Năm
nay, đúng vào lúc 12 giờ khuya ngày 31 tháng 12 , thiên hạ khắp nơi đều
nghe tiếng chuông nhà thờ đổ liên hồi, báo hiệu một năm cũ vừa qua và một
năm mới cũng vừa đến.
Hầu hết ai cũng đều cảm thấy giây
phút này có vẻ linh thiêng huyền bí, nên thường cầu nguyện và chúc tụng
nhau, mong năm mới sẽ đem lại nhiều diều may mắn.
Tuy
nhiên, nhiều người không khỏi thắc mắc; tại sao có năm đêm giao thừa rơi
vào đúng ngày 29/12, có năm lại rơi vào ngày 30/12, và năm nay lại là ngày
31/12 ?? Tất cả đều trả lời đơn giản là theo lịch. Lịch ghi sao th́ ta cứ
theo đúng như vậy. Nhưng lịch là ǵ và do những ai đă làm ra, khai sinh từ
thời nào ..?? th́ ít có ai quan tâm đến.
Hôm nay, nhân dịp Xuân về, có một
chút th́ giờ rănh rỗi, mời các đồng hương Ninh-Ḥa cùng nhau tham khảo
chút tài liệu người viết vừa gom góp được.
XUẤT XỨ CỦA NIÊN LỊCH
Như
chúng ta đều biết, hiện nay trên thế giới có nhiều loại niên lịch lưu hành,
như dương lịch của phương tây, âm lịch của Á châu, lịch của ngựi Do Thái
và người Ai Cập..Tuy nhiên chỉ có dương lịch của người Tây phương là thông
dụng hơn cả. Dương lịch, th́ tính từ năm chúa Ki-Tô giáng sinh, do chữ La
Tinh "Anno Domini" viết tắt là "A.D". Để phân biệt thời kỳ tiền giáng sinh,
người ta thường viết tắt "B.C"(before Christ), c̣n người Do Thái th́ viết
là "B.C.E" ( có nghĩa: trước kỷ nguyên cộng đồng), bởi người Do Thái chỉ
tin tưởng nơi Kinh Cựu Ước và không chấp nhận Chúa Ki-Tô là đấng cứu thế
của họ. Vào thời cổ La Mă, chữ " Calend" là ngày của đầu một tháng. Và từ
đó nảy sinh ra chữ "CALENDER" có nghĩa là NiÊN LỊCH.
MỘT NĂM CÓ BAO NHIÊU NGÀY ?
Ngưới
ta thường nói một năm có 365 ngày. Nhưng thực ra không hoàn toàn chính xác
như vậy. Người ta thường căn cứ theo chu kỳ của trái đất xoay ṿng quanh
mặt trời để tính thời gian của một năm. Cách tính này gọi là " Thiên Thể
Niên Lịch", gồm có 365 ngày, 6 giờ đồng hồ, 9 phút và 54 giây. Chữ "Thiên
Thể" dùng ở đây c̣n để diễn tả sự liên hệ giữa niên lịch và sự vận hành
của các v́ tinh tú.
Một cách tính niên lịch khác, gọi
là Hồi Quy Niên Lịch hay Thái Dương Niên Lịch, th́ căn cứ vào sự vận
chuyển định kỳ của mùa màng. Lịch này gồm 365 ngày, 5 giờ, 48 phút và 46
giây. Lịch này ngắn hơn Thiên thể Niên lịch đến 20 phút và 23 giây rưởi
Cách tính niên lịch thứ ba, căn cứ vào sự vận hành của mặt trăng, gọi
là ÂM LỊCH, gồm vỏn vẹn 12 tuần trăng. Rất đơn giản.
Hiện
nay niên lịch thông dụng khắp thế giới đều căn cứ trên cách tính của Thiên
Thể Niên Lịch. Bởi thế số ngày không hoàn toàn nhất định. V́ cứ mỗi 365
ngày lại có dư ra ¼ ngày, hay 6 giờ đồng hồ. Để giải quyết số giờ thặng dư
đó. Cứ mỗi 4 năm người ta lại thêm một ngày nhuần (leap-day) vào cuối
tháng 2 trong những năm nhuần (leap-year), ngày 29 tháng 2 d.l.
NGUYÊN LAI CỦA DƯƠNG LỊCH HIỆN HÀNH
Như trên đă nói, Dương Lịch thoát
thai từ cách tính của Thiên Thể Niên Lịch, một loại niên lịch đă được dùng
từ thời cổ Ai Cập. Sau đó hoàng đế Julius Cesar đă dựa theo đó mà làm ra
lịch mới mang tên của ông, nên gọi là JULIAN (Julian calender). Khi làm
lịch này, người ta được biết c̣n có sự hợp tác của thiên văn gia Hy Lạp và
nhà toán học Sosigenes ở Alexandria, Ai Cập. Theo nhận định của các nhà
thiên văn học, th́ dường như Julius Cesar đă căn cứ vào một ngày ngắn nhất
trong năm, tức ngày 22 tháng chạp, ngày đông chí, để khởi sự cho một niên
lịch. Nhưng ngài đă triển hoăn ngày đầu tiên của một năm mới đến mấy ngày
sau, nhằm đúng thời kỳ trăng mọc. Bởi phong tục, thói quen và ḷng mê tín
của quần chúng lúc bấy giờ (Ngày trăng mọc đầu tiên kế mùa đông chí rơi
vào đúng ngày mồng một tháng giêng). Như thế, ta có thể nói lịch Julian đă
khởi sự từ ngày 1 tháng 1 năm 45 trước Thiên Chúa. Bởi v́ lịch Julian đă
không đặt trọng tâm vào những thời khắc thặng dư, nên chỉ vài thế kỷ sau,
lịch này đă không c̣n thích nghi và phù hợp với sự vận hành của thiên
nhiên và mùa màng. Do đó , đến năm 1582, đức Giáo hoàng Gregory đệ thập
tam đă phải điều chỉnh và hoàn thiện lại một lần nữa. Lịch này gọi là lịch
GREGORIAN, đă lưu dụng đến tận ngày nay.
Sự sai lầm chồng chất về ngày giờ
kể từ khi Julius Cesar làm lịch cho đến ngày đức Giáo hoàng Gregory đệ
thập tam công bố lịch cải tiến, nhằm ngày 4 tháng 10 năm 1582, gồm cả thảy
là 10 ngày. V́ lư do đó, nên ngày ấy đă được kể là ngày 15 tháng 10 năm
1582. Tuy nhiên lịch này vẫn không được nước Anh và các quốc gia thuộc địa
thừa nhận, măi cho đến năm 1752, tức ngót hai thế kỷ sau.
Bây
giờ hàng năm, cứ đến ngày cuối tháng 12, như ngày 29, 30, hay 31 chúng ta
long trọng cử hành lễ giao thừa, đón mừng năm mới, tưởng chúng ta cũng nên
tưởng niệm giây lát đến những vĩ nhân tiền bối như hoàng đế Juluis Cesar,
nhà thông thái Ai Cập Sosigenes và đức Giáo hoàng Gregory đệ thập tam.
Những người đă có công san định niên lịch để cho chúng ta ngày nay có dịp
nói lời chúc tụng " CHÚC MỪNG NĂM MỚI" , "HAPPY NEW YEAR", "BONNE ANNÉ"
hay "GODT NYTT AAR".
TỪ ĐÂU VÀ TRÊN CĂN BẢN NÀO NGƯỜI TA ĐĂ TÍNH RA THÁNG ?
Chữ tháng người Anh gọi là MONTH,
xuất xứ từ chữ MOON là mặt trăng, chữ Tàu và Hán Việt gọi là NGUYỆT, cũng
có nghĩa là trăng. V́ tháng có nghĩa là chu kỳ vận hành của mặt trăng
chung quanh trái đất.
Có ba
cách tính tháng. cách thứ nhất căn cứ trên các định tinh như các tiêu điểm.
Như thế một tháng chỉ có 27 ngày, 7 giờ và 44 phút. Cách thứ nh́ , tính
giờ trung b́nh giữa khoảng thời gian trăng tṛn và trăng mới. Như vậy mỗi
tháng có 29 ngày, 12 giờ và 44 phút. Cách thứ ba, dựa theo phương pháp Hồi
Quy Niên Lịch, nên một tháng có tới 30 ngày, 10 giờ, 29 phút và 3,8 giây.
Nh́n
vào ba cách tính trên đây, chúng ta thấy khá phức tạp và hỗn độn. Bởi vậy
lịch Gregorian hiện hành đă không theo các cách tính kể trên. Lịch này chủ
trương chia một năm ra làm 12 tháng cho gọn gàng và giản dị, nhưng lại
không phù hợp với sự vận hành của mặt trăng. Bởi thế để điều chỉnh cho
thích nghi, người ta đă phải chia ra mỗi năm: 7 tháng có 31 ngày, 4 tháng
có 30 ngày và 1 tháng thiếu chỉ có 28 hay 29 ngày thôi. Theo người La Mă
cổ, th́ con số lẽ là con số may mắn, nên người ta đă cắt tháng 2 mỗi năm
làm tháng ngắn nhất (theo cổ lịch, tháng 2 là tháng 12, thường chỉ có 28
ngày mà thôi)
TÊN MỖI THÁNG CÓ NGHĨA G̀?
Người
Việt nam thường gọi 12 tháng trong năm bằng số, duy chỉ có tháng đầu và
tháng cuối năm th́ được gọi là tháng GIÊNG và tháng CHẠP. Riêng người Tây
phương th́ đặt tên cho mỗi tháng như sau:
JANUARY: có nghĩa là cánh cửa.
Theo thần thoại La Mă th́ đó là cánh cửa Janus của Thượng Đế, minh họa hai
bộ mặt nh́n nhau.
FEBRUARY: có nghĩa là tẩy uế,
tháng mà người phụ nữ La Mă hy sinh cho Jono Februa.
MARSH: tên của vị thần chiến
tranh.
APRIL: Phát sinh từ chữ TO
OPEN, có nghĩa là mở ra. Là tháng của muôn hoa khai nở,. Có thể c̣n phát
xuất từ chuyện nữ thần Aphrodite.
MAY: Xuất xứ từ chuyện thần
Jupiter
JUNE: Phát xuất từ chuyện thần
thoại lừng danh của La Mă: gia đ́nh Junius.
JULY: Theo sự tích và tên của
hoàng đế Julius Cesar.
AUGUST: Tên của danh tướng
August Cesar.
SEPTEMBER: nguyên thủy là tên
tháng 7, do chữ Seventh (cổ lịch)
OCTOBER: nguyên thủy là tên
tháng 9, do chữ Eigth (cổ lịch)
NOVEMBER: nguyên thủy là tên
tháng 9, do chữ Ninth (cổ lịch)
DECEMBER: Nguyên thủy là tên
tháng 10, cổ lịch.
Điều
đặc biệt là các nước Âu châu dều gọi tên các tháng gần như nhau: thí dụ ở
Pháp gọi tháng 1 là Janvier, th́ ở các nước Bắc Âu gọi là Januar. Chỉ có
các tên tháng trong thánh kinh th́ viết khác với tên tháng trong niên lịch
hiên hành. Ví dụ: tháng 1, trong thánh kinh là ABIB, có nghĩa là bông lúa
xanh. ABIB được biết dưới danh hiệu Nisan, từ chữ Akkadan, có nghĩa là:
bắt đầu mở ra. Tháng 7 có tên là TISHRI hay TISRI, chữ của người
Babylonian.
TUẦN LỄ LÀ G̀ ?
Không có tài liệu nào chứng minh rơ ràng sự liên hệ trực tiếp của Đấng
Cứu Thế trong việc thiết lập chu kỳ tuần lễ. Trong thánh kinh người ta
thấy ghi ngày trong một tuần lễ theo số thứ tự. Ngày thứ bảy là ngày lễ
SABBATH, ngày thứ sáu gọi là ngày "Sửa soạn chuẩn bị"
Người
Việt nam chúng ta cũng gọi những ngày trong tuần theo theo thứ tự từ: thứ
hai, thứ ba..., nhưng ngày đầu tuần chúng ta không gọi là ngày thứ nhất mà
gọi là Chúa Nhật (có người gọi là Chủ Nhật). Dường như người Mỹ cũng giống
chúng ta, họ làm lịch bằng cách khởi đầu một tuần lễ là ngày Chúa Nhật.
Trong khi đó lịch của người Tây Aâu làm ra, lại sắp ngày thứ hai lên hàng
đầu tuần và ngày chúa nhật là ngày cuối của một tuần..
Riêng
đối với những nhà tu hành, tín ngưỡng, họ luôn xem ngày chúa nhật là ngày
đầu tuần. Người Do Thái luôn kể ngày thứ bảy là ngày lễ Sabbath của họ.
Khác với chúng ta, người tây phương gọi tên 7 ngày trong tuần bằng một cái
tên, chứ không bằng số:
SUNDAY: có nghĩa là ngày của
mặt trời
MONDAY: ngày của mặt trăng
TUESDAY: có nghĩa là ngày của "TIU",
tức thần chiến tranh và bầu trới, theo thần thoại của dân Nhật Nhĩ Man.
WEDNESDAY: do chữ "ngày của
WODEN", chủ tể của thần Teutonic, c̣n gọi là thần Odin.
THURSDAY: có nghĩa là " ngày
của THOR", tức thần sấm sét Norse
FRIDAY: do chữ " ngày của FRIGG"
vợ của thần Odin, tức Nữ thần Ái t́nh. C̣n được gọi là ngày của Thần Vệ Nữ
(Venus day)
SATURDAY: Có nghĩa là " ngày
của thần SATURN", đến từ hành tinh Saturn.
NGÀY LÀ G̀ ?
Ngày
là thời giờ trong một chu kỳ trái đất xoay quanh quỹ đạo của nó. Theo
nguyên tắc Thiên Thể Niên Lịch, th́ một ngày gồm có 23 giờ, 56 phút,4,091
giây. Nhưng người ta tính tṛn một ngày có 24 giờ, kể từ 12 giờ khuya đêm
nay đến 12 giờ khuya đêm mai. Do đó, chúng ta nói 12 giờ khuya và một giờ
sáng.
Vào
thời cổ xưa, dân Sumerian và dân Babylonian lại kể một ngày bắt đầu từ lúc
mặt trời lặn. Ít lâu sau, dân Babylonian thay đổi quan niệm, kể thời gian
khởi sự một ngày vào giữa khuya và chia thời gian ra làm 12 giờ ban ngày
và 12 giờ ban đêm. Theo Bách khoa tự điển Encyclopedia Brittanica, th́
thời gian khởi sự một ngày chỉ là một vấn đề thuần túy thích nghi với
thiên nhiên, gồm đủ mọi phương diện thiên văn, địa lư. Công việc này do
nhà toán học, kiêm địa lư và thiên văn gia Hy Lạp, Ptolemy nghiên cứu và
san định. Ptolemy đă sống ờ Alexandria vào thế kỹ thứ 2 sau Thiên Chúa.
Theo Tân Ước kinh, người La Mă đă
khởi sự một ngày của họ vào lúc giữa đêm, và Thượng Đề th́ khởi sự một
ngày vào lúc mặt trời lặn, buổi chiều ." Từ chiều chiều mai, các người sẽ
cử hành lễ Sabbath nay đến" (Leviticus 23:32). Đó là câu đă được trích
dịch nguyên văn theo Kinh Tân ước.
Tất
cả những ghi nhận hạn hẹp trên đây, do góp nhặt từ nhiều sử liệu, để các
bạn đồng hương t́m hiểu thêm căn nguyên của niên lịch mà đời sống mỗi ngày
của chúng ta đă bị chi phối và lệ thuộc rất nhiều vào sự vận hành của nó
từ bao thế kỷ nay.
Phạm Phú Hội