tôi trong bài
này là đem kiến thức đến để mọi người có một ư niệm về cách sống.
Ở Canada, tỉ lệ tử vong do các bệnh tiểu đường, tim mạch và ung thư cao
hàng đầu trong các quốc gia tiến bộ trên thế giới. Nguyên do của sự kiện
này là ở sự ăn uống nhiều mỡ (fat) và chất bột (carbohydrates) và cách
sinh hoạt. Trong phạm vi này, tôi xin cung cấp những bằng chứng và ư kiến
để mọi người có một ư niệm về đời sống của ḿnh. Ư niệm này phải được kết
hợp kiến thức của ḿnh và kiến thức của bác sĩ gia đ́nh riêng ḿnh để đạt
đến thành quả cao như tôi đă tŕnh bày trên.
Trrước khi đi vào bằng chứng
chuyên môn, tôi xin được nhắc đến vài đặc điểm của đời sống người Việt.
Chúng ta lúc c̣n ở tại quê nhà, ta ăn nhiều cơm (carbohydrates), mỡ
(animal fat), muối, và gia vị. Xưa kia, chúng ta không có nhiều thực phẩm
như ta có hiện tại ở Mỹ và Canada. Cơm và mỡ là 2 nguồn cung cấp năng
lượng chính rẻ tiền (affordable). Muối và gia vị làm cho thực phẩm dễ ăn.
Ngoài ra, Việt Nam là một xứ nhiệt đới, nóng, và khí hậu làm chúng ta đổ
mồ hôi nhiều. Ta mất muối nhiều cho nên có nhiều nhu cầu về muối nhiều.
Khi ta di cư qua đất Bắc Mỹ, là xứ ôn đới (Mỹ) và xứ lạnh của vùng bắc cực
(Canada: xứ lạnh t́nh nồng), ta không đổ mồ hôi nhiều. Do đó, nhu cầu về
muối không c̣n nhiều nữa. Tại Bắc Mỹ, thịt rẻ hơn rau và trái cây, một
điều khó tưởng tượng cho người Việt tại quê nhà. Khi vừa định cư tại đây,
thiếu thốn về tiền bạc, nhiều người Việt ăn nhiều thịt hơn xưa. Và bệnh về
tim mạch và ung thư dần dần xuất hiện càng lúc càng nhiều!
Không có nghiă ta không nên
ăn thịt.
Đi lại ḍng lịch sử của người Việt,
tôi nhận thấy vài điều học hỏi quí giá. Theo Oxford’s Atlas of World
History xuất bản năm 2002 và The Concise Atlas of World History của tác
giả Hammond xuất bản năm 1995 & 2000, người Việt-Nam (Yue Nan) thường sống
phía nam sông Dương Tử thuộc Trung-Hoa ngày nay, cho đến Nghệ An và Hà
Tĩnh thuộc Việt-Nam ngày nay. Cách đây 10 ngàn năm, họ bắt đầu trồng trọt
cây lúa hoang có tên là lúa Leviant. Cho đến 3 ngàn năm trước Công nguyên
(cách đây 5 ngàn năm), lúa gạo (lúa Leviant) được trồng khắp phiá nam
Trung Hoa ngày nay và toàn vùng Đông Nam Á châu. Đời sống của con người
trong vùng này được hoàn toàn thay đổi. Từ săn bắn thú hoang, bắt cá, và
chăn nuôi để cung cấp thực phẩm hàng ngày, họ đổi sang trồng trọt là nguồn
thực phẩm chính. Do đó, thực phẩm của người Việt thay đổi hẳn. Từ thực
phẩm nhiều chất đạm (protein) đổi sang nhiều chất bột (carbohydrates). Có
lẽ nhiều bệnh tật đă xảy ra. Tổ tiên của chúng ta đă phát triển một cách
ăn uống để tránh bệnh tật. Từ nhỏ, mọi người đă được ông bà và cha mẹ dạy
dổ cách ăn uống. Ăn 3 bữa mỗi ngày. Ăn đúng giờ. Bữa cơm phải có cá, thịt,
rau đậuvà trái cây. Thức ăn phải có những món khác nhau. Giữa 2 bữa cơm,
nếu đói bụng, ta phải ăn lót ḷng (snacks). Tôi xin thưa đây là cũng là
cách ăn đúng cách của người b́nh thường hiện nay và cũng là cách ăn của
người bị bệnh tiểu đường loại 2 (ăn ít, ăn 6 lần, và ăn các thực phẩm khác
nhau). Tỉnh Manitoba, Canada (Winnipeg) là nơi điều trị bệnh tiểu đường có
hiệu quả nhất ở Canada theo thống kê của tờ Medical Journal, Canadian
Medical Association, số ra tháng 8 năm 2001. Các bác sĩ tại đây cho rằng
thức ăn của người Việt Nam là quân b́nh nhất (the most balance prepared
foods). Để xây dựng trên căn bản này, tôi xin cung cấp những kiến thức để
chúng ta quyết định cho ḿnh một cách ăn uống đúng cách.
Chọn thực phẩm, chúng ta cần kiến thức về thực phẩm. Căn bản ta ăn 25
Calories (kilocalories: nhưng tôi gọi Calories cho dễ) cho mỗi kí lô cân
nặng của cơ thể. Ví dụ 1 người nặng 70 kg. Người này phải cần ít nhất là
25x70=1750 Calories là năng lượng tối thiểu cần cho cơ thể trong môi
trường lạnh như ở Bắc Mỹ xử dụng mỗi ngày. Có nghĩa ta chỉ nằm yên một chỗ
và không cử động. Dựa trên
một người 70 kg (Cách tính này có thể không chính xác cho
người Việt c̣n tại Việt Nam)
Nếu chúng ta có đời sống thụ động (sedentary
life style: không nên!), chúng ta thêm vào đó 400-800 Calories mỗi ngày.
Hoạt động nhẹ (light activities), thêm
800-1,200 Calories.
Hoạt động tương đối tích cực (moderate activities) như đi bộ nhiều
và khiêng vác thường xuyên cần ăn thêm 1,200 - 1,800 Calories mỗi ngày.
Làm việc nặng nhọc như xây dựng (construction) và những lực sĩ
(athletic works) hao tổn nhiều năng lượng, vào khoảng 1,800-4,500
Calories mỗi ngày.
Tổ chức Y-Tế Quốc-Tế đề nghị một người đàn bà có thai cần thêm 150
Calories trong 3 tháng đầu và 350 Calories trong những tháng kế tiếp
ngoài những số lượng tôi vừa đề cập trên.
Tổng số lượng thực phẩm chia theo những thành phần sau:
- 20-25% mỡ và dầu (1/2 mỡ động vật +1/2
dầu thực vật): 1 gram cho 9 Calories
- 15-20% chất đạm (proteins) =1/3 đạm từ thịt,
1/3 đạm từ cá, 1/3 đạm thực vật: 1 gram cho 4 Calories
- 45-55% chất bột (carbohydrates) như cơm,
bún, ḿ, khoai… 1 gram cho 4 Calories.
Nếu chúng ta ăn ít hơn 0.35 gram chất đạm (proteins) cho mỗi kí lô cân
nặng của cơ thể, cơ thể của ta bắt đầu dùng chất đạm của cơ thể để xử dụng
trong việc biến dưỡng căn bản (basic metabolism). Kết qủa là các bắp thịt
của chúng ta bị teo lại và chúng ta có thể bị bệnh về biến dưỡng. Trung
b́nh, chúng ta có thể ăn 1 gram chất đạm cho mỗi kí lô cân nặng là an toàn
nhất. Chúng ta nên cẩn thận, 1 gram thịt không có nghĩa là 1 gram chất đạm.
Sau đây là bản cho ta biết thành phần chất đạm, mỡ, và chất bột trong
thức ăn:
THỰC PHẪM %
% %
SỐ CALORIES
CHẤT ĐẠM DẦU&MỠ CHẤT BỘT
TRONG 100 GRAMS
Táo (apple) 0.3
0.4 14.9
64
Măng tây 2.2
0.2 3.9
26
(asparagus)
Bacon, fat 6.2
76.0 0.7
712
nướng
.0 55.0
1.0
599
Thịt ḅ,
17.5 22.0
1.0
268
medium
Beet, tươi 1.6
0.1 9.6
46
Bánh ḿ trắng 9.0
3.6 49.8
268
Bơ (butter) 0.6
81.0 0.4
733
Bắp cải (cabbage) 1.4
0.2 5.3
29
Cà-rốt (carrot) 1.2
0.3 9.3
45
Cashew nuts 19.6
47.2 26.4
609
Phô-ma
23.9 32.3
1.7
393
(cheese, cheddar)
Gà,
21.6 2.7
1.0
111
những phần ăn được
Chocolate
(5.5) 52.9
(18.0)
570
Bắp, nguyên trái 10.0
4.3 73.4
372
Cá haddock 17.2
0.3 0.5
72
Cừu, đùi (mỡ vừa) 18.0
17.5 1.0
230
Sữa tươi (whole milk) 3.5
3.9 4.9
69
Đường mật
0.0 0.0
(60.0)
240
(molasse, medium)
Oakmeal
14.2 7.4
68.2
396
(dry, uncooked)
Trái cam
0.9 0.2
11.2
50
(Orange)
Đậu phọng
26.9 44.2
23.6
600
Đậu (peas, fresh) 6.7
0.4 17.7
101
Thịt heo
15.2 31.0
1.0
340
(Ham, medium)
Khoai tây
2.0 0.1
19.1
85
Spinach
2.3 0.3
3.2
25
Strawberries
0.8 0.6
8.1
41
Cà chua
1.0 0.3
4.0
23
Cá tuna hộp 24.2
10.8 0.5
194
Walnuts, English 15.0
64.4 15.6
702
Làm sao để ăn uống quân b́nh mỗi ngày?
Tôi xin đề cập đến cách ăn uống được đề nghị bởi Health&Welfare of
Canada (Guide To Healthy Eating of Health and Welfare Canada). Thói quen
ăn uống của chúng ta nên căn cứ vào những nguyên tắc sau đây:
- Thưởng thức nhiều loại thực phẩm khác nhau mỗi ngày
- Nên ăn nhiều các loại mễ cốc như cơm, ḿ, bánh ḿ, bún… và rau với
trái cây
- Chọn những sản phẩm từ sữa có it chất mỡ như skim milk, 1% or 2%
milk. Khi nấu nướng tránh mỡ (learner meat) tối đa.
- Cố gắng giữ cân nặng cơ thể ở mức lư tưởng bằng cách tập thể dục hay
những hoạt động về thể lực và ăn uống quân b́nh.
- Giới hạn bia rượu, muối, và chất caffein (cà-phê, trà, và coke,
pepsi…)
Chúng ta không bỏ những thức ăn mà ta thích, nhưng ta ăn nhiều loại
khác nhau một cách vừa phải. 4 nhóm thực phẩm chính sẽ cung cấp đầy đủ
chất dinh dưỡng cho cơ thể của chúng ta mỗi ngày. Tôi xin nêu ra sau đây:
- Các loại mễ cốc (grain)
chứa chất đạm (protein), chất bột (carbohydrate), chất sợi (fiber),
sinh tố (vitamins) như thiamin, riboflavin, niacin, và folic acid, và
khoáng chất như chất sắt, kẽm và magnesium.
- Cơ thể của chúng ta có thể lấy được các chất
:
chất ngọt (carbohydrate), chất sợi, thiamin, folic acid, vitamin C,
vitamin A, chất sắt, và magnesium từ
nhóm trái cây và rau.
- Những thực phẩm làm từ sữa (dairy products)
chứa rất nhiều chất đạm, mỡ,
riboflavin, vitamin B12, vitamin A, vitamin D, calcium, chất kẽm (zinc),
và magnesium.
- Chúng ta có thể t́m thấy chất
đạm, mỡ,thiamin, riboflavin, folic acid, vitamin B12, chất sắt (iron),
kẽm, và magnesium trong thịt và cá.
Có nghĩa là cơ thể ta cần những
chất vừa kể trên. Có nhiều loại khác nhau trong cùng mỗi nhóm thực phẩm
vừa kể. Chúng ta chọn những thứ nào hợp khẩu vị của mỗi người. Ngoài ra,
có những nhóm thực phẩm khác nữa không thuộc vào 4 nhóm trên:
Những thực chỉ có nhiều dầu và mỡ
bơ (butter), margarine, dầu nấu ăn và mỡ động vật.
Những thực phẩm chứa đường như
jam, mật ong, syrup, và kẹo.
Những thực phẩm chứa nhiều dầu mỡ
hay muối (snack foods) như potato chip hay corn chip hay pretzels (bột ở
trong và muối bên ngoài)
Thực phẩm để giải khát như nước,
trà, cà-phê, rượu, và nước ngọt (soft drinks)
Herbs, gia vị, và những loại khác
như đồ chua (pickles), mù-tạt (mustard) và ketchup
Những nhóm thực phẩm này làm cho khẩu vị ngon hơn nhưng chúng không làm
thay đổi thành phần. Chúng chứa nhiều một vài loại thành phần nhưng lại
thiếu những thành phần khác.
Làm thế nào để chọn
thực phẩm hàng ngày?
Như tôi đă tŕnh bày trên đây, ta chọn nhiều loại thực phẩm khác nhau.
Chọn từ 4 nhóm thực phẩm chính trước. Sau đó, ta chọn những nhóm thực phẩm
khác.
Chọn những thực phẩm ít mỡ thường xuyên.
Mọi người cần 20-25% dầu mỡ nhưng người dân Canada và Mỹ ăn rất
nhiều mỡ hơn là cơ thể cần. Kết quả là tỉ lệ tử vong do bệnh tim mạch cao.
Những nước c̣n nghèo như Trung hoa, Việt Nam, Lào, Kampuchia, Philippine…
đa số người dân có thành phần cholesterols trong máu thấp hay b́nh thường.
Bởi v́ họ ăn nhiều rau, trái cây, mễ cốc, các loại đậu, lentils, cá, thịt
gà vịt, và nhiều dầu mỡ nhưng họ hoạt động bằng tay chân nhiều. Thế hệ
người Việt tại Mỹ và Canada đầu tiên có lượng cholesterol trong máu thấp.
Nhưng sau 20 năm, số lượng cholesterol của họ sẽ lên cao và con cháu của
họ lại có số lượng cholesterol trong máu càng cao hơn. Sau hơn ¼ thế kỷ
định cư tại Bắc Mỹ, người Việt chết về bệnh tim mạch không khác ǵ những
người sanh đẻ tại đây.
Những thực phẩm từ mễ cốc (whole grain and enriched products)
như wheat, oats, barley hay rye có
nhiều chất bột và sợi (starch and fiber). Những thực phẩm như
multigrain-breads, pumpernickle bagel, enriched pasta, gạo lức,
ready-to-eat bran cereals và oatmeal, chúng ta nên ăn thường xuyên.
Những rau cải xanh đậm (dark greens), rau cải có màu cam (orange
color) và những trái cây có màu cam
có nhiều những yếu tố dinh dưỡng như vitamin A và folic acid
hơn những loại rau cải và trái cây khác. Những rau cải và trái cây chúng
ta nên chọn trước như salads, broccoli, spinach, squash, sweet potatoes,
carrot, cantaloups hay orange juice.
Ngoài việc cung cấp những thành phần dinh dưỡng, những thực phẩm nhiều
chất sợi như mễ cốc, rau, và trái cây giúp chúng ta
ngừa ung thư ruột già và
ung thư vú
khi tuổi đời lên đến 70 tuổi. Theo nhiều khảo cứu, cơ hội ruột
già bị nhiễm trùng và những chất thải làm gia tăng cơ hội bị ung thư ruột
già. Và cũng nhiều cuộc khảo cứu cho thấy mỡ động vật có nhiều saturated
fat có liên quan đến sự gia tăng ung thư ruột già. Có thể chất sợi giúp
giảm tỉ lệ ung thư ruột già nhưng vẫn chưa được xác định chắc chắn. Có lẽ
chất sợi làm loăng và bám vào những chất gây ra ung thư trong ḷng ruột
già, thay đổi các loại vi trùng sống cộng sinh, và acid hóa trong ḷng
ruột già bằng những short-chain fatty acids. Ngoài ra những chất chứa
trong rau cải như brussel sprout (giá), broccoli, cabbage, và cauliflower
chứa những chất như indoles, và aromatic isothiocyanates. Indole tăng sự
hoạt động của microsomal monơxygenase oxydase. Một phân hóa tố ngừa sự
phát triển của ung thư phổi và vú. Aromatic isothiocyanates giúp gia tăng
phân hoá tố glucothione-S-transferase. Phân hoá tố này giúp ngăn ngừa các
loại ung thư gây bởi các chất hydrocyclic aromatic hydrocarbons. Tiền sinh
tố A, betacarotene có trong carrot ngừa ung thư vú. Khi betacarotene v ào
trong cơ thể và biến thành vitamin A. Chính vitamin A có tác dụng ngừa ung
thư da, phổi, thực quản, bọng đái, và cổ tử cung. Nhưng uống nhiều vitamin
A cũng gây ra những bệnh đau.
Những sữa ít mỡ
vẫn c̣n rất nhiều chất đạm và calcium là những chất căn bản cho
một bữa ăn tốt. Khi mua sữa, ta nh́n nhăn hiệu ghi "low % MF (milk fat)"
hay "low % BF (butter fat)". Nếu ta có cholesterol trong máu cao hoặc muốn
xuống cân, sữa ít mỡ rất quan trọng trong thực phẩm hàng ngày. Nếu chúng
ta ăn mỡ nhiều, cholesterol không làm nghẽn mạch máu tức th́. Cholesterol
đóng trong thành mạch máu lâu ngày và làm nghẹt. Nhồi máu cơ tim (heart
attack) xăy ra. Mỡ đóng trong thành mạch của tim sẽ không cho triệu chứng
cho đến khi ḷng mạch máu nghẹt đến 90%, ta sẽ có triệu chứng đau ngực
(chest pain/angina). Mỡ bắt đầu đóng trong thành mạch lúc ta bắt đầu biết
ăn những thực phẩm trên bàn. Cho nên, chúng ta phải ăn những thực phẩm
càng ít mỡ càng tốt; và bắt đầu cách ăn này càng sớm càng tốt. Ngoài ra,
người dân của những quốc gia có dinh dưỡng 20-25% mỡ có tỉ lệ ung thư thấp
hơn những quốc gia như Canada và Mỹ có 30-35% mỡ trong dinh dưỡng.
Do đó, một điều quan
trọng là giảm mỡ trong thực phẩm ngay bây giờ.
Tất cả các loại thịt đều có mỡ với số lượng khác nhau.
Nếu chúng ta hoàn toàn tránh mỡ, chúng ta sẽ thiếu chất đạm trầm trọng.
Chất đạm rất cần thiết cho cơ thể. Những thịt ít mỡ như thịt gà bỏ da hoặc
cá và đồ biển có rất nhiều ở những xứ giàu như Mỹ và Canada. Điều quan
trọng là giảm mỡ nhưng không giảm những chất cần thiết cho cơ thể. Chúng
ta thực hiện điều này bằng cách cắt tất cả mỡ thấy được khi ta làm cơm.
Nướng, thui, quay (roasting), và dùng microwaves là những phương pháp nấu
nướng thường xuyên. Ít dùng chiên xào là cách nấu ăn. Nhiều người thích ăn
những món chiên xào, nên dùng dầu thực vật và "gà chạy bộ" (free range
chicken) hay wild fish. Một cách khác để giảm mỡ là ăn nhiều rau, đậu, và
trái cây.
Nước lả là loại giải khác thường xuyên khi ta hoạt động nhiều, nhất là
vào mùa hè. Đàn ông cũng như đàn bà từ 18-50 tuổi, uống bia hay rượu không
nên quá 1 lần mỗi ngày. Uống một lần có nghĩa là 350 ml bia (5-6% chất
rượu), hoặc 150 ml rượu nho (wine với 11-13% chất rượu/alcohol), hoặc 50
ml rượu mạnh như whisky hay cognac (40-45% chất rượu). Uống 4 lần trong
một dịp vui hay 14 lần trong 1 tuần là có hại cho sức khỏe.
Những người có thai hay cho
con bú hay những người đă từng nghiện rượu không nên uống rượu lần nào cả.
Theo ư kiến của tôi, ta chỉ uống
rượu khi có tiệc tùng và không nên uống quá 1-2 lần trong một bữa tiệc.
Caffein có trong cà-phê, trà, Coke, Pepsi, hoặc colas, chocolate, cocoa,
vài loại thuốc cảm, vài loại thuốc nhức đầu chỉ nên dùng ít và không nên
dùng vào ban đêm. Caffein là loại kích thích thần kinh. Nó gia tăng nhịp
tim và lượng nước tiểu. Nếu ta có bệnh tim hoặc bệnh mất ngủ, chúng ta
không nên dùng chất caffein.
Sau đây là bảng thống kê số lượng thực phẩm và số năng lượng của chúng:
THỰC PHẪM
SỐ LƯỢNG
CALORIES
Táo (Apple)
1 trái (3/lb)
80
Thực phẩm cho em bé
Vegetables, fruits
4 3/4 oz
113-207
Meat (thịt)
3 1/2 oz jar
99-136
Bacon, cooked
1/4 lb (cân anh)
215
Beans, green, cooked 1 cup (tách)
35
Thịt ḅ (Beef)
Sirloin steak, cooked 1/2 lb (cân
anh) 596
Thịt ḅ xay, ít mỡ(lean), 1/2 lb (cân anh)
497
nấu chín
Nước giải khát
Cola
12-oz-can (lon)
144
Gingerale, sweet mixers 12-oz-can (lon)
113
40% bran flakes
1 cup (tách)
106
Bánh ḿ (Bread)
White
1 slice, regular (1 lát) 63-74
Whole wheat
1 slice, regular (1 lát) 56-61
Rye
1 slice, regular (1 lát)
61
Bơ và ma-ga-rin
1 tbs (muổng canh)
322
(Butter or margarine)
Cake
Chocolate, 1 piece, 3
x 3 x 2 in.(7.5x7.5x5cm) 322
no
icing
White,
1 piece, 3 x 3 x 2 in. .(7.5x7.5x5cm) 453
with chocolate icing
Kẹo (Candy)
Chocolate
1 oz
135-144
Chocolate with nuts
1 oz
159
Cà-rốt (Carrot )
1 củ
30
Phô-ma (Cheese)
Cheddar
1 slice (1 lát)
96
American
1 oz
113
Cottage (regular)
1 oz
30
Swiss
1 slice (1 lát)
130
Gà
nướng
1 lb (cân Anh)
273
chiên
1 lb (cân Anh)
565
1/2 ức
160
1 đùi
122
Bánh cookies
Brownies
1 (1 cái)
97
Chocolate chip 1 (1 cái)
52
Sugar
1 (1 cái)
46
Bắp, luộc
1 trái
70
Bánh crackers
Saltines
1 cái
12
Graham
1 cái
62
THỰC PHẪM
SỐ LƯỢNG
CALORIES
Bánh doughnuts
Raised
1 cái
176
Cake
1 cái
164
Trứng
thật lớn,
chiên
1 cái
112
Dầu nấu ăn
1 muổng canh
111-120
Bưởi
1 trái
80-132
Ice cream
Regular
1 cup (tách)
257
Frozen custard
1 cup (tách)
334
Rich (16% fat)
1 cup (tách)
329
Jam
1 muổng canh
54
Sữa
Whole
1 cup (tách)
159
Skim
1 cup (tách)
88
Low fat
1 cup (tách)
145
Noodles, egg
4 oz
440
Trái cam
Navel
1
45-87
Juice
1 cup
112-122
Pastry, Danish
1 cái bề ngang 1 tất
274
Đậu phọng không vỏ
1 oz
166
Peanut butter
1 muổng canh
94
Peas, canned (đậu hộp) 1 cup (tách)
142
Pies (bánh nấu)
Fresh, banana 1 31/2-in piece (2.5cmx10cm) 253
Fresh, pecan
(1/8 pie) 1/8 bánh
431
Pies
Frozen
1 31/2-in piece (2.5cmx10cm) 187-282
(1/8 pie) 1/8 bánh
Pizza
Homemade, cheese 1/8 12" pie (1/8 của bánh
30cm) 153
Frozen, cheese 1/8
12" pie (1/8 của bánh 30cm) 139
Ham, roasted or baked 1/2 lb (cân Anh)
848
Pork chops, lean
1/2 lb (cân Anh)
442
Potatoes (khoai tây)
Boiled with skin (luộc cả vỏ) 1 một củ
173
Boiled without skin (gọt vỏ và luộc) 1 một củ
122
French fried (chiên) 1 0 4 -in strips
(10x10cm) 214
Chips (sắc mơng và chiên) 10 chips (miếng)
114
Rice, white, cooked
1/4 cup (tách)
56
(gạo trắng nấu cơm)
THỰC PHẪM
SỐ LƯỢNG
CALORIES
Salad dressing, Italian 1 muổng
canh
83
(nước sốt cho rau sà-lách)
Salmon (cá hồi)
Fresh, broiled (nấu canh hay kho) 1/2 lb (cân anh) 364
Canned
1/2 lb (cân anh)
320-477
Sausage
Bologna
1 slice (1 lát)
67-86
Hot dogs, cooked
1 cái
134-170
Pork, cooked
1 link (1 cái)
62
Salami 1 slice (1 lát) 66-88
Spaghetti, cooked, from 2 1/2 oz dry 1/4 lb (cân anh) 168
Sugar, granulated
1 muổng nhỏ 15
1 cup (tách) 770
Tuna, canned
7 oz 570
Khi chúng ta đọc Food Guide, chúng ta thường thấy chữ "serving"
- Bánh ḿ: 1 lát=I serving. 1 bagel hay pita hay
bun=2 servings
- Thịt và cá, số lượng của 1 serving tùy theo
tuổi: 1 serving của cá, thịt và thịt gà cho trẻ con là 50 grams nhưng ở
người lớn là 100 grams
- 1 serving cho sữa và thực phẩm chế biến từ sữa
là 1 tách sữa, 50 grams phô-ma (cheese), ¾ tách ya-ua (yogurt).
- 1 serving của trái cây là 1 trái không to
không nhỏ quá. 1 serving của salad=1 tách (cup) rau.
Chúng ta cần 6-12 serving mễ cốc (grain), 7-10 serving rau và trái cây,
2-4 serving của sữa và thực phẩm chế biến từ sữa, 2-3 serving của cá và
thịt hay đậu trong 1 ngày. Người đàn bà có thai hoặc cho con bú cần thêm
1-2 serving mỗi ngày. Những loại thực phẩm khác có nhiều mỡ hay calories,
ta chỉ dùng vừa phải để thức ăn thêm mùi vị cho dễ ăn thôi.
Vitamins chỉ uống khi chúng ta ăn không đầy đủ. Mùa đông, chúng ta có
thể uống thêm vitamins A, D, và C (ở Bắc Mỹ và xứ lạnh thôi). Người già
nên uống 1 viên multivitamins mỗi ngày trong mùa đông v́ không có nhiều đồ
ăn tươi. Muốn uống vitamins, ta nên hỏi bác sĩ th́ hơn. Nếu lạm dụng
vitamins cũng gây ra nhiều vấn đề sức khỏe không tốt.
Muối dùng để ăn thường gọi là
sodium chlorides. B́nh thường cơ thể của ta có thể thải muối ra ngoài qua
thận. Trong trường hợp cao huyết áp và nhất là suy thận, chúng ta không
nên ăn muối nhiều. Có người sẽ hỏi: ở Việt Nam, tôi ăn nhiều muối có làm
sao đâu mà bác sĩ lo? Đúng! Khí hậu ở Việt Nam nóng. Những người đổ mồ hôi
nhiều sẽ mất nhiều muối nên họ ăn thêm muối để cho cơ thể xử dụng nhưng
khi người bị cao áp huyết hay suy thận, ta nên hỏi bác sĩ số lượng muối
cần cho cơ thể người bệnh. Ở Bắc Mỹ, chúng ta nên tập cho trẻ con ăn ít
muối. V́ lúc c̣n trẻ, thận của ta có thể lọc muối dư trong cơ thể ra. Khi
tuổi của chúng ta lên đến trên 70, thận làm việc yếu và muối tích tụ nhiều.
Ngoài ra, người lớn tuổi thường bị bệnh cao áp huyết và suy thận. Nếu ăn
ít muối từ lúc trẻ sẽ có lợi cho lúc già. Như vậy, ăn ít muối là điều tốt
cho mọi người. Chúng ta có thể theo những nguyên tắc của Canada Food Guide
như sau:
- - Ăn ít những thực phẩm ăn chơi có nhiều muối
(highly salted snacks)
- - Khi đi chợ, nên đọc thành phần dinh dưỡng
trong nhản hiệu
- - Chọn những thực phẩm không có muối hoặc ít
muối hay chất sodium.
- - Dùng ít nước mắm, nước tương, hay muối tại
bàn ăn hay lúc nấu nướng.
- - Nếm đồ ăn trước khi nêm.
- - Thay v́ dùng muối, dùng chanh, gia vị hay
herbs.
Dán Food Guide trên tủ lạnh
(Canadian Food Guide ở những Clinic của chính phủ, bệnh viện hay y tá cộng
đồng /public health nurses hay welfare hay gọi cơ quan y tế của chính phủ).
Trước khi đi chợ, ngồi tính số lượng thực phẩm cho 1 tuần (tính lúc không
đói không no) ở nhà để tránh mua quá nhiều hoặc quá ít. Tại chợ, nhớ đọc
nhăn hiệu về những chất dinh dưỡng. Mua những ǵ ta cần, không mua những
ǵ ta muốn! Ở tại nhà hàng ăn, ta phải hỏi cho kỹ thành phần thực phẩm nếu
ta không biết rơ. Nếu ăn theo Food Guide, chúng ta sẽ có 1,800- 3,000
Calories mỗi ngày (cho người 70 kg). Điều quan trọng là ta ăn mỗi lần ít
và ăn nhiều lần sẽ không bị mập. Nhưng ta ăn ít lần và ăn nhiều trong 1
bữa ăn sẽ mau mập. Điều này tôi sẽ cắt nghĩa trong bài bệnh tiểu đường
loại 2.
Ngoài ra, ăn uống đầy đủ mà không tập thể dục th́ cũng chưa gọi là khỏe
mạnh. Đời sống tiện nghi làm ta mất đi nhiều hoạt động bằng tay chân. Tập
thể dục giúp bảo tŕ khoáng chất trong xương (minerals), giữ sức mạnh lâu
dài, giảm cholesterols trong máu đưa đến giảm nhồi máu cơ tim (heart
attack) và tai biến mạch máu năo (stroke), tăng sức dẻo dai, cảm thấy khỏe
trong người và tốt cho chuyện chăn gối, trị và ngừa bệnh tật.
Tại Sao Ta Phải Tập Thể dục:
Tiến sĩ Andrea M. Kriska của đại học Pittsburg, Pennsylvania cùng với
các bác sĩ và tiến sĩ của các đại học Boston, Phoenix, Victoria (Úc),
Newcastle upon Tyne (Anh), bộ y tế của đảo Mauritius và các cơ quan pḥng
dịch (CDC) tại Atlanta (Mỹ) đă làm cuộc khảo cứu về bệnh tiểu đường của
người thổ dân Pima tại Gila River Indian Community thuộc tiểu bang Arizona
vào năm 1987, và cuộc khảo cứu tương tự về người dân đảo Mauritius gần đảo
Madagasca thuộc Phi Châu vào năm 1992.
Kết quả cho thấy sự khác biệt về số người bị mắc bệnh tiểu đường của 2
nhóm nói trên. Người thổ dân Pima có tỉ lệ những người mập nhiều hơn, và
họ ít có những hoạt động hàng ngày. Số lượng insulin trong máu của những
người thổ dân này cao hơn người ở đảo Mauritius và họ bị bệnh tiểu đường
nhiều hơn. Trái lại người ở đảo Mauritius hoạt động nhiều hơn và có số
lượng insulin trong máu thấp hơn và có tỉ lệ bệnh tiểu đường thấp hơn. Hai
cuộc khảo cứu trên đă chứng minh rằng sự hoạt động bằng chân tay làm giảm
sự phát triển của bệnh tiểu đường. Sở dĩ tôi nói đến bệnh tiểu đường v́
người Việt có tỉ lệ 30-50% bệnh tiểu đường khi tuổi cao hơn 65 tuổi. Bệnh
tiểu đường liên quan đến sự ăn uống và đời sống thụ động. Và những bệnh
như nhồi máu cơ tim (heart attack), tai biến mạch máu nảo, mù mắt, cưa
chân… đều là biến chứng của bệnh tiểu đường.
Nhà khoa học Hurley và các cộng sự
viên (textbook of sport injuries) đă chứng minh điều này trên thực tế qua
một cuộc thử nghiệm sau:
- Giai đoạn 1: Đo lượng đường và mỡ trong bắp thịt của 9 người
đàn ông sau 12 tuần lể giảm khẩu phần thực phẩm tới mức độ mà 9 người này
vẫn c̣n khỏe mạnh.
- Giai đoạn 2: Huấn luyện 9 người này trong các bộ môn thể thao
và cho ăn uống đầy đủ. Sau 12 tuần lể, ông Hurley ghi nhận rằng sự biến
dưỡng đường và tiêu thụ mỡ triglycerides tăng lên gấp 2 lần b́nh thường.
Điều này cho thấy rằng việc tập thể dục thể thao giúp cơ thể giảm đường và
mỡ trong máu và bắp thịt, nhanh hơn là chỉ giảm khẩu phần ăn uống.
Tập thể dục hay hoạt động có thể
chia ra làm 3 mức độ khác nhau:
Tập nhẹ (light activities): những hoạt động làm tăng nhịp tim rất ít,
không làm tăng huyết áp ngoại trừ tập trên 10 phút. Những hoạt động như
làm việc nhà nhẹ, đi bộ chậm rải (dưới 2 cây số/giờ), tập thái cực quyền
(Tai Chi), vận động tay lúc đang ngồi trên ghế, đánh golf dùng xe tự động,
tập thể dục trong hồ tắm (aquatic exercises)…
Tập thể dục vừa phải (moderate exercises): những hoạt động làm hơi thở của
ta nặng nề hơn, nhịp tim hơi tăng khoảng trên 100 nhịp mỗi phút. Những
hoạt động này như đạp xe đạp 8,8 cây số một giờ, đi bộ 5 cây số một giờ,
chơi golf và tự ḿnh mang đồ nghề của ḿnh và đẩy xe (golf cart) không có
máy tự động, chèo ghe (rowling) 4 cây số một giờ, bơi (swim) 400 mét mỗi
giờ, đánh tennis đôi (doubles tennis)…
Tập thể dục thật tích cực (strenous exercises): những vận động hết sức
ḿnh hoặc thật nặng nề làm ta thở hổn hển, thở nhanh, nhịp tim gia tăng từ
120-160 nhịp mỗi phút. Những hoạt động này như khiêu vũ thật tích cực
(vigorous dancing), đạp xe đạp 16 cây số mỗi giờ (bicycling), chẻ củi hay
cưa cây, chạy chậm (jogging) 8 cây số một giờ, chơi tennis đơn (single
tennis), hay leo đồi 30 mét mỗi giờ (hill climbing)…
Trước khi bắt đầu chương tŕnh thể
dục, tất cả mọi người đều phải được bác sĩ khám tổng quát (general
check-up) và thảo luận với bác sĩ gia đ́nh hay bác sĩ chuyên khoa về bệnh
đau của họ. Có những vấn đề nghiêm trọng có thể xảy ra trong lúc tập thể
dục như sau:
- Đường trong máu xuống thấp hoặc chóng mặt xây xẫm. Nếu gặp những
trường hợp này, ta phải ngừng tập ngay. Gặp bác sĩ của ḿnh hỏi ư kiến.
- Ăn nhẹ: như 1-2 lát bánh ḿ hoặc 1 chén oak meal, hoặc một quả táo
(apple) hay chuối, hoặc 1 chén cháo… Nói chung là ăn chất ngọt hay chất
bột (carbohydrate) hay trái cây trước khi tập thể dục. Sở dỉ tôi nhấn
mạnh chử ăn nhẹlà v́ ăn nhiều người bệnh mệt không tập thể dục được. Tại
sao tôi đề nghị ăn chất bột hay trái cây? V́ những nguyên do sau đây:
- Ăn dầu mỡ, thịt cá làm "nặng bụng" khó tập thể dục, nhất là những
người bệnh có triệu chứng khó tiêu (gastroparesis).
- Ở những người bệnh tiểu đường có đường trong máu cao lâu ngày, tế
bào bê-ta của lá miá (pancreas) mất cảm ứng với đường trong máu lên
cao. Chúng không tiết ra insulin như người b́nh thường. Nhưng các tế
bào bê-ta c̣n cảm ứng khi người bệnh ăn dầu mỡ và thịt cá. Khi insulin
trong máu gia tăng làm người đang tập thể dục có đường trong máu xuống
quá thấp và làm xây xẫm hay ngất xỉu.
Cho người bệnh tiểu đường: T
ránh
chích insulin hoặc uống thuốc trị tiểu đường trong ṿng 1 giờ trước khi
tập thể dục. Khi tập xong, nếu cảm thấy đói nên ăn trước khi chích insulin
hay uống thuốc làm giảm đường. Và cũng nên giảm lượng insulin nếu đường
trong máu xuống thấp. Sau đó, liên lạc với bác sĩ của ḿnh để điều chỉnh
lại số lượng insulin hay thuốc giảm đường trong máu.
- Nếu tập thể dục vào buổi trưa hay chiều, nên giảm lượng insulin
chích vào buổi chiều và ăn nhẹ trước khi đi ngủ. Nếu thay đổi giờ tập
thể dục nên tham khảo bác sĩ của ḿnh trước để tránh những vấn đề vừa
nói trên.
Những người bệnh tiểu đường có biến chứng ở thận và vơng mạc (retina)
Những người có bệnh tiểu đường loại 2 thường có những biến chứng:
- Ở vơng mạc (retina) của mắt: nếu không giữ đường trong máu ở mức
b́nh thường lâu ngày, những mạch máu nhỏ trong đáy mắt (retina) sẽ ph́nh
ra từng khúc như xâu chuổi (beading hay microaneurysm).
- Ở thận: nếu không điều trị đúng mức, thận thải ra chất đạm. Thận
thải ra chất đạm ít gọi là microalbuminuria. Và thận thải ra chất đạm
nhiều gọi là proteinuria. Thêm một bước nữa, thận sẽ bị suy hoặc hư hoại.
Những người có biến chứng này không nên cử tạ nặng, đô vật (wrestling),
arm wrestling (kéo tay)… Những thể dục quá tích cực (strenous exercises)
làm tăng áp lực trong bụng và lồng ngực. Do đó, nó làm tăng áp huyết
trong mạch máu. Áp huyết tăng cao, làm vỡ những mạch lưu nhỏ (microaneurysm)
trong mắt và thận. Kết quả làm cho người bệnh có thể mù hay hư thận.
Những người bệnh có triệu chứng về tim:
-
- Đau ngực đi đôi với khó thở (chest pain and short of
breath)
-
- Điện tâm đồ (EKG) cho thấy có triệu chứng bất thường
hoặc thiếu máu cơ tim.
-
- Mạch máu ngoại biên của chân tay hoặc cổ (carotid
arteries) bị nghẻn hoặc tắt.
-
- Những người trước đây không hoạt động nhiều (không thể
dục hoặc ngồi coi TV nhiều) và trên 35 tuổi muốn tập thể dục.
-
- Những người có lượng mỡ trong máu cao, huyết áp trên
140/80, hút thuốc, hoặc có nhiều chất đạm (albumin) trong nước tiểu.
Nếu bạn có những triệu chứng trên, phải đ̣i bác sĩ khám
tim kỷ càng trước khi tập thể dục. Có nghiả phải làm stress test trước
khi chương tŕnh thể thao bắt đầu.
Thỉnh Thoảng Tôi Có Tập Thể Dục Nhưng Tôi Không Biết Tập Như Thế Nào ?
Có nhiều phương pháp tập thể dục khác nhau tùy từng người bệnh. Không
nhất thiết cách nào đúng hoặc cách nào sai. Đúng hay sai là ở sức khỏe mỗi
người. Phải tham khảo với
bác sĩ gia đ́nh trước dù là phương pháp của tôi đưa ra.
Đi bộ (walking) là loại thể dục tốt nhất. V́ nó vận động nhiều bắp thịt
trong cơ thể. Để bảo vệ đôi chân, người bệnh phải có một đôi dày tốt. Tốt
ở đây không có nghĩa là giày đẹp và mắc tiền. Tốt ở đây là giày có đế êm
(comfortable soles), vừa vặn với đôi chân (fit well). Ở những người có tật
ở bàn chân và cổ chân (rolling feet, high arch feet…), giày phải sửa chữa
được những tật này khi bệnh nhân đi. Thường những loại giày phù hợp với
những đặc điểm vừa kể là những giày dùng để chạy (running shoes). Giày để
tập thể dục và chơi thể thao chia ra làm nhiều loại:
- Giày để đi bộ (walking shoes) có chất lượng thấp nhất và rẻ nhất.
- Giày để tập thể dục (cross training shoes): có chất lượng khá hơn
dày đi bộ. Nếu ai đi bộ 30 phút mỗi ngày và có đôi chân b́nh thường, có
thể dùng loại dày này.
- Giày để chơi tennis (tennis shoes): nhẹ và đế giày trơn hơn các loại
trên. Chỉ dùng để chơi tennis, không phù hợp để đi bộ nhiều.
- Giày để chơi bóng bàn (table tennis shoes): giày rất nhẹ và dễ trơn
trợt, cho nên người chơi bóng bàn di chuyển nhanh lẹ khi chơi. Không phù
hợp cho người dùng để đi bộ nhiều.
- Giày để đá banh (soccer shoes): nhẹ nhưng cứng và có chất lượng cao.
Nó có gai nhọn dưới đế giày để bám mặt đất dễ dàng khi chạy trên sân cỏ.
Loại này rất đắt tiền và không thích hợp cho đi bộ.
- Giày để chơi bóng rổ (basketball shoes): mắc tiền, đế giày rất êm,
cổ giày cao dùng để bảo vệ bàn chân và cổ chân (feet and ankles) khi ta
chạy nhảy (run and jump). Loại giày này thích hợp cho chạy và nhảy nhưng
không thích hợp cho đi bộ nhiều hoặc chạy nhiều.
- Giày để chạy (running shoes): loại này dùng để chạy nhưng cũng rất
thích hợp cho đi bộ nhiều. Rất đắc tiền nhưng có giá trị cao cho người
bị bệnh tiểu đường. Đế giày rất êm. Có nhiều loại khác nhau cho từng mỗi
loại chân khác nhau. Ta nên hỏi ư kiến chuyên viên về giày. Ở Canada, có
một công ty bán lẻ tên là "The Running Room" có khắp các thành phố lớn
của Canada. Họ là những chuyên viên về giày để chạy. Họ hướng dẩn tường
tận và có làm những giày cho những người không t́m ra loại nào vừa chân
của ḿnh. Theo ư kiến của tôi, dùng loại dày này để đi bộ sẽ ít bị
thương tổn chân của người đi bộ.
Sở dỉ tôi phân tích các loại giày để mọi người chọn đúng loại cho ḿnh
và sẽ không bị thương tổn đến đôi chân của ḿnh.
Những người bắt đầu tập thể dục, đi bộ trên những đường bằng phẳng,
không lên dốc và xuống dốc. Đi bộ với vận tốc mà người bệnh không bị mệt
nhanh hay khó thở, nhịp tim không nên nhanh hơn 100 nhịp trong 1 phút.
Thỉnh thoảng ngừng lại và đếm nhịp tim ở cổ hay cổ tay. Nếu nhịp tim nhanh
hơn 100 nhịp/phút, người bệnh phải ngừng lại và nghỉ một lúc cho đến khi
họ cảm thấy khỏe trở lại và nhịp tim trở lại b́nh thường (60-80 nhịp/phút).
Nếu có khả năng, người bệnh tập ở nơi tập thể dục (gym) hay mua một cái
máy đi bộ (treadmill) vừa túi tiền thôi. Khi đi bộ trên máy, người bệnh
chọn tốc độ 1-3 miles/hr (1,6-5 cây số/giờ) và độ dốc là 0% (không có dốc)
tùy theo sức khỏe của mỗi người.
Khởi đầu, người bệnh đi khoảng 15 phút rồi nghỉ. Khi ta thấy khỏe trở
lại, đi thêm 15 phút nữa. Cho đến khi đủ 1 giờ mỗi ngày. Sau mỗi 2-3 tuần,
người bệnh có thể tăng lên 5 phút cho mỗi lần đi bộ nếu người bệnh thấy
khỏe (có nghĩa là 20-25-30 phút…) cho đến khi người bệnh có thể đi một lúc
1 giờ không nghỉ. Tốc độ đi bộ không nên tăng nhanh. Người bệnh có thể
tăng tốc độ khi nào đi 1 giờ mà không có đổ mồ hôi hay mệt. Nếu người bệnh
muốn tập nhiều hơn nữa, phải tham khảo với bác sĩ của họ. Trước và sau khi
đi bộ nên uống 1 ly nước lả. Những người bệnh với biến chứng khi tập thể
dục, nên tập với người bạn hoặc vợ hay chồng. Tập chung với những người
biết ḿnh bị bệnh và biết cách giúp người bệnh khi họ bị những phản ứng
bất ngờ.
Những người b́nh thường:
Những người thuộc nhóm này, khởi đầu tập thể dục như tôi vừa nói trên.
Họ có thể tăng thời gian tập nhanh hơn. Nhiều người thiếu hoạt động lâu
ngày, nên việc tập thể dục nên khởi đầu tập ít và tăng dần theo sức khỏe
của ḿnh. Nếu tập gấp rút sẽ bị đau bắp thịt và đau khớp xương. Uống nước
trước và sau khi tập rất là quan trọng. Đổ mồ hôi càng nhiều càng uống
nước nhiều hơn. Ở người 60 tuổi, uống khoảng 1/2 – 1 lít nước trước và sau
khi tập rất quan trọng. V́ người lớn tuổi phản xạ khát nước không c̣n bén
nhạy nữa.
Nếu người bệnh có khả năng mua một máy đi bộ (treadmill) hay tập tại
các trung tâm thể dục là tốt nhất. Theo kinh nghiệm của tôi, người bệnh
thường lơ là việc tập thể dục vào mùa mưa băo hay mùa đông ở Canada. Thời
tiết giới hạn việc đi bộ bên ngoài, người bệnh phát triển bệnh lười và
ngưng tập. Theo tôi, thời tiết là một trong những nguyên nhân của môi
trường (environment) gây ra bệnh lười biếng. Cho nên, máy đi bộ hay trung
tâm tập thể dục là phương pháp chữa trị nguyên nhân này.
Khởi đầu, chúng ta đi bộ 15 phút rồi nghỉ. Sau đó đi thêm 15 phút nữa.
Chúng ta làm 4 lần (1 giờ). Sở dĩ, tôi đề nghị 15 phút là v́ theo những
cuộc khảo cứu nhận thấy rằng trung b́nh tập thể dục nhẹ (light excercises),
tích cực hơn (moderate excercises), hay rất tích cực (strenous excercises)
hơn 10 phút th́ bắp thịt của ta mới bắt đầu gia tăng sự hấp thụ đường
(glucose uptake) vào trong bắp thịt nhiều hơn b́nh thường.
Sau 1-2 tuần, chúng ta tăng thời gian tập lên 20 phút cho mỗi lần đi bộ.
Đi 3 lần mỗi ngày (1 giờ). Tăng dần lên đến 25, 30 phút… cho đến 1 giờ cho
mỗi lần tập.
Nếu chúng ta cảm thấy thoải mái, chúng ta có thể đi nhanh hơn 6-8 cây
số/giờ (4-5 miles/hour). Hoặc tăng độ dốc lên 3%, 4%, 5%... cho đến 10%.
Chúng ta đi đường bằng phẳng 3-5 phút, rồi đi lên dốc 3-5 phút (tùy theo
khả năng của mỗi người). Chúng ta có thể đi theo cách này đến 1 giờ. Điều
quan trọng là giảm tốc độ hay độ dốc nếu ta cảm thấy mệt hay thở nhanh,
nhịp tim nhanh quá. Nếu bị khó thở hay chóng mặt (short of breath or
dizziness), chúng ta phải ngừng tập ngay. Nếu trong 15 phút mà không thấy
khỏe trở lại, ta phải đi gặp bác sĩ ngay.
Sau 3-5 ngày tập luyện, ta có thể nghỉ tập 1 ngày. Nhưng không nên nghỉ
lâu hơn 2 ngày, v́ biến dưỡng của ta sẽ trở lại như lúc chưa tập và sinh
ra lười biếng.
Nếu tập xong ta cảm thấy thoải mái và khỏe hơn mới tốt. Nếu bị mệt mỏi
sau khi tập, ta phải bớt thời gian tập và gặp bác sĩ để hỏi ư kiến.
Ở lứa tuổi trên 60 tuổi, mỗi ngày nên đi bộ khoảng 1 giờ. Nếu đi nhiều
hơn nữa nên bàn với bác sĩ của ḿnh.
Ở lứa tuổi dưới 60 tuổi, có thể tập thêm tạ (weight lifting). Tập thể
dục để giữ ǵn sức khỏe và không nên tập nặng quá. Có nghĩa là ta có thể
làm những động tác 15-20 cái (repetitions), và có thể làm 2-3 lần cho mỗi
động tác mà không cảm thấy mệt, khó thở hay chóng mặt (malaise, short of
breath, or dizziness). Nhất là không nên tập quá nhiều làm các bắp thịt bị
đau. Những người trên 60 tuổi cũng có thể tập tạ nhưng tập thật nhẹ và
theo những nguyên tắc an toàn khi tập. Để tránh những thương tích khi tập,
ta nên đến những trung tâm thể dục (gym) hoặc có huấn luyện viên (trainer)
hoặc tập với những người có nhiều kinh nghiệm luyện tập đúng cách.
Nếu chúng ta thêm phần tập tạ vào chương tŕnh thể dục, chúng ta có thể
chia thời gian ra như sau:
5-10 phút đầu: vận động chân tay (stretching) cho nóng người (warm-up)
30 phút kế tiếp: đi bộ hoặc đi trên máy đi bộ (treadmill)
30 phút tiếp theo: tập tạ. chúng ta không tập toàn thân mỗi ngày. Ta
chia làm 2 phần:
1/ tập tay, ngực, và lưng trên (arm, chest, and upper back)
2/ tập bụng, thắt lưng và chân (abdomen, lower back, and legs). Mỗi
ngày tập 1 phần.
15 phút chót: đi bộ hay trên máy đi bộ chậm để máu huyết lưu thông b́nh
thường trở lại (cool down period)
Khi tập thể dục, chúng ta không nên gấp rút. Khởi đầu nên tập thật ít
và sau đó tăng dần lên để tránh thương tích và để cơ thể ta có thời gian
phát triển sức mạnh (stamina and force).
N
goài đi bộ và tập tạ,
c̣n có những bộ môn khác nữa như đi xe đạp (bicycling), bơi lội
(swimming), bóng bàn (table tennis), vủ cầu (badminton)… Chúng ta làm
theo khả năng, tuổi tác, và sức khỏe hiện tại. Đừng hồi tưởng lại khả
năng của ta lúc c̣n xuân sắc mà làm theo! Nên hỏi bác sĩ và huấn luyện
viên để tránh tổn thương. Khi tập luyện, chúng ta thường xuyên bắt nhịp
mạch ở cổ tay hay động mạch cổ . Chúng ta không nên tập quá nhiều làm
nhịp tim của ta tăng lên quá khả năng tối đa của ta. Chúng ta ngưng tập
hay đi bộ thật chậm giúp máu lưu thông điều ḥa và hơi thở điều ḥa khi
nhịp tim đă đạt đến mức tối đa. Ở mỗi lứa tuổi, nhịp tim tối đa khác
nhau được tính bằng công thức sau đây:
Nhịp tim tối đa của tuổi người tập = 220- số tuổi của người tập thể
dục
(Age-predicted maximal heart rate) ( Age)
Ví dụ một người 65 tuổi, nhịp tim tối đa trong lúc tập:
Vậy nhịp tim tối đa = 220-65 = 155 nhịp/phút
N
ếu
chúng ta không có phương tiện làm thử nghiệm khả năng của tim (treadmill
exercise test), chúng ta có thể ước tính khả năng của tim người tập thể
dục (maximal heart rate reserve=MHRR) bằng công thức sau đây:
Khả năng tim của người tập = Nhịp tim tối đa của người tập - Nhịp tim
người tập lúc nghỉ
(MHRR) (Age-predicted maximal heart rate) (Resting heart rate)
Nếu nhịp tim lúc nghỉ của
người tập là 80 nhịp/phút
Khả năng tối đa của người tập=(220-65)-80=75.
Chúng ta chỉ tập tới 60-70%
của số này.
Như vậy, 60-70% của khả năng
tối đa của tim người tập:
(60-70% x 75) + 80= 125-133
nhịp/ phút
Nhịp tim trong lúc tập=[(220-65
tuổi)-80] x 60%
hoặc 70% + 80 = 125 – 133
nhịp/phút
Ngoài ra, chúng ta c̣n có thể tập những loại thể dục khác nhau để
thay đổi hay dành cho những người có vấn đề ở chân như thấp khớp
(arthritis các loại), đau chân khi đi bộ (claudication) hoặc tê chân
(neuropathy)… như tôi đă đề cập ở phần người bị tiểu đường với biến
chứng. Bơi lội, thái cực quyền (Tai-chi), tập phần tay…
Tóm lại ăn uống đúng cách và tập thể dục đúng cách hay hoạt động
nhiều giúp ta sống lâu và sống khỏe. Có ai với đầu óc minh mẩn mà không
thích như vậy?
Sau đây là bảng hướng dẫn về sự tiêu hao năng lượng trong lúc hoạt
động:
Những hoạt động Số năng lượng tiêu thụ trong 1 phút - trong 1 giờ
Làm việc nhà nhẹ 2-2 ½
Calories 120-150 Calories
Đánh bóng bàn ghế
Lau chùi, giặt giủ nhẹ
Đánh golf với xe tự động 2 ½
-4 150-240
Đi bộ 3 cây số/giờ
Lau chùi cửa sổ, sàn nhà 4-5
240-300
và hút bụi
Đánh golf với kéo xe (golf
cart)
Đạp xe đạp 10 cây số/giờ
Chơi bowling
Kỳ cọ sàn nhà 5-6 300-360
Đạp xe đạp 13 km/giờ
Đi bộ 6 km/giờ
Đánh bóng bàn, vủ cầu, và
bóng chuyền
Đánh đôi tennis
Đánh golf và mang dụng cụ
trên vai
Những calisthenic và ballet
exercises
Đi bộ nhanh, 6,5 km/giờ 6-7
360-420
Ice hay roller skating
Đạp xe đạp 16 km/giờ
Đi bộ thật nhanh, 8 km/giờ
7-8 420-480
Đạp xe đạp 18 km/giờ
Water skiing (trượt nước)
Đánh tennis đơn
Chạy lúp xúp (jogging) 8 km/giờ
8-10 480-600
Đạp xe đạp 20 km/giờ
Downhill skiing (trượt tuyết
xuống dốc)
Paddle ball
Chạy 9 km/giờ 10-11 600-660
Đạp xe đạp 21 km/giờ
Squash hay handball (practice
session)
Chạy 10 km/giờ hay nhanh hơn
11 hay nhiều hơn 660- nhiều hơn
Competitive squash hay handball
* Tiên
đoán xuống cân hay lên cân:
- Phỏng chừng
tổng số năng lượng tiêu dùng mỗi ngày (E) tính bằng Calories.
E=(25
Calories x cân nặng cơ thể tính bằng kg) + số Calories tiêu hao bằng hoạt
động
- Phỏng chừng
số năng lượng ăn vào mỗi ngày (I) tính bằng Calories.
- Phỏng chừng tổng số năng lượng khác biệt trong 1 tuần, Calories = ( I -
E ) x 7.
- Phỏng chừng
tổng số năng lượng khác biệt trong 1 tuần tính theo cân Anh:
Cân nặng thay đổi = (I-E) x 7 ( Calories)
3400
Ví dụ
ăn vào 2,000 Calories/ngày, hoạt động mất 1,500 Calories mỗi ngày. Như vậy
trong 1 tuần dư được 2,000 - 1,500 = 500 x 7 = 3,500 Calories. Chúng ta sẽ
lên khoảng hơn 3500: 3400 = > 1 cân Anh
* Some parts of this article are quoted directly from the references.
REFERENCES:
Canada's Food Guide to
Healthy Eating of Health & Welfare of Canada
Manual Nutritional
Therapeutics - David H. Alpers M.D., Ray E. Clouse M.D., William F.
Stenson M.D.
Harrison's Principles of
Internal Medicine
Cecil's Textbook of
Internal Medicine
Guyton's Textbook of
Medical Physiology
Compendium of
Pharmaceuticals and Specialties 1993
How to Eat Well, Vi Liet Nguyen, M.D. 1994
Cách trị bệnh tiểu đường bằng phương pháp thể dục, Bác Sĩ Nguyễn Vĩ Liệt
2004
Bác Sĩ Nguyễn Vĩ Liệt